Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Thể tài du ký và các tác gia Nam Bộ (GSTS Ngiuyễn Hữu Sơn)
Thể tài du ký và các tác gia Nam Bộ (GSTS Ngiuyễn Hữu Sơn) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/11/2009

THỂ TÀI DU CÁC TÁC GIẢ NAM BỘ TỪ NỮA CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN 1955

* GSTS  Nguyễn Hữu Sơn

Trên thực tế, thể tài du ký là một bộ phận văn học còn chưa được chú ý đúng mức. Khi nói đến “thể tài du ký” cần được hiểu nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật người viết, chứ không phải ở phía thể loại. Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác bằng thơ, phú, tụng và các bài văn xuôi theo phong cách ký,  sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, thậm chí có thể liên quan tới  nhiều phương tiện của xã hội học, dân tộc học khác nữa.

Trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp có một đoạn văn như thế này : “Đường về, vợ tôi bảo xe đi chậm. Ông bổng lần đầu mới được đi xa thích lắm. Ông bảo: “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước. Chứ ở quê ta, dù ngay Nội có văn minh thật, tôi chẳng thấy yêu gì cả”. Vợ tôi bảo: “Tại chú quen đấy. Ở nơi khác người ta cũng thế, họ lại thấy yêu Nội”. Ông bổng bảo: “Thế là nơi này yêu nơi kia. Tất cả đều đất có mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm! Hoan hô đèn cù!”… Như thế là nhu cầu hiểu biết khám phá, xê dịch, đổi thay không khí, nhu cầu ĐI và XEM chính là tâm trạng “nơi này nơi kia” – cơ sở cội nguồn của những chuyến viễn du và hình thành nên những trang du ký.

Trong văn học cổ điển dân tộc đã có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ du ngoạn, đề vịnh phong cảnh đất nước, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, bài Phú tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng, Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ, huyến đi Băc kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục Lục phân Tích Tạp chí Nam Phong, 1971 – 1934, Nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét về thể tài du ký – còn được ông gọi là du hành – trên Tạp chí Nam Phong: “Nhiều khi chúng ta cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng – Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc; từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên qua Ngũ Hành Sơn; từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này ngày càng trở nên quý hóa đối với chúng ta” (1)…

Bốn cây bút Nam Bộ tiêu biểu

Tìm lại các nguồn sách báo trước năm 1945 chúng ta thấy xuất hiện nhiều trang du ký của người bốn phương viết về Nam bộ như Một tháng ở Nam Kỳ của Phạm Quỳnh, Thăm đảo Phú Quốc của Đông Hồ, Cảnh vật Hà Tiên của Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm, Chơi Phú Quốc của Mộng Tuyết, Một ngày ở xứ chàm của Tam Lang, Hai tháng ở gò Óc Eo hay là Câu chuyện đi đào vàng của Biệt Lam Trần Huy Bá… theo chiều hướng ngược lại, nhiều cây bút Nam bộ đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng, khơi mở nền văn học chữ Quốc ngữ cũng như với thể tài du ký nói riêng; trong đó có nhiều trang ghi chép của các tác gia Nam bộ về chính vùng quê Nam bộ thân thuộc của mình và mở rộng tới nhiều miền đất, nhiều xứ sở, đất nước xa lạ khác nữa. Trong giới hạn cụ thể, chúng tôi tập trung giới thiệu những trang du ký nổi bật của bốn cây bút Nam bộ tiêu biểu: Trương Vĩnh Ký – Trương Minh Ký – Trần Chánh Chiếu – Biến Ngũ Nhy.

Tác gia xứ Bến Tre Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) là người đi nhiều, hiểu nhiều. Ông có hai tác phẩm thuộc thể tài du ký là Ghi về vương quốc Khmer (1863) và Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) được coi là những văn bản thuộc loại sớm nhất ở bộ phận văn học chữ Quốc ngữ, Nói riêng với Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (in tại nhà in Sài Gòn năm 1881), xin chỉ dẫn đoạn mở đầu và phần kết:

Năm Ất hợi (1876), bãi trường tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; nên xin với quan trên, nhơn dịp chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sắm hàm rương áo quần. Rủ thầy Quan Hớn với ông sáu Thìn nguyên một người ở tỉnh Bắc ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam Kỳ đã lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán.

