Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Tìm hiểu học thuyết Thiên nhân cảm ứng (Trần Phước Thuận)
Tìm hiểu học thuyết Thiên nhân cảm ứng (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
30/11/2009

 TÌM HIỂU HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN CẢM ỨNG CỦA NHÀ NHO

* Trần Phước thuận

          Học thuyết về “Thiên nhân cảm ứng” đã được Đổng Trọng Thư  (179 TCN – 104 TCN) đề xướng trong tác phẩm  “Xuân Thu phồn lộ” của ông, có thể nói đây là một tác phẩm nổi bật nhất trong thời Lưỡng Hán. Thực ra ra học thuyết này đã có một quá trình thừa kế lâu dài, có xuất xứ từ những khái niệm về thiên mệnh từ các thời Hạ, Thương, Chu; khẳng định các hoạt động của con người và sự vận động của thiên nhiên đều do mệnh lệnh và ý chí của một vị thần tối cao – đó là Thượng đế.

           Đến đời Xuân Thu, đức Khổng Tử (551 CN – 479 TCN) đã đúc kết lại thành Thiên mệnh luận, nhưng trong tư tưởng của ông thiên mệnh lại không phải là mệnh lệnh tối cao của một vị thần nào – kể cả Thượng đế. “Thiên” của ông chính là “đạo” là quy luật tự nhiên. “Mệnh” là các điều kiện trong phạm trù nhân quả; chẳng hạn như trong Luận ngữ ông nói: “Ta hồi 15 tuổi chăm chú vào việc học, ba mươi tuổi biết vững chí, bốn chục tuổi không còn nghi hoặc, “năm mươi tuổi biết mệnh trời” ý ông muốn nói – mãi đến 50 tuổi mới biết được các vấn đề “sinh”,”trưởng”, “thu”,“tàng” trong quy luật tự nhiên. Hoặc ông nói: “Đạo ta sắp thi hành – là do mệnh trời, đạo ta sắp vomg phế cũng là do mệnh trời”, nhiều người hiểu lầm câu nói này cho rằng khổng Tử tin vào trời, quy sự quyết định cho trời, thực ra câu nói ấy Khổng Tử chỉ muốn nói “Đạo ta có thể được thi hành hay không được là do có đủ điều kiện hay không đủ điều kiện” mà thôi, vì nếu ông đã tin vào trời thì tại sao  9 tác phẩm : Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu, Dịch, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử, Luận ngữ lại chẳng thấy chỗ nào giải thích về quyền năng của Thượng đế và các thần thánh khác như các kinh điển của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo mà ông còn khẳng định rằng: “Quỷ thần nên kính mà nên xa ra”.

          Để làm rõ vấn đề này, những người thừa kế đức Khổng Tử như Khổng Tử Tư (Khổng Cấp 483 TCN – 402 TCN) và Mạnh Tử (305 TCN) đã chỉ ra cái bản chất của trời và sự hợp nhất của Trời với Người. Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện” – cái tính nguyên sơ của con người là tính thiện, con người chỉ cần chí thành tu dưỡng thì cái tính thiện vốn có trong con người sẽ phát huy sức mạnh có thể đạt được mức độ thông suốt cả trời đất, gọi là Thiên nhân hợp nhất. Mạnh tử đã xác định tính thiện mới đúng là thiên tính. Ông không xem quyền lực của nhà vua là quyền lực tối cao, đối với ông vua chẳng phải là: “con trời”, ông đã khẳng định: “Dân vi bản, xã tắc chi, quân vi khinh”; như vậy, đối với ông nhà vua mới được xếp vào hàng thứ ba và Trời chỉ là một khái niệm để chỉ cái thiện – cái thiện hoàn hảo của con người.

          Nhưng cũng chính cái tư tưởng triết học “Thiên nhân hợp nhất” tốt đẹp này lại là tiền đề cho Đổng Trọng Thư (179 TCN – 104 TCN) phát triển thành “Thiên nhân cảm ứng” – một học thuyết duy tâm thời Hán Vũ Đế. Đổng Trọng Thư đã từng kiến nghị và được Vũ Đế chấp thuận “bãi truất bách gia, tôn sùng Nho thuật”, nhưng chỉ tiếc cái Nho ở đây không còn cái chất Nho thuần túy của thời Khổng Mạnh, mà là một loại Nho duy tâm siêu hình được ông xây dựng một cách có hệ thống để làm công cụ cho các triều đại phong kiến quân chủ. Theo ông thì các sự vật hiện tượng đều do Trời sắp đặt, mọi hoạt động của con người đều do mệnh lệnh của Trời, số mạng của con người và muôn loài đều do trời quy định, không ai có thể tự ý thay đổi được. Ông chia con người ra thành ba đẳng cấp: Thượng, Trung, hạ; đẳng cấp dưới phải phục tùng đẳng cấp trên và mỗi người đều phải giữ tam cương: “Quân thần cương, phụ tử cương, phu thê cương” và ngũ thường “Nhân, nghĩa, lễ trí, tín”. Nếu mọi người đều tuân thủ chặt chẽ như vậy mới hợp lòng Trời và cảm ứng đến Trời, nên học thuyết này được gọi là “Thiên nhân cảm ứng”.

          Học thuyết này đã trói buộc con người vào khuôn khổ nhất định, đã làm công cụ chính trị rất có hiệu quả cho chế độ phong kiến trong một thời gian dài, giai cấp quý tộc phương đông đã căn cứ vào lý luận Thiên nhân cảm ứng để hợp pháp hóa mọi hình thức bóc lột nhân dân trong suốt hơn 2.000 năm.

