Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow SƯ NGUYỆT CHIẾU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP (Trần Phước Thuận)
SƯ NGUYỆT CHIẾU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
15/07/2008

SƯ NGUYỆT CHIẾU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

           Chung quanh cuộc đời của sư Nguyệt Chiếu có rất nhiều giai thoại và những lời đồn đại khác nhau; có người nói rằng ông vốn là người tỉnh khác đến Bạc Liêu sinh sống, có người nói ông là một chiến sĩ của phong trào Cần Vương đến ẩn lánh ở Bạc Liêu trong lớp áo nhà tu, cũng có tin đồn rằng ông chính là tác giả của bài thơ Dạ cổ hoài lang và ông Cao Văn lầu đã căn cứ vào bài thơ này để phóng tác ra nhạc … người ta nói đến ông thì nhiều nhưng tên họ của ông thì không ai nói đến .

      Thực ra tên họ thật của ông là Lưu Hữu Phước, vốn người Bạc Liêu chứ không phải người ở nơi khác đến đây sinh sống, chỉ có cha mẹ ông là người ở Ngã Năm - Sóc Trăng (hiện nay thuộc huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng) đến chợ Bạc Liêu lập nghiệp vào những năm trong thập niên 70 của thế kỷ XIX, đến năm Nhâm Ngọ (1882) mới sinh ra ông. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng là một cậu bé thông minh học đâu nhớ đó, năm lên 10 tuổi đã đọc và viết được chữ Hán. Cha của ông làm nghề viết liễn lại vừa là một nhạc công rất thiện nghệ về đờn cò (nhị cầm), nên ngoài những giờ hoc chữ Hán, ông còn được cha truyền dạy về những bí quyết về nhạc lễ và mỗi lần cha ông được mời tham dự nhạc lễ ở đâu ông cũng được đi theo để học hỏi; vì vậy ngay từ thuở thiếu thời ông đã có ấn tượng rất sâu sac về bộ môn nghệ thuật này.

          Theo một số người lớn tuổi kể lại, ông đã sớm theo tiếng gọi của non sông nên khi vừa đến tuổi thành niên đã tham gia vào một tổ chức chống Pháp ở vùng ngoài (chưa xác định được tổ chức nào). Hoạt động được hơn một năm thì tổ chức bị tan rã, ông phải chạy vào vùng Sài Gòn - Gia Định ẩn náu trong vài ngôi chùa ở đây một thời gian khá lâu. Rồi không biết do nợ trần đã dứt hay muốn che dấu tai mắt của Pháp hoặc hoàn cảnh đẩy đưa thế nào, ông lại xuống tóc quy y, năm đó vừa tròn 20 tuổi (1902). Lúc mới xuất gia, ông được sư phụ đặt cho pháp danh là Đạt Bảo, sau đó mới có thêm pháp hiệu là Nguyệt Chiếu. Người truyền đạo cho ông lại rất giỏi về nhạc lễ, nên ngoài việc trau dồi kinh luận Phật học, ông còn đươc sư phụ trao truyền cho những sở đắc về môn này. Sư Nguyệt Chiếu vốn đã có một ít căn bản về nhạc lễ, nên khi học ông tiến bộ rất nhanh, chỉ vài năm sau thì gần như đã hấp thu trọn vẹn sở học của thầy. Sau đó, trên bước đường theo thầy đi đây đi đó ông còn học hỏi thêm rất nhiều điều hay điều lạ về nhạc lễ cổ truyền.

          Khi thầy viên tịch, Sư Nguyệt Chiếu mới trở về Bạc Liêu, đầu tiên ông trú ngụ ở chùa Vĩnh Phước An (hiện nay thuộc phướng 2, thị xã Bạc Liêu). Người trụ trì chùa lúc ấy là Hòa thượng Minh Bảo (thế danh Lê Trừng Tâm), nguyên là chú vợ của Nhạc Khị, nên Nhạc Khị cũng thường lui tới ngôi chùa này để thăm nom chú vợ của mình ; cũng vì vậy Sư Nguyệt Chiếu và Nhạc Khị đã gặp nhau và có lẽ do “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nên sau vài lần gặp gỡ hai người đã trở thành đôi bạn tâm giao. Từ đó trở đi hai người đã hợp tác với nhau thực hiện rất nhiều công trình canh tân, sáng tác và chỉnh tu cổ nhạc mở đầu cho sự hình thành trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, tạo dưng nhiều phong trào: đờn ca tài tử, ca ra bộ, phục hưng nhạc lễ cổ truyền.