Qua ngày 18 tháng Chạp đề huề xuống tàu, Sớm mai giờ thứ 9 rưỡi nhổ neo. Vợ con đi đưa, ngồi xe đi rảo trên bờ cho đến tàu quày trở rồi riu riu chạy xuống đồn Cá Trê, mới về. Xế giờ thứ hai ra cửa Cần Giờ, chỉ mũi chạy ra mũi Né (…).

… Sau hết từ giả quan quyền tây nam và kẻ quen biết hết cả, ngày thứ 7, 21 tháng 3 (le 15 avril), giờ thứ 1 xuống tàu, qua giờ thứ 3 chạy ra ngã cửa Cấm; chạy luôn qua ngày thứ hai giờ thứ 10 vô cũng Hàn bỏ neo đậu lại; trên Thủ Ngữ đem ông trạm xuống, giờ thứ nhất lấy neo chạy ra về Gia Định, giờ thứ 5 sáng ngày thứ 5 là ngày 26 tháng 3 (20 avril) vào cửa Cần Giờ. Giờ thứ 11 lên tới Sài Gòn gieo neo đậu lại. Mướn đò chở đồ và người về thẳng nhà. Trong nhà không ai dè, vô tới bến mới hay” (2).

Với những quan sát tinh tế, mô tả sự kiện cụ thể, tra cứu tư liệu công phu, Trương Vĩnh Ký đã ghi chép tuần tự theo tuyến thời gian trước sau, theo lộ trình qua các miền sông biển, các địa phận Sài Gòn – Cửa Hàn – Hải Phòng – Hà Nội – Nam Định – Ninh Bình – Hưng Yên – Hải Phòng – Cần Giờ - Sài Gòn. Khi dừng lại ở các tỉnh thành, tác giả đều có ghi chép tỉ mỉ các đặc điểm về diên cách, điều kiện tự nhiên – xã hội, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, hộ khẩu, điền phú, nhà thờ, đền, miếu, đình, chùa và giới thiệu cả những bài văn tiêu biểu. Cuốn sách mỏng, ghi chép tóm tắt nhưng thực sự có tính hệ thống, bao quát nhiều vấn đề về địa lý, lịch sử, kinh tế, giao thông, văn hóa thông tin thắng tích, ngôn ngữ, kiến trúc, tôn giáo, dân tộc học, xã hội học; cả các khía cạnh phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ tết, đời sống sinh hoạt thường ngày của người dân đồng bằng Bắc bộ như Lễ hội, tục hát nhà trò, dệt cửi, bắt chạch, trang phục của phụ nữ; kể cả những quan hệ giao tiếp với người Tây và người ta, quan lại chúng dân, giáo chức và bạn bè mới cũ… Xét trên phương diện nội dung cũng; như vị thế lịch sử của nền văn học chữ Quốc ngữ, thiên du ký Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi được Vũ Ngọc Phan đánh giá cao: “Tập du ký này viết không có văn chương gì cả, nhưng tỏ ra ông là một người có con mắt quan sát rất sành, vì cuộc du lịch của ông lại đi rất chóng. Tuy không có văn chương, nhưng cũng phải nhận là ngòi bút của ông thật linh hoạt… Một điều mà ai cũng nhận thấy là Trương Vĩnh Ký đã tỏ cho người ta thấy ông có cái óc của một nhà bác học, vì ngay trong cuộc du lịch, ông đã để ý tìm tòi, đối với những điều trông thấy, ông không chịu chỉ biết qua loa, mà muốn biết đến tận nơi, tận chốn. Thăm chùa Trấn Võ, thăm chùa Một Cột, ông không chịu chỉ tả qua cảnh chùa; ông đã tra sử sách  để tìm cho đến ngọn nguồn. Một người vừa có con mắt quan sát vừa tìm tòi như ông, thời xưa hiếm đã đành, có lẽ thời nay vẫn còn hiếm” (2)…

