Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Về ba chữ còm của ông Lê Bầu (Huệ Thiên)
Về ba chữ còm của ông Lê Bầu (Huệ Thiên) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/11/2009

VỀ  “BA CHỮ CÒM CỦA ÔNG LÊ BẦU

* Huệ Thiên

Trong bài  “Ba chữ còm”  (KTNN 460, tr. 38 40), sau khi đưa ra cách hiểu biết của mình về ba chữ “sen”, “hoa” “tứ” (trong từng ngôn cảnh tương ứng), “Mấy ý kiến còm về ba chữ còm, quả thật là còn còm cõi lắm, mong sao nhận được sự chỉ vẽ của chư quân.” Chúng tôi không cho rằng đó là những ý kiến còm cõi; chỉ xin trao đổi với tác giả như sau :

1. Về chữ “sen” trong câu “Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”, tác giả cho rằng đó là “một loại cây hoa sen có cành”, “cây hoa sen thân mộc” (thì anh chàng mới bỏ quên chiếc áo trên đó được).

          Bằng chứng là ông có đọc một bài báo (không nhớ tên tác giả và tên báo) viết về hoa Đà Lạt mà lại có nhắc tới “cây hoa sen thân mộc”.

           Thêm nữa, trong thị trấn Phù Dung ( Trung Quốc), tác giả Cổ Hoa cho biết: “Sen ở vùng Hồ Nam này người ta gọi là thủy phù dung để đi đôi với cây mộc Phù Dung (cây hoa sen thân gỗ), mà người ta trồng thành hàng trên con đường dẫn xuống bến đò. Về mùa hoa nở, cây hoa sen thân mộc này cũng nở hoa và cũng giống như những bông hoa sen thân thảo mộc dưới ao hồ.”

          Chúng tôi cho rằng hai dẫn chững trên đây đã đủ  để khẳng định nơi chàng trai bỏ quên chiếc áo lại là một cành “hoa sen thân mộc”.

          Vẫn biết ông Bầu có đọc một bài báo như ông nói nhưng rất tiếc là vì ông đã quên cả tên báo lẫn tên tác giả nên ta khó có thể kiểm chứng. Và nếu tìm được bài báo đó thì vẫn phải khảo sát xem “hoa sen thân mộc” đó có phải là một cách gọi  được cộng đồng chấp nhận hay chỉ là một ẩn dụ của riêng tác giả bài báo đó.

          Rồi thì nếu quả là ở Đà Lạt có một giống sen thân mộc thì cần kiểm tra xem có thật  đó là một giống sen truyền thống, nghĩa là đã có từ xưa hay, chỉ là một giống cây cảnh mới nhập về sau này. Và ngay cả khi khẳng định được rằng cây sen thân mộc đã có ở Đà Lạt từ xưa thì lại cần kiểm tra xem có phải đó cũng đích thị là cây sen thân mộc miền Bắc hay không. Lý do rất đơn giản: trong nhiều trường ghợp, tên thì trùng nhau mà vật thì lại chẳng giống nhau chút nào. Dẫn chứng: mận trong Nam không phải là mận miền Bắc; đào miền Bắc Không phải giống đào miền Nam; nhãn lồng ngoài Bắc và nhãn lồng  trong Nam hoàn toàn khác nhau;… Vậy “cây sen thân mộc” của Đà Lạt, nếu có, cũng không nhất thiết là “cây sen thân mộc” (cũng nếu có) của miền Bắc. là nơi xuất phát của câu ca dao đang xét.

          Còn giống cây “mộc phù dung” trong tiểu thuyết của Cổ Hoa thì tiếng Hán cũng gọi tắt là phù dung  芙蓉  Tên khoa học của nó là Hibiscus mutabilis,  như đã được ghi nhận trong Từ hải cả bản đầu thế kỷ XX lẫn bản tu đính 1989). Trong tiếng Việt, nó cũng được gọi là phù dung (là tên người Việt Nam đã mượn thẳng từ tiếng Hán) và cũng có tên khoa học y hệt (Hibiscus mutabilis, như có thể thấy trong:

          Danh từ thực vật học của Văn Chuyên – Lê Khả Kế (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1957, tr.43);

          - Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức (q.hạ, khai Trí, Sài Gòn, 1970);

          - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (Nxb  KH & KT, Hà Nội, in lần thứ năm, 1986, tr.125);

- Sổ tay tra cứu danh pháp khoa học của Nguyễn Đạo Hương – Thị Thùy Trang (Nxb Trẻ, 2002, tr.66 & 246),…

          Trong tiếng Hán, nó còn có tên là mộc liên, địa liên, địa phù dung (là những cái tên mà tiếng Việt toàn dân không bao giờ mượn đến).

          Đỗ Tất Lợi còn cho biết: “Cây phù dung mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam để làm cảnh.” (Sđd, tr 125).