          Lúc bấy giờ các tôn giáo và các tổ chức tín ngưỡng dân gian ở Nam bộ đều có những nghi thức tế lễ riêng, nhưng đa số đều sử dụng cổ nhạc làm cơ sở để thực hiện. Bài bản được sự dụng trong các nghi lễ đa số là các bản Bắc Lớn, tùy theo nhu cầu của từng chi tiết nghi thức mà các bản này sẽ được sử dụng ở mỗi vị trí và trường hợp khác nhau, sao cho phù hợp để tiếng nhạc làm tăng thêm trang nghiêm cho buổi lễ. Cũng do đó sự sáng tạo càng lúc càng nhiều, đến nỗi lòng bản của các bản thường được sử dụng cũng bị thay đổi thành nhiều dị bản, nhất là các đoàn lễ nhạc mang mau sắc tôn giáo hoặc mang nặng tính địa phương thì luôn có sự sáng tạo rất đặc thù; vì vậy các dị bản càng ngày càng nhiều đến nỗi người ta không còn biết bản nào là bản gốc. Thêm một điều rắc rối nữa là đa số nhạc cong đều muốn học cho mau lẹ để hành nghề, vì vậy mỗi bài bản chỉ học một đoạn thường dùng, vì vậy ít ai đờn được trọn bản, nên các bản nòng cốt dần dần phải lâm vào cảnh : “còn đầu mất đuôi” hoặc “chỉ có đuôi đầu”.

          Đến đầu thế kỷ XX, phong trào canh tân và hiệu đính nhạc cổ đã được nhen nhóm, Nhạc Khị là người đầu tiên khơi động phong trào và Sư Nguyệt Chiếu có thể nói là nhân vật thứ hai – là người cộng tác tích cực nhất cho Nhạc Khị trong việc làm đầy ý nghĩa này. Chính ông đã ra công sưu tầm, tập hợp và góp phần hiệu đính bảy bản Bắc Lớn (thường gọi bảy bản Lớn, cũng có nơi gọi là bảy Bài, gồm các bản Xàng xê (64 câu), Ngũ đối thượng (61 câu), Ngũ đối hạ (38 câu), Long đăng (40 câu), Long ngâm (33 câu), Tiểu khúc (29 câu) và Vạn giá (47 câu) của nhạc lễ cổ truyền; suốt trong thời gian này ông phải sưu tầm, nghiên cứu, chiết trung và đôi khi phải sáng tạo để chắp vá vào những câu, những đoạn bị mất không còn tìm lại được. Những chỗ khó khăn hoặc sai sót ông đều được sự góp ý của Nhạc Khị nên công việc tiến hành rất thuận lợi và cuối cùng đã hoàn thành mỹ mãn vào khoảng năm 1908. Các bản này đều được Nhạc Khị nhuận sắc và áp dụng để giảng dạy, sau đó đã được in trong sách Ca nhạc cổ điển (1962) của Soạn giả Trịnh Thiên Tư. Việc góp phần hiệu đính và chỉnh tu bảy bản lớn của Sư Nguyệt Chiếu không chỉ có công lớn cho riêng bộ môn nhạc lễ cổ truyền mà còn tích cực góp công tạo dựng nền móng cho cổ nhạc Nam bộ, nhưng cũng chính vì vậy nên có một số câu trong bảy bản lớn ở Bạc Liêu khác với bảy bản lớn ở các nơi.

Theo lời kể của nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (hoc trò nhỏ nhất của Nhạc Khị cũng là người biên soạn 6 câu Vọng cổ nhịp 32), vào Tết Trung Thu năm Mậu Ngọ(1918), ông Cao Văn Lầu đã độc tấu bản nhạc 20 câu vừa sáng tác xong để nhờ thầy sửa chữa và đặt tên, Nhạc Khị sau khi khen tặng đã nhờ người bạn thân của mình là Sư Nguyệt Chiếu lúc bấy giờ cũng có mặt ở đó làm công việc đầy ý nghĩa này. Sư Nguyệt Chiếu nhận lời và suy nghĩ một lúc rồi nói rằng bản nhạc có nhiều đặc điểm, không cần phải sửa chữa; riêng về tên gọi thì bản nhạc đã được sáng tác theo ý nghĩa Chinh phụ vọng chinh phu trong bài Nam ai Tô Huệ chức cẩm hồi văn, vậy thì cứ căn cứ vào ý nghĩa đó đặt thành cái tên Dạ cổ hoài lang, có nghĩa là nửa đêm nghe trống nhớ chồng. Cái tên Dạ cổ hoài lang đã xuất hiện kể từ đêm đó và nó lưu truyền mãi tới ngày hôm nay.

