Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Nghệ thuật Phật giáo trong đời sống xã hội (Thích Gia Quang)
Nghệ thuật Phật giáo trong đời sống xã hội (Thích Gia Quang) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/11/2009

NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM

* Thích Gia Quang

          Văn hóa Phật giáo Việt Nam làm phong phú nền văn hóa dân tộc

          Hai ngàn năm tồn tại và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã sản sinh ra những giá trị văn hóa mang đặc trưng riêng của Phật giáoViệt Nam. Những giá trị văn hóa ấy đã được hòa quyện vào văn hóa dân tộc, làm cho nền văn hóa của dân tộc thêm đa dạng và phong phú. Không chỉ văn hóa Phật giáo góp phần làm đa dạng và phong phú cho nền văn hóa dân tộc mà nền văn hóa dân tộc cũng chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Phật giáo qua hai lĩnh vực Văn hóa Vật thể Văn hóa Phi vật thể của Phật giáo.

          Về Văn hóa vật thể thì với hệ thống chùa, tháp, tượng Phật, trên khắp mọi miền của đất nước từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược đâu đâu thỉnh thoảng cũng có bóng dáng những ngôi chùa rêu phong cổ kính với mái ngói cong uốn lượng và những vườn tháp theo mô típ riêng của Phật giáo ẩn hiện sau những rặng cây xanh gợi lên một kiểu kiến trúc điển hình của Phương Đông thật là Phật giáo, đó là những sản phẩm sáng tạo của nhân dân ta.

           Vào chùa chúng ta ta thấy những kiến trúc của mỗi ngôi chùa mang những nét riêng của mỗi vùng miền đất nước. Ngôi chùa ơ miền Bắc có đặc điểm riêng về kiến trúc khác với các ngôi chùa của miền Trung và miền Nam, điều này đã tạo nên nét phong phú, đặc thù cho nghệ thuật kiến trúc, mỹ thuật Việt Nam. Bên cạnh đó chúng ta cũng được thấy các pho tượng Phật, Bồ tát, La hán có giá trị về tâm linh đã được những nghệ nhân thổi hồn vào tượng qua giáo lý Từ bi Hỷ xả của đạo Phật, không chỉ về mặt tâm linh mà cả về mặt nghệ thuật điêu khắc làm cho những pho tượng thật sinh động, đẹp đẽ và linh thiêng. Theo tiến sỹ Đặng Văn Bài cục trưởng cục Di sản Bộ Văn hóa thì hiện nay trong danh mục  xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia, chùa Phật cũng chiếm một tỷ lệ khá cao: 465 trên tổng số 3058 di tích Quốc gia của Việt Nam.

          Về lĩnh vực Văn hóa phi vật thể, Phật giáo cũng có những đóng góp rất lớn cho nền Văn hóa nước nhà. Hệ thống triết lý cao siêu của Phật giáo được dân gian hóa thành nững biểu tượng chuẩn mực về đạo đức, Văn hóa hết sức gần gũi và thân thuộc với con người Việt Nam như truyện Tấm Cám, truyện Cây tre trăm đốt nói về nhân quả, ở hiền gặp lành ở ác chuốc họa. Thuyết nhân quả của Phật giáo đã góp phần bổ sung cho văn hóa đạo đức của con người Việt. những giá trị khuyến thiện trừng ác của Phật giáo không chỉ phát huy tác dụng trong hàng ngũ tín đồ Phật tử mà còn ảnh hưởng rộng rãi cho nhân dân, góp phần hình thành nên những quan niệm sống mang tính nhân đạo sâu sắc. Những giá trị nội dung trong kinh điển Phật giáo mang tính nhân bản và nhân văn trong cuộc sống cũng đã góp một phần không nhỏ vào văn học của dân tộc nhất là những bài kệ, bài thơ thiền đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