Tác gia Sài Gòn – Gia Định Trương Minh Ký (1855 – 1900) – là học trò của Trương Vĩnh Ký có tập du ký bằng thơ Như Tây nhật trình, được viết theo thể lục bát, ghi lại cuộc hành trình qua châu Âu và Bắc Châu khi ông dẫn 10 du học sinh (trong đó có Nguyễn Trọng Quan, Diệp Văn Chương…) sang học tại Algérie vào năm 188. Thiên du ký dài khoảng 2000 câu thơ, khởi đăng trên Gia Định báo từ ngày 10.4.1888…

Đồng phong cách với Như Tây nhật trình, sau chuyến đi phiên dịch cho phái đoàn triều đình Huế tham dự hội chợ đấu xảo quốc tế Paris  (1889), Trương Minh Ký tiếp tục có Du Ký Chư Quâc thại hội  cũng với khoảng 2000 câu thơ song thất lục bát, hoàn thành toàn văn tại Chợ Lớn ngày 22 tháng 6 năm Canh Dần (1890). Tập du ký này lại được đăng tải trên Gia Định báo từ ngày 10 tháng 6 1890 và sau đó in thành sách tại Sài Gòn vào năm 1891 (4). Nguyên văn các câu thơ thường in liền mạch, có phân chia đoạn dài ngắn, khổ ngắn nhất chỉ 4 câu, khổ dài nhất tới 76 câu. Thiên du ký được trình tự thời gian, theo tuyển sự kiện từ ngày ra đi, những ngày tàu lênh đênh trên sóng biển, những chiến đi xe hỏa, những cuộc du ngoạn ở Paris hoa lệ, những chuyến viếng thăm bạn bè, nhà máy, công xưởng cho tới ngày trở về. Đan xen giữa việc miêu tả những sự kiện, những điều mắt thấy tai nghe là nững suy tư trước thời thế và bày tỏ xúc cảm cá nhân trước tình bạn bè, đồng liêu thiên nhiên, đất trời bốn phương cao rộng. Xin đơn cử bốn câu thơ mở đầu, những câu thơ tả cảnh diễn tình trên đường du ngoạn và 6 câu thơ ở phần kết (đã được trình bày lại theo hình thức câu thơ song thất lục bát):

- Thái Tây ấy, đi rồi một chuyến, Nam Kỳ về, thuật chuyện Như Tây.

Cho người đất nước ta hay,

Dân kia tục nọ, xứ này thế ni…

- Mồng hai cũng gió cũng dông, trời mù mịt mịt, mưa tuôn ròng ròng.

Mồng ba cũng còn dông còn gió,

Mồng bốn thì bớt gió bớt mưa…

- Khuya mười bốn ra vời biển Đỏ,

Biển lặng trong nước ngó xanh lè.

Ngày rằm nực bết nực bê,

Nắng chan trời nóng, dầm dề mồ hôi…

- Phansa là nước đại tài,

Dân trong giàu mạnh,

cõi ngoài kính thương.

Người chấp chánh

                             cầm cân ngay thật,

Việc dụng binh, giữ mực công binh.

Thấy ta nước nhỏ giúp binh,

Đặng sau này

                   sánh cá kình phương Tây.

Chẳng ỷ mạnh ỷ tài ép yếu,

Không cậy giàu cậy thế hiếp eo.

Coi ta như bạn đang nghèo,

Phải chìu kẻ mạnh,

                   phải theo nước giàu…

- Trường đấu xảo,

                   chiều vòng dạo chơi…

-         Trường đấu xảo có đôi trăm quán,

-         Đủ sắc người buôn bán vu thay.

Người khoe sắc kẻ đua tài.

Ăn chơi đồ lạ, xây xài của chung

- Đại Nam quốc cất luôn nhiều sở,

Có làm chùa làm cả thiếu chi.

Dư đồ Ngũ Quảng Bắc Kỳ,

Lại đem nhiều thợ, ít thầy chùa qua.