          Cứ như trên thì ngữ danh từ “cây hoa sen thân gỗ” mà tác giả Lê Bầu đã dùng để dịch mộc phù dung (của tiếng Hán) chỉ là siêu ngôn ngữ dùng để diễn tả cái cách gọi tên giống cây đó theo tâm thức của người Trung Hoa mà thôi. Ngữ danh từ đó chưa bao giờ trở thành một cái tên gọi thông thường trong tiếng Việt toàn dân để được nói tắt thành “hoa sen” và để hiện diện trong câu ca dao đang xét cả. Người Việt bao giờ cũng chỉ gọi cây mộc phù dung (trong tiếng Hán) là phù dung mà thôi.

          2. Về chữ “hoa” trong “động phòng hao chúc”, tác giả Lê Bầu đó là chữ  “hoa”   bộ mộc (mà ông thấy được khi dịch truyện ngắn Người bệnh của Giả Bình Ao) chứ không phải chữ hoa bộ thảo 艹 .rồi ông cho biết tiếp:

          “Tôi đi tìm tự điển (tất nhiên là từ điển Trung Quốc rồi). Quả nhiên sự cẩn thận của tôi đã được đền đáp. Từ điển cho biết cái chữ “hoa” (có kèm bộ mộc ấy) là: Cây thân mộc, thớ dễ chẻ, người ta thường chẻ ra, tẩm thêm dầu mỡ làm đuốc, đốt trong đêm những nhà có đám cưới. Vì thế mà có từ, “đuốc hoa” chữ Hán là “hoa chúc” như “động phòng hoa chúc” Vậy “hoa chúc” có nghĩa là đuốc cây gỗ hoa.

          Ông Bầu nói như thế nhưng rất tiếc là ông không hề cho người đọc biết ông đã đọc được những điều đó trong những quyển từ điển cụ thể nào. Còn chúng tôi thì lại đọc thấy những điều khác hẳn.

          Việc dùng gỗ cây hoa (bộ mộc) làm đuốc chỉ là một công dụng phụ cho nên có những quyển từ điển hoàn toàn không nhắc đến khi giảng chữ “hoa” này, chẳng hạn:

          - Hiện đại Hán ngữ từ điển của Phòng biên tập từ điển, Ban nghiên cứu nôn ngữ, Viện khoa học xã hội Trung Quốc (Thượng vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1992, tr.487);

          - Đương đại Hán ngữ từ điển của Quốc Viêm và các tác giả khác (Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2001, tr436);…

          Tuy cây hoa (bộ môc) có thể dùng làm thuốc nhưng không phải “thớ dễ chẻ, người ta thường chẻ ra, tẩm thêm dầu mỡ làm đuốc”, như Bầu đã viết. Ngược lại, gỗ của nó rắn chắc, có thể dùng trong kiến trúc, làm đồ dùng gia đình, làm thùng xe, làm trụ chống hầm lò,… như đã nói rõ trong Từ hải, bản tu đính 1989 (Thượng hải từ thư xuất bản xã, in lần thứ tư, 1997 tr.1462):

          “Mộc tài kiên ngạnh, cung kiến trúc hòa ghế gia cụ (…) không trụ (…)”.

          Còn cái bộ phận dùng để làm đuốc thì lại là vỏ của nó có nhiều lớp, dễ bóc như giấy, như đã nói rõ trong Từ hải, bản cũ ( Trung Hoa thư cục, Hongkong, 2000, tr.720):

          “Bì hữu đa tằng, dị bác ly, như chỉ.”.

          Và người ta dùng vỏ cây (bộ mộc) mà quấn sáp để làm nến, như đã nói rõ trong Cổ đại Hán ngữ từ điển của Tổ biên soạn Cổ đại Hán ngữ từ điển (Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1998,tr.622):

          “Bì khả dĩ quyển lạp vi chúc”.

          Chính loại nến quấn bằng vỏ cây hoa này mới đúng là hoa chúc” với chữ “hoa” bộ “mộc”.

          Còn “hoa” trong động phòng hoa chúc  thì lại hoàn toàn khác vì đây là chữ “hoa” bộ “thảo” như đã được ghi nhận từ xưa đến nay trong tất cả các quyển từ điển: Hiện đại Hán ngữ từ điển (đã dẫn, tr.481); Đương đại Hán ngữ từ điển (đã dẫn, tr.1470); Cổ đại Hán ngữ từ điển (đã dẫn, tr.616), Từ hải, bản cũ (dã dẫn. tr.1126); Từ hải, bản tu đính 1989 (đã dẫn, tr.634);…Hoa chúc với chữ “hoa” bộ “thảo” là nến có trang trí hoa văn hình rồng – phượng dùng trong đám cưới, như vẫn còn thấy trong các  lễ cưới đầu thế kỷ XXI tại Việt Nam do ảnh hưởng của người Hoa.

          Nhiều quyển từ điển cỡ lớn như Từ nguyên, Từ hải, …, đều có phân biệt hai từ tổ danh từ hoa chúc với chữ “hoa” bộ “mộc” tạm gọi là “hoa chúc”)  hoa chúc với chữ  “hoa” bộ “thảo” tạm gọi là hoa chúc2).  Từ hải, bản tu đính 1989 (đã dẫn) chẳng hạn đã cho như sau:

          “hoa chúc1. Dụng hoa bì quyển lạp nhi thành đích chúc” (tr.1462), nghĩa là “nến (đuốc) dùng vỏ cây hoa phấn sáp mà làm ra”.