          Phật giáo cũng là nơi di ngưỡng, bảo lưu các giá trị Văn hóa tâm linh của người Việt. Đối với đa số người dân Việt, chùa Phật là không gian thiêng để con người gửi gắm niềm tin, niềm tin của sự linh thiêng nhân quả của đạo Phật, tin vào sự hiền ở hiền gặp lành, tin vào Đức Phật từ bi cứu khổ. Một số người từ nhỏ đã được ông bà cha mẹ “gửi bán”v ào chùa mong được sự che chở và hưởng phúc của Phật, cũng như một số người khi chết cũng muốn được một nhà sư tiễn đưa về cõi Phật cho được siêu sinh. Chùa cũng là không gian thiêng mang lại cho con người sự cân bằng tỉnh lặng về tâm rí sau những ngày làm việc căng thẳng và sự náo nhiệt, mệt mỏi của cuộc sống. Không ít những ngôi chùa có gian thờ và bia đá khắc ghi tên tuổi những người có công đức với chùa và những người có công với dân với nước để người sau được biết để nhớ ơn. Điều đó chứng tỏ rằng Văn hóa Phật giáo đã, đang và sẽ còn được dung nạp, di dưỡng và bảo tồn trong nền Văn hóa dân tộc. Lễ hội của Phật giáo cũng góp một phần không nhỏ vào giá trị Văn hóa phi vật thể vào đời sống xã hội Việt Nam. Lễ Vu lan – báo hiếu, lễ hật đản – hòa bình; hội chùa Hương, hội Yên Tử, hội chùa làng ở các địa phương đều mang giá trị nhân văn làm phong phú thêm cho văn hóa dân tộc, đẹp đẽ thêm cho đời sống tinh thần của nhân dân.

          2. Nghệ thuật Phật giáo đóng góp cho đời sống xã hội

          2.1 Về nghệ thuật kiến trúc Phật giáo

                    Khi nói đến kiến trúc Phật giáo là nói đến kiến trúc chùa, tháp. Từ ngoài vào là tòa Tam quan với 3 cửa biểu thị 3 cách nhìn mầu nhiệm của nhà Phật về thế gian (không, vô tướng, vô tác). Qua Tam quan là vào Tam Bảo với 3 tòa Tiền đường (bái đường),  Thiêu hương và Thượng điện phần lớn gắn với nhau theo kiểu chữ công hoặc chữ đinh tạo một không gian nội thất chung. Chùa làm theo kiểu chữ công thường có bốn mái, có đầu đao hình phượng. Chùa làm theo kiểu chữ đinh thường chỉ có hai mái phẳng thu hồi bít đốc. Ngoài ra chùa phải nói đến tháp. Có chùa, tháp cũng là nơi thờ Phật thì được xây ở trước chùa nhưng xây cao và to như tháp Phổ Minh (Nam Đinh), tháp Bình Sơn (Vĩnh Phú), tháp Thiên Mụ (Huế),… Tháp thờ nhà Sư thì xây nhỏ vừa phải ở bên cạnh hoặc đằng sau chùa. Trong chùa như một bảo tàng nghệ thuật: ở đó có nhiều loại tượng và đôi khi có cả tranh Phật, Bồ tát, La hán… Có nhiều đồ thờ tự như hương án, bình hoa, cây đèn, bát hương… Đó là những tác phẩm mỹ thuật và mỹ nghệ đích thực, tiêu biểu của tinh hoa nghệ thuật dân tộc có cả nghìn năm sáng tạo không ngừng. Tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích, tượng Bồ tát Quan Thế Âm chùa Bút Tháp, tượng Tổ Tuyết Sơn chùa Mía, tượng La Hán chùa Tây Phương, những trạm nổi trên tấm bia chùa Quỳnh Lâm… đã khẳng định trình độ kiến trúc nghệ thuật cao của người Việt Nam.

          2.2 Về nghệ thuật điêu khắc Phật giáo

          Nghệ thuật điêu khắc Phật giáo tiêu biểu có tượng Bồ tát Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay, tiêu biểu được thờ ở chùa Bút Tháp, tượng Phật A Di Đà thờ ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), tượng 18 vị La Hán thờ ở chùa Tây Phương (Hà Nội). Đó là những biểu tượng điêu khắc Phật giáo mang nặng tính triết lý đạo Phật đi đôi với tính cách con người Việt và được người Việt tôn thờ kính mến như nhà thơ Huy Cận đã mô tả và ca ngợi trong bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương” của ông.