Sau đó có một nhà rộng rãi,

Cất ba căn hai chái như ta…

- Sáng mồng mười tàu đang xa bến,

Trưa mười hai tàu đến Sài Gòn.

Binh đứng rợp, súng bắn vang,

Tại dinh Tổng thống

                   rước quan sứ thần.

Nơi sứ quán đưa sang đó nghỉ,

Tới ngày rằm thẳng chỉ về kinh.

Mừng về vui thấy bạn mình,

Được thơ thới cả và bình an luôn.

Truy tầm qua hai tập du ký có thể thấy được bối cảnh lịch sử xã hội và quan hệ hai nước Việt – Pháp một thời với những dấu mốc thời gian, tên người, tên đất, cảnh vật, sự kiện chân xác, cụ thể. So với toàn bộ lịch sử thể tài du ký. Chắc chắn đây là những tập du ký thơ sinh động, phong phú và đồ sộ nhất. Có thể coi hai tập du ký bằng thơ của Trương Minh Ký là một đóng góp độc đáo của tác giả vào nền thơ dân tộc, đặt biệt với nền văn học chữ Quốc ngữ ở giai đoạn sinh thành.

Tác gia miền quê Kiên Giang Trần Chánh Chiếu (1867 – 1919) có hai tác phẩm du ký còn chưa được kiểm chứng chi tiết về mặt văn bản. Trước hết, Hương cảng nhơn vật được in ở Sài Gòn (1909) là tập du ký kể về tập du lịch của ông sang Hương Cảng nhưng có thể nhằm ngụy trang cho một mục đích khác mà chính quyền Pháp bấy giờ đã rất chú ý theo dõi: “Gilert chiếu sử dụng cả nhà bưu điện để gởi những bản toàn văn hay bài thơ Hương cảng nhơn vật kể lại chuyến đi Hồng Kông (1906) của y để gặp Cường Để” (5)… Còn lại Quảng Đông tỉnh thành phong cảnh là du ký nhưng lại chủ ý “ca ngợi việc ganh đua của người Trung Hoa trên đường mở mang kỷ nghệ, thương mại” (6). Theo một nguồn tư liệu khác, hiện còn giữ được bài du ký ngắn gọn nhan đề Quảng Đông tỉnh thành (Đương thành). Xin dẫn một đoạn so sánh về quan niệm và cung cách làm ăn buôn bán giứa dân bản địa với người châu Âu:

“Người Quảng Đông trời sanh chính là người buôn bán, quan buôn chức sắc, giàu bán điền viên, nghèo bán quần áo, thảy thảy có lời thì mua, mỗi mỗi có lợi thì bán. Mỗi tiệm có tự hiệu riêng, đây tiệm thuốc Trường Thọ Đường, đó tiệm bông Mai Huê Lý, các nhà đều cất một cách bằng nhau, không dám ló lên cao hơn người ta vì sợ rồng đi có đụng nhầm chăng (cũng còn dị đoan). Có một cái thạch thất hai lầu chuông cao lắm. Xa xa thấy có nhiều nhà vuông xây cao lên không nóc, đấy là chỗ Điếu Đương tiệm cầm đồ.

Người ngoại quốc mới đến tỉnh thành thấy tiệm cầm đồ một đường tưởng là chùa miễu, một đường tưởng là thùng ciment để chứa nước.

Bên phương Âu châu mấy tiệm cầm đồ là chỗ để đỡ giấc cứu cấp cho kẻ túng rối. Ai đến đó lấy làm hổ thẹn hay che mặt giấu tay, chớ bên Tàu không phải vậy, chỗ Điếu Đương là chỗ buôn bán cho vay đặt nợ, chỗ ấy cũng là chỗ dự trữ đồ quý báu của các nhà hào hộ, vì bên Tàu nhiều đảng ăn cướp giỏi lắm, quan dân đều kinh khủng.

Tiệm cầm đồ cho vay, cầm đất, cầm nhà dưới 10 lượng thì tam phân lợi, song đến tháng chạp thì chế còn hai phân. Trên 10 lượng thì cứ hai phân làm hạng.