Ở chùa Vĩnh Phước An được vài năm, Sư Nguyệt Chiếu được Hòa thượng Xuân Phong (thường gọi ông Ký) mời về chùa Vĩnh Đức (hiện nay thuộc phường 1 thị xã Bạc Liêu), tại đây ông thu nhận học trò để phổ biến những phát hiện mới về nhạc lễ. Học trò của ông rất đông trong số đó có cả một số học trò của Nhạc Khị như : Thiện Ý, Thiện Ngộ, Thiện Thành, Hai Tố, Năm Phát, Tư  Quận, Chín Khánh, Trịnh Thiên Tư … đến học thêm ở ông về nghi thức nhạc lễ cổ truyền. Ông giao du rất rộng, lại có rất nhiều học trò trong đó có cả tục gia lẫn tu sĩ nên đa số đình miếu chùa chiền và các ban nhạc lễ trong tỉnh lúc bấy giờ đều có qua lại với ông, nhất là Hòa thượng Huệ Bình (hiệu Long Vân, thế danh Nguyễn Thi Thơ, sinh năm 1881 và mất năm 1950, học trò Hòa thượng An Hóa) trụ trì chùa An Thạnh Linh ở làng Hòa Bình (hiện nay là xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) lại càng thân thiết, vì vị sư trụ trì này nghe đâu cũng có một thời gian theo tham gia chống Pháp, sau đó về ẩn cư ở Hòa Bình, tại đây ông đã ra công vận động bà con Phật tử để trùng tu chùa An Thạnh Linh. Sư Nguyệt Chiếu và Hòa thượng Huệ Bình, hai người có đồng cảnh ngộ nên chỉ gặp gỡ vài lần họ đã rất thân và thường lui tới với nhau.

Vào khoảng năm 1925, theo lời yêu cầu của Hòa thượng Huệ Bình, Sư Nguyệt Chiếu có nhận đào tạo một đội nhạc công cho chùa An Thạnh Linh, những người theo học đa số là người Hòa Bình đã được Nguyệt Chiếu hướng dẫn cả về nhạc lễ lẫn đờn ca tài tử. Khi hướng dẫn đờn ca tài tử ông chú trọng nhất là bài Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu, có lẽ vì điểm này nên đa số nghệ sĩ ở Hòa Bình đều hiểu lầm ông là tác giả của bài Dạ cổ, thực sự ông chỉ là người phổ biến bản nhạc mà thôi. Có lẽ do mối quan hệ thầy trò vào những năm đó rất cách biệt chứ không gần gũi như ngay nay, những điều nghi ngờ của trò thường không dám hỏi lại thầy nên mới có sự hiểu lầm đó.

Trong thời gian dạy nhạc lễ và đờn ca tài tư vì ông là tu sĩ nên không thể trực tiếp tham gia đờn ca tài tử hoặc ca ra bộ, nhưng đệ tử của ông lại có một số tham gia vào các phong trào này, nổi bật nhất là Năm Nghĩa, Sanh Xía, Chín Quy… những người này đều là những nhân tài ca cổ ở Nam bộ, đã từng đóng góp rất nhiều công sức bằng lới ca tieng hát để phát huy cổ nhạc Bạc Liêu trên mọi phương tiện thông in đại chúng như đài phát thanh, dĩa hát … và có những người đã trở thành diễn viên nổi tiếng của sân khấu cải lương sau này. Riêng Năm Nghĩa, đã phát huy quang đại sự nghiệp của thầy, ông đã biến đổi giai điệu Dạ cổ hoài lang thành giai điệu Vọng cổ qua bài Văng vẳng tiếng chuông chùa, Năm Nghĩa đã thật sự mở ra kỷ nguyên Vọng cổ, ông là người có đầu công trong việc tạo dựng bản nhạc nòng cốt của Cải lương. Một số người lớn tuổi nói rằng : Nếu Nhạc Khị đã đào tạo được ông Cao Văn Lầu một ngôi sao sáng của Cổ nhạc thì Sư Nguyệt Chiếu cũng đào tạo được Lư Hòa Nghĩa một thiên tài nghe thuật của Cải lương Việt Nam.