          Vào chùa Việt Nam chúng ta thấy tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, nếu chúng ta quen với ngôn ngữ của điêu khắc Phật giáo thì chúng ta hiểu ngay đây là hình tượng nói lên tình thương yêu, tình nhân ái. Tình thương này là tình thương chân thực được xây dựng bằng cái thấy, bằng sự hiểu biết, bằng sự giúp đỡ và đây là tình thương đích thực. Qua biểu tượng Bồ Tát Quan Thế Âm nói lên hạnh Từ bi của đạo Phật.

          2.3 Về nghệ thuật biểu diễn của Phật giáo

          Sự tích “Từ Đạo Hạnh với Đại Điên” mà có chùa Láng, chùa Thầy (Hà Nội) vài ba năm tổ chức một lần vào đầu tháng 3 âm lịch để dân làng diễn tả sự tích của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong lễ hội người ta hát lối kể hạnh (Hạnh tích của Thiền sư). Lối kể hạnh này có từ thế kỷ 13, lối văn kể hạnh này rất thịnh hành và được lưu truyền cho đế gần đây. Người ta còn biểu diễn múa trên nước. Như vậy có lẽ nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam có nguồn gốc từ nghệ thuật Phật giáo. Trong các buổi lễ “Đàn chay” người ta “Lễ chạy đàn Lục cúng” (hương, hoa, đăng, quả, thực) một hình thức biểu diễn nghệ thuật rất sinh động mang tính tôn giáo cũng được xuất hiện từ thế kỷ 13 TL do thiền sơ Huyền Quang soạn. Các nghệ thuật biểu diễn của Phật giáo kể trên đã biểu hiện được sắc thái Văn hóa của dân tộc Việt Nam.

          2.4 Về Âm nhạc Phật giáo

          Trong các buổi lễ Phật giáo có các bài “Tán Phật” (ca ngợp Phật, Bồ tát) thì người Việt Nam đã “phổ nhạc” và đọc giọng “Canh” để tán tụng và hòa vào với âm nhạc qua nhạc cụ là trống, phách, thanh la, nạo bạt… Là những nhạc cụ đồ gõ và đồ dây, làm cho buổi lễ sôi động, vui vẻ hòa nhập với bản sắc Văn hóa Việt Nam. Kiểu âm nhạc này có từ thời Trần.

          2.5 Nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật Phật giáo

          Trong các nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật Phật giáo ở Việt Nam có Nguyễn Minh Không (Thiền sư Không lộ) là người Việt Nam sang nhà Tống (Trung Quốc) xin đồng về để đúc đồ Tự  khí (đồ thờ) là chuông, tượng và đỉnh. Tục truyền là Không Lộ đã có công trong sự tạo thành 4 tác phẩm nghệ thuật lớn đời Lý gọi là (An Nam Tứ đại khí) (Tháp chùa Báo Thiên, tượng Phật A Di Đà chùa Quỳnh Lâm, đỉnh (vạc) chùa Phổ Minh và chuông chùa Phổ Lại. Trong thời Lý còn có Thiền sư Từ Đạo Hạnh là thủy Tổ của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam (điều này xin các nhà nghiên cứu tìm hiểu để đi đến kết luận). Ở thời Trần có Huyền Quang – nhà Thi sỹ, Thiền sư, ông đã sáng tác ra nhiều tác phẩm thi ca và nghệ thuật Phật giáo trong đó có bộ sách thực dụng “Công văn tập” (Tuyển tập những bài văn sớ điệp dùng trong các nghi lễ Phật giáo).

          Phật giáo là một tôn giáo lớn có ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống xã hội Việt Nam. Phật giáo có nền Văn hóa hết sức phong phú và đa dạng trong nền Văn hóa dân tộc Việt Nam. Do đó việc phát huy và bảo tồn Di sản Văn hóa Phật giáo là một việc làm hết sức quan trọng; Đó cũng chính là bảo tồn và phát huy nền Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Cập nhật ( 15/10/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online