Có nhiều khi thấy kẻ nghèo qua đông thiên thì cầm đồ mặt mát, chuộc đồ mặc ấm ra mà dùng, đến thu, hạ thì  cầm đồ mặc ấm, chuộc đồ mặt mát ra” (7)…

Với  khả năng quan sát và bút lực dồi dào như trên có thể phỏng đoán họ Trần còn có nhiều trang du ký sắc sảo khác nữa. Chắc chắn khi xác minh được đầy đủ, chính xác các nguồn tài liệu đã nêu thì chân dung nhà du ký Trần Chánh Chiếu sẽ hiện diện sâu sắc và rõ nét hơn.

          Tác gia bác sĩ quê gốc xứ dừa Bến Tre Biến Ngũ Nhy (1886 – 1963?) vốn là cây bút viết truyện trinh thám nổi tiếng một thời (8) nhưng cũng đi ngang qua làng báo và để lại hai mục bài ngắn gọn khá tiêu biểu cho thể tài du ký. Bài Thủ Dầu Một du ký nêu rõ nguyên nhân của sự ra đi và nơi đến du ngoạn chỉ cách Sài Gòn có hơn ba chục cây số. Toàn bộ nội dung bài du ký là những quan sát, ghi chép, miêu tả xen lẫn một vài lời phân tích, nhận xét, đánh giá và bày tỏ thái độ nhẹ nhàng:

          “Ba ngày tết tây, rảnh rang công việc, nghĩ mình lẩn quẩn trong chốn phồn hoa như Sài Gòn – Chợ Lớn cũng chẳng có thú vui chi, bất quá cũng dạo quanh các phố khi ngồi rạp hát, khi nhập tiệc rượu, chẳng có chi là thích chí.

Bèn nhớ trực lại còn nhiều tỉnh thành trong xứ ta, mà mình là người bổn thổ mà chưa hề biết tới. Nghĩ các nước văn minh lấy sự giao du là điều thích ý nên thường hay trẩy sang xứ nầy qua xứ khác, trước là xem phong cảnh, sau là giúp cuộc thương trường, còn chúng ta cứ xẩn bẩn quanh năm trong một chỗ, chẳng chịu vân du các nơi, đến nổi cuộc thế trong bổn xứ mà cũng chưa thông thuộc (…).

Mặt tiền châu thành mở ra ngoài sông, có cẩn bực thạch dài gần một ngàn thước. Sông ấy là sông Sài Gòn, song từ Sài Gòn lên đây đã hơn ba mươi mấy ngàn thước nên quang cảnh đã đổi. Xem ra thì cái cảnh trên nguồn, hai bên bờ sông cây mọc giăng giăng chỗ cao chỗ thấp, bi bít mịt dày, nhánh lá de xuống nước, xa xa có một vài khoảng trống, có nhà, có vườn, trồng cao (cau), trồng chuối, dựa bờ sông có một vài chiếc ghe đậu im lìm (…).

Đi xem khắp mọi nơi, từ nhà thương, trường học cho đến nhà dây thép, các công môn rồi trở về nhà hàng dùng cơm. Đoạn đi viếng thăm các kim bằng là quan Phủ sở tại và quan lương bổn quốc Nguyễn Văn Lư. Chiều lại dạo xem phố sá, đi viếng các trại mộc thấy bàn ghế đóng cũng có kiểu khéo, song xem kỹ thì thấy hỡi còn thua sự xảo khéo của chợ Lái Thiêu.

          Dạo chơi cùng khắp, qua tới bốn giờ chiều, lên xe trở về Sài Gòn, lòng rất toại lòng, vì được một ngày nhàn du phỉ chí” (Công luận báo, số 3, ra ngày 28.1.1921).

Tiếp theo đó  Biến Ngũ Nhy còn có tác phẩm Tây Ninh – Vũng Tàu du ký cũng in trên Công luận báo, nối dài không đều kỳ (từ số 419, ra ngày 6.9.1921) và dường như chưa tới phần kết thúc. Lại xin dẫn mấy đoạn văn để thấy được đời sống thường nhật, tình hình giao thông, quang cảnh phố xá và tâm tư con người một thưở một hời:

“Ngày nọ tôi đã hứa rằng hễ có dịp rảnh thì sẽ đi du lịch trong các tỉnh miền trên, trải xem phong cảnh. Mới nói vừa đặng ít lâu thời may gặp dịp tết Ngươn đế phỉ lòng sở nguyện vô cùng.