          “Hoa chúc2. Họa hữu long phụng đẳng thái sức đích đại hồng sắc lạp chúc, cựu thời đa dung vu hôn lễ trung” (tr.634), nghĩa là “nến to màu đỏ trang trí hình rồng phượng,… nhiều màu, thời xưa thường dùng trong lễ cưới”.

          Cứ như trên thì hoa chúc1 hoa chúc 2 chỉ là những từ tổ đồng âm chứ hoa chúc1 chẳng có liên quan gì đến lễ cưới cả. còn chữ “hoa” bộ  “thảo”, có nghĩa gốc là “bông hoa” rồi nghĩa phái sinh là “hình vẽ để trang trí” như có thể thấy trong thành ngữ đang xét.

          3. Về chữ “tứ” trong câu “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”,  tác giả Lê Bầu đã hiểu như sau:

          “Tứ  ở đây là tên một loài ngựa, một loài ngựa hay, như ngựa Ký, ngựa Kỳ, ngựa Hồ,… Có hiểu như thế, câu nói mà nhiều người thường hiểu sai này mới có cái nghĩa đúng của nó, tức là: Một lời nói ra, thì hay như ngựa Tứ cũng không đuổi kịp!”

          Với chữ “Tứ”, tác giả cũng có mấy cái sai.

          Trước nhất, nếu   kỳ    là tên của hai giống ngựa giỏi thì Hồ lại chẳng phải là tên của một giống ngựa nào cả. Đó là tên mà người Trung Hoa thời xưa dùng để chỉ các dân tộc thiểu số ở phía Bắc và phía Tây địa bàn sinh tụ của người Hán (xưa người ta vẫn thường nói “rợ Hồ”) rồi sau đó cũng dùng chỉ các sản vật đến từ phía Bắc hoặc phía Tây như hồ cầm, hồ đào, hồ tiêu,… (mà chữ “h”, xét về nguồn gốc lẽ ra cũng phải viết hoa như trong ngựa Hồ). Câu

          Hồ mã tê Bắc phong

          (ngựa Hồ hí gió Bắc)

Cũng góp phần phản ánh nguồn gốc đó. Vậy chỉ có hai chữ ký, kỳ mới là tên của hai giống ngựa giỏi chứ Hồ thì không.

          Tứ cũng không nên là tên của một giống ngựa hay như ông Bầu đã khẳng định. Tất cả các quyển từ điển đã nêu ở trên cũng như nhiều quyển từ điển khác nữa đều giảng chữ Tứ theo hai nghĩa sau đây: 1. Xe do bốn con ngựa kéo; 2. bốn con ngựa kéo xe bốn ngựa (cũng là cùng kéo một cỗ xe). Sau đây là dẫn chứng về nghĩa 2 trong một số quyển từ điển:

          - Hiện đại Hán ngữ từ điển (đã dẫn), tr.1090: “đông lạp nhất lưỡng xa đích tứ thất mã” (bốn con ngựa cùng kéo một cỗ xe);

          - Đương đại Hán ngữ từ điển (đã dẫn), tr.725: cũng giống hệt như ở quyển trên;

          - Cổ đại Hán ngữ từ điển (đã dẫn), tr. 1483: “đông giá nhất lưỡng xa đích tứ thất mã” (bốn con ngựa cùng thắng vào một cỗ xe);

          Từ hải, bản tu đính 1989, tr. 1285: “Nhất xa sở giá chi tứ mã” (bốn con ngựa thắng vào một cỗ xe);…

          Ông Bầu có nhắc đến câu chuyện đối đáp giữa Hòa Thân và Lưu Dung trong tác phẩm Tể tướng lưu gù chung quanh cái chữ “tứ” này. Hòa Thân cho rằng chữ tứ đây có liên quan đến con “số 4” còn Lưu Dung thì phủ nhận điều này.

          Thực ra thì, như đã thấy,  Tứ mã ở đây là bốn con ngựa vì xét về nguồn gốc thì tứ  trong tứ mã   tứ (= bốn) là những đồng nguyên tự như Vương  Lực đã chứng minh trong  Đồng Nguyên tự điển (Bắc Kinh, 1997, tr.475 – 6). Có điều đây không phải là bốn con ngựa bất kỳ, mà phải là bốn con ngựa cùng kéo một cỗ xe. Vậy ta có đến bốn “mã lực”, chứ không phải chỉ là một như ông Bầu đã biện luận.

          Trên đây là một số ý kiến mà chúng tôi muốn trao đổi với tác giả Bầu;  xin mạo muội trình bày như trên để bạn đọc tham khảo và để thỉnh giáo ở tác giả và các bậc thức giả.

Cập nhật ( 17/11/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online