Sư Nguyệt Chiếu còn có một khả năng rất đặc biệt, đó là tự làm được nhiều nhạc cụ. Đây cũng là một nghệ thuật độc đáo của ông, ông chỉ dùng những dụng cụ thông thường của thợ mộc như bào, đục, cưa, khoan, dùi, búa… để sản xuất ra rất nhiều sản phẩm giá trị như : trống bản (trống cái), trống đại, trống cơm, trống đôi, trống chầu, trống bác nhã (đại cỗ), mỏ, bạc, đờn cò (nhị cầm), đờn gáo (hồ cầm), đờn kìm (nguyệt cầm)… Kể cả những loại nhạc cụ thật xưa như : bồng, phách, ốc… ông cũng làm rất khéo. Tiếc thay cái khả năng tuyệt vời này không có người nối nghiệp.

          Trong những năm cuối đời, ông vẫn ở chùa Vĩnh Đức, lúc đó công việc Phật sự của sư môn ông đã hoàn thành, tâm nguyện chấn hưng nhạc lễ cổ truyền ở Bạc Liêu ông cũng làm xong, lực lượng kế thừa để phát huy cổ nhạc ông cũng  góp phần xây dựng, nên tâm trí lúc nào cung an nhàn, thảnh thơi và có lẽ không còn vướng bận gì nữa, nên vào ngày 16 tháng 8 năm Đinh Hợi (30/09/1947) ông đã lặng lẽ rời khỏi cõi đời trong tư  thế thiền tọa sau giờ công phu khuya.

          Sư Nguyệt Chiếu đã ra đi từ sáu mươi năm qua, nhưng sự nghiệp của ông để lại cho đời quả thật là một sự nghiệp đồ sộ :

          - Ông đã trực tiếp đào tạo một một lưc lượng lớn nghệ nhân nghệ sĩ đàn ca tài tử, cải lương và nhạc lễ cổ truyền.

          - Góp phần xây dựng phong trào đàn ca tài tử từ những năm đầu thế kỷ.

          - Chỉnh tu và hệ thống bảy bản bắc lớn để làm nền tảng cho nhạc lễ cổ truyền để từ đó làm cơ sở chấn hưng nhạc lễ Phật giáo ở Nam bộ.

          - Đặc tên cho bản Dạ cổ hoài lang của ông Cao Văn Lầu, đồng thời phổ biến thật rộng bản này trong quần chúng.

          - Các học trò của Sư Nguyệt Chiếu đa số là những nghệ sĩ có đủ bản lĩnh, có khả năng làm cho của bản Vọng cổ như một dòng mạch cứ tuôn chảy cùng khắp non sông đất Việt và cứ lan dần đến nhiều địa phương khác ở nước ngoài. Việc làm tốt đẹp này đúng là công lớn của nghệ sĩ Năm Nghĩa, nhưng nếu truy nguyên về đầu mối của nó cũng từ Sư Nguyệt Chiếu mà ra.

          - Đa số những nghệ nhân trong giới nhạc lễ ở Bạc Liêu đều công nhận Sư Nguyệt Chiếu là một nhạc sĩ tiền bối có công lớn nhất trong việc kế thừa bộ môn nghệ thuật này.

Sư Nguyệt Chiếu đã ra đi từ sáu mươi năm qua, nhưng sự nghiệp của ông để lại cho đời quả thật là một sự nghiệp đồ sộ. Ông đã trực tiếp đào tạo một một lưc lượng lớn nghệ nhân nghệ sĩ đàn ca tài tử, cải lương và nhạc lễ cổ truyền. Ông thực sự là một nhân vật lịch sử văn hóa tích cực đã có những đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh Bạc Liêu - là một trong những người tiên phong xây dựng phong trào đàn ca tài tử và nhạc lễ cổ truyền Nam bộ trong tiền bán thế kỷ XX.

 

CÁC ĐỀ XUẤT :

* Đối với Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu :

          Cũng do Sư Nguyệt Chiếu đã có những đóng góp rất có ý nghĩa như thế, nên thiết nghĩ Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu nghiên cứu và đề xuất với các ngành hữu quan để thực hiện :

          1. Một công trình văn hóa, một đề tài khoa học xã hội nào đó để khai thác và ghi nhận những thành quả về văn hóa nghệ thuật nói chung và văn hóa nghệ thuật của Phật giáo tỉnh Bạc Liêu nói riêng.

2. Ban Văn hóa Phật giáo tỉnh làm tham mưu cho Tỉnh hội lập thủ tục gởi Hội đồng đặt tên đường tỉnh Bạc Liêu đề nghị xem xét và bổ sung những nhân vật lịch sử văn hóa Phật giáo – những con người thật sự có công vào danh sách đặt tên đường phố và công viên ở tỉnh Bạc Liêu.