          Ngày 30 và mồng một, giữ theo nề nếp cũ ở nhà cúng rước ông bà mừng xuân nhựt làm gương cho gia quyến, vì xét mình chưa phải bực văn minh mà đã vượt khỏi lối xưa, lối cũ!(…).

          Châu thành Tây Ninh hẹp hòi phố sá ít, sự buôn bán bơ thờ, bề thế khó tấn phát. Có một đường đông đảo hơn hết là đường  xe hơi dưới Sài Gòn chạy lên, chỗ ấy là Chợ Cũ hai bên phố trệt, nhà cửa cũng tầm thường. Ra tới bờ sông thì đường đi dựa mé sông, đi rước dinh quan Chánh Bố. Vừa khỏi đó thì có cầu sắt qua Chợ Mới, có hai dãy nhà lồng bằng gạch, ngó mặt qua dinh Chánh Bố, hai bên có phố trệt dựa đường, quang cảnh trống trải mà bộ thế rất cheo leo, eo hẹp, Dưới sông thì ghe thương hồ rất ít, chỉ thấy chừng mươi chiếc ghe lồng, kỳ dư thì gỗ súc nằm đầy trên bãi. Hai bên bờ sông có được ít cái nghà ngói kiểu cách lịch sự. Dinh quan Chánh Bố cất trên gò nổng, day mặt ra bờ sông, còn các công môn thì ở ném về phía sau. Tại đây có đủ các sở: tòa án, thương chánh, kiểm lâm, trường học, nhà thương,… Có cả Thành Sơn dã, hai dãy nhà lầu, tường vôi, nóc ngói, cất ném về ngoài đồng, phía bên tả dinh quan Chánh Bố (…).

Ai có đi rồi về cũng trầm trồ làm cho tấm lòng ước vọng càng thêm nồng nã. Vậy nên tuy đi Tây Ninh về cũng còn mỏi mệt mà tôi nhất định chẳng chịu bỏ qua dịp tốt liền sắm sửa đồ hành lý đặng sáng bửa sau đi Vũng Tàu. Nghe nói cuộc hành trình rất dễ nên bằng dắt gia quyến đi chơi luôn hưởng khí thanh gió mát  (…).

Vũng Tàu là một cái quận thuộc Rịa. Tuy vậy mà tỉnh thành Vũng Tàu xinh đẹp hơn các tỉnh lỵ miền Đông Bắc xứ Nam Kỳ nhiều. Đã xinh đẹp lại lớn, chẳng kém gì thành thị Mỹ Tho. Tại đây đèn khí có, máy nước có, đường sá rộng lớn và rất sạch sẽ. Dựa theo cửa biển có nhiều đền đài, dinh hải xinh đẹp. Những tay phú hộ Langsa, Hồng Mao, Khách trú đều có cất nhà mát tại đó, để hòng lúc rảnh rang  đi hóng gió biển . An Nam ta thì thấy ông Phát An cũng có cất một cái nhà mát hai từng xanh tốt (…).

Đứng ngoài mũi núi Ô Cấp dòm vào thành thị thì thấy dài dài theo bãi trước (baie des cocoties) nhà cửa nguy nga, ngựa xe đông đảo. Trên thì non cao chớn chở, dưới thì cửa biển rộng minh mông, quả là một cảnh sơn thủy đẹp vô cùng, vậy thì nước nhà ta cũng có nhiều nơi thắng cảnh thủy tú sơn kỳ , nào kém chi chững cảnh của ngoại bang”.