          Nhưng oái ăm thay trong lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam cũng có nhiều nhà ái quốc đã lợi dụng học thuyết này làm phương tiện dẹp giặc đánh đuổi giặc ngoại xâm, điển hình như bài thơ của Lý Thường kiệt (1019 – 1105).

                   Nam quốc sơn hà Nam đế cư

                   Tiệt nhiên định phận tại thiên thu

                   Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

                   Nhữ đẳng hành kham thủ bại hư.

          Bài thơ tuy ngắn gọn nhưng hàm xúc, đã xác định vị trí và vai trò của vua nước Nam – của biên cương tổ quốc nước Nam, đã tạo nên một lòng tin vô bờ bến trong lòng quân sĩ, chính cái sức mạnh tinh thần này đã làm công cụ hữu hiệu dẹp tan quân Tống.

          Một lần khác Nguyễn Trãi (1380 – 1442) đã dùng mật ong viết lên lá cây để cho kiến đục khoét thành hình 8 chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” để xác định cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi là hợp với lòng Trời, một tác động tâm lý có giá trị rất lớn lao trong công cuộc dẹp giặc Minh.

          Ngoài ra trong thi văn Việt Nam cũng bàn bạc các khái niệm về Thiên mệnh, Thiên nhân hợp nhất, Thiên nhân cảm ứng. Tam cương Ngũ thường… Nhưng đặt sắc nhất có lẽ là Nguyễn Du (1765 – 18200, ông cũng công nhận là có mệnh Trời  nhưng mệnh Trời không cố định mà chuyển biến theo cái tâm tốt xấu của con người, nói cách khác cái tâm thiện lương trung hiếu mới cảm hóa được Trời, trong đoạn Trường Tân Thanh ông viết:

          Ngẫm nay muôn sự tại Trời

          Trời kia đã bắt làm người có thân

          Bắt phong trần phải phong trần

          Cho thanh cao mới được phần thanh cao

          Có đâu thiên vị người nào

          Chữ tâm chữ mệnh dồi dào cả hai

          Có tài mà cậy chi tài

          Chữ tài liền với chữ tai một vần

          Đã mang lấy nghiệp vào thân

          Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa

          Thiên căn ở tại lòng ta

          Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

          Như vậy, đối với con người nhất là Trung Quốc và Việt Nam, học thuyết Thiên nhân cảm ứng đã có một hiệu ứng rất lớn, hiệu ứng cả về mặt ưu lẫn mặt khuyết, mặt yếu lẫn mặt mạnh.

          Trong cuộc sống văn minh của con người hôm nay, nếu muốn nói về “thiên mệnh” hay “đạo quân thần” chắc có lẽ các điều đó đã xưa như trái đất, nhưng nếu nói đến cái tình phụ tử hay nghĩa phu thuê thì cũng nên bắt chước một vài điều tốt đẹp của người xưa; cả các vấn đề: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đều là những điều cần yếu trong xã hội – nhất là ngành giáo dục; tuân thủ những điều này tuy chưa hẳn đã cảm ứng đến trời nhưng chắc hẳn sẽ cảm hóa được người.

          Ngoài ra học thuyết “Thiên nhân cảm ứng” đã có những đóng góp rất tích cực trong y học, vấn đề này ít thấy các nhà sử học, xã hội học… nói đến, nhưng hiện nay các giáo trình của các nhà trường đại học y của Trung Quốc và Việt Nam đều đã đưa thuyết “Thiên nhân cảm ứng” vào phần lý luận cơ bản của Trung y và Y học cổ truyền Việt Nam. Trong đó giải thích những hiện tượng của tự nhiên và con người có chỗ đồng nhất và cảm ứng lẫn nhau; con người muốn có sức khỏe phải sống thuận theo tự nhiên – theo sự thay đổi của khí hậu bốn mùa: Xuân – sinh, hạ – trưởng, thu – thu, đông – tàng; con người phải hoạt động phải nghĩ ngơi phải ăn uống nhưng tất cả đều phải vừa chừng vừa mực không bất túc cũng chẳng hữu dư, luôn luôn phải hàm dưỡng tính tình, hạn chế tất cả các loại tình chí: giận dữ, bi ai, oán hận, thương tâm… để giữ cho cái khí bình tịnh hầu tránh các loại bệnh của nội tạng và thần kinh.

          Nói tóm lại, Đổng Trọng Thư đề xuất ra học thuyết Thiên nhân cảm ứng, đã duy tâm hóa học thuyết của nhà Nho, đã tạo phương tiện và điều kiện cho chế độ phong kiến có cơ sở lý luận. Nhưng có lẽ ông không bao giờ nghĩ rằng đời sau đã đem áp dụng vào trong y học, cho nên một điều có thể nói ở đây, học thuyết “Thiên nhân cảm ứng” dù muốn đánh giá bằng cách nào cũng vẫn là một di sản lịch sử, một loại di sản tinh thần có cả ưu lẫn khuyết điểm, có cả những vấn đề thích hợp với con người trong xã hội hiện nay. Vì vậy, trên tinh thần khoa học, chúng ta cũng nên khách quan sàng lọc những gì cần hạn chế – thì hạn chế, những gì đáng phát huy – nên phát huy.

Cập nhật ( 15/10/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online