3. Đề nghị với Nhà nước tỉnh Bạc Liêu thành lập một khu lưu niệm các nhân vật lịch sử văn hóa của tỉnh, nơi đó lưu trữ tác phẩm của từng nhân vật và những tư liệu văn hóa đặc thù của tỉnh Bạc Liêu, để có cơ sở chứng minh và giới thiệu với du khách các nơi : Bạc Liêu là cái noi của bản Vọng cổ, là quê hương của điệu nói thơ Bạc Liêu. Một vùng đất không những có nhiều đặc điểm nổi bật về thành tích đấu tranh trong lịch sử mà còn là một địa điểm hội tụ văn hóa rất phong phú và trữ tình.

* Đối với Ban Nghi lễ Phật giáo Việt Nam :

1. Ban Nghi lễ Phật giáo nên có kế hoạch nghiên cứu bảy bản bắc lớn do Sư Nguyệt Chiếu hiệu đính để xác định những chỗ khác nhau và giống nhau với bảy bản bắc lớn ở các tỉnh miền Trung, miền Đông Nam bộ về tên gọi, về số câu, về chữ nhạc… để từ đó có sự thống nhất dùng các bản này vào chương trình giảng dạy nhạc lễ hoặc áp dụng trực tiếp vào các nghi lễ cổ truyền.

2. Trong việc kế thừa nghi lễ Phật giáo nên có sự đồng bộ và thống nhất. Không chỉ chú ý về y trang, về nghệ thuật xướng tụng mà còn phải chú ý đến nội dung nhạc bản và những bài ca kèm theo. Trong một số buổi lễ hiện nay, nhận thấy có có sư hiện diện của các bài bản mới, nhất là các bản lý. Vấn đề này nên phát huy hay không nên cũng là một trong những việc cần bàn cho thấu đáo.

3. Việc áp dụng chữ Hán để bày trí trong các nghi lễ Phật giáo cũng nên có sự thống nhất, trọng tâm là ở chỗ chọn thể loại chữ Hán. Hiện nay những người phụ trách thường ít chú ý đến phần này, tùy ý chọn lựa lọai chữ và kiểu chữ, có nơi thì thích dùng Chân thư, có chỗ lại dùng Hành thư, trong một vài trường hợp còn có cả Triện, Lệ và Thảo thư… Thiết nghĩ chữ Tiểu Triện tuy ra đời rất sớm nhưng ngoại hình rất uy nghi và bí mật, không mang tính phổ cập; Lệ thư tuy dễ đọc hơn Triện thư, nhưng nét chữ vừa thấp vừa rộng chỉ thích hợp làm bia mộ, bia tháp… hơn là áp dụng trong nghi lễ; Hành thư tuy mang tính nghệ thuật cao nhưng vẻ uy nghiêm của nó đối với các buổi lễ hình như chưa đủ; còn Thảo thư lại càng mang nặng tính nghệ thuật chỉ thích hợp cho các văn sĩ thi nhân. Riêng Khải thư còn gọi là Chân thư là loại chữ viết được sử dụng từ thời Hán tới nay, được phổ biến rất rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, nét chữ vừa đẹp vừa trang trọng rất thích nghi trong các buổi lễ, đề xuất nên chọn loại chữ này để áp dụng chung.

4. Trong chương trình giảng dạy về nghi lễ nên chú ý biên soạn thêm phần lịch sử, nhất là tác giả các bài bản đã và đang được sử dụng, để người đời sau tưởng nhớ đến công ơn của tiền nhân, các vị đã tốn rất nhiều tâm huyết trong việc sưu tầm và trước tác, các vị đã để lại một di sãn văn hóa tốt đẹp cho nhiều thế hệ kế thừa. Việc chú ý về lịch sử nhạc lễ chính là việc làm thể hiện ý nghĩa “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”.

 Trần Phước Thuận

PHỤ LỤC :

 

BẢY BẢN LỚN

Sư Nguyệt Chiếu tu chỉnh và hiệu đính.

Soạn giả Trịnh Thiên Tư ghi lại

trong sách Ca nhạc cổ điển (1962)

 

1.  XÀNG XÊ  (64 câu nhịp tư)

            Lớp nhứt

            1/- x xang xê … xang xạng xê líu cổng

            2/- Tồn u ủ u líu cộng .. hò là xừ xang cổng liu

            3/- Hò xê .. tồn cổng líu líu x cổng xê xang

            4/- Tồn cống