Trên đây mới chỉ là những lược thuật tư liệu ban đầu về thể tài du ký của bốn tác giả vùng quê Nam Bộ. Nhờ điều kiện lịch sử và địa lý dễ có điều kiện mở rộng mối quan hệ với các nước nên họ thuộc thế hệ người Việt đầu tiên đi ra thế giới phương Tây và cũng là thế hệ đầu tiên đi thăm thú các miền vùng trong nước với tư cách người đi du lịch theo kiểu phương Tây, đồng thời sớm có những trang ghi chép bằng chữ Quốc ngữ… Xét trên phương diện kiểu loại và nội dung hiện thực, có thể coi các thiên du ký trên là những phóng sự bằng ngôn từ nghệ thuật, trong đó tái hiện trung thành hình ảnh cuộc sống, danh lam thắng tích, cảnh vật và con người đã một đi không trở lại. Qua những trang du ký này, hậu thế có thể hiểu rõ hơn không khí lịch sử, hiện thực đời sống xã hội và phong tục tập quán một thở một thời. Chúng tôi hy vọng rằng nếu sưu tập và xuất bản được một bộ sách chuyên về thể tài du ký bằng chữ Quốc ngữ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 cháắ chắn sẽ có ích cho đông đảo bạn đọc, giới nghiên cứu văn học và những người quan tâm đến lịch sử văn hóa dân tộc cũng như con đường hòa nhập vào thế giới hiện đại nói chung.

 

(1) Nguyễn Khắc Xuyên; Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong, 1917  1934. Bản in Rônêô. Trung tâm Học liệu – Bộ Văn hóa Giáo dục ấn hành, Sài Gòn. 1968, tr.33.

Tham khảo Nguyễn Hữu Sơn: - Phác thảo du ký Hà Nội trước Cách mạng tháng Tám. Hà Nội ngày nay, số tháng 6 – 2000, tr. 22 – 23.

- Du ký Quảng Ninh nữa đầu thế kỷ XX. Văn nghệ Hạ Long,  số tết năm 2002.

- Phác thảo du ký xứ Huế nửa đầu thế kỷ XX. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, số 14, ra ngày 27.4.2000, tr. 14 – 15. in lại trên Tạp chí Sông Hương, số 172, tháng 6 – 2003, tr. 100 – 13.

- Du ký Ninh Bình nửa đầu thế kỷ XX, Văn nghệ Ninh Bình, số 6 – 2004…

(2) Trương vĩnh Ký: Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, trong sách tuyển tập văn học chữ viết Bến Tre ( Nguyễn Nhị – Nguyễn Phương Thảo sưu tập, tuyển chọn). Nxb KHXH, H, 1996, tr. 139 – 181.

(3) Vũ ngọc Phan: Mục từ Trương Vĩnh Ký, trong sách nhà văn hiện đại, Quyển I, Tập I. Tái bản. Nxb KHXH, H, 1989, tr. 24 – 26.

(4) Thế Tải Trương Minh Ký: Chư Quâc thại hội – Exposition universelle de 1889. Imprimerie Commerciale Rey, Curiol et Cie, Saigon, 891,72 p, Tái bản, 1896 52 p. Văn bản này và một số tư liệu khác do TS. Đoàn Giang cung cấp, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

(5) Theo Bằng Giang: Tác phẩm Gilbert Trần Chánh Chiếu, trong sách văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ (1865 – 19300. Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 1992, tr. 136.

(6) Hoài Anh; Trần Chánh Chiếu – người khai phá lãnh vực truyện hiện đại ở Nam Bộ, trong sách chân dung văn học. Nxb Hội Nhà văn, H, 2001, tr. 59.

(7) Trần Chánh Chiếu: Quảng Đông tỉnh thành (Đương Thành), trong báo Lục tỉnh tân văn, số 32, năm 1908. Sơn Nam tuyển in trong sách Phong trào Duy  Tân ở Bắc Trung Nam – Miền Nam đầu thế kỷ XX – Thiên Địa hội và cuộc Minh Tân. Tái bản. Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2003, tr 334 -336.

(8) Hoài Anh: Biến Ngũ Nhy – Cây bút viết truyện trinh thám đầu tiên ở Nam Bộ, trong sách Chân dung văn học. Sđd, tr.152 – 161.

Cập nhật ( 17/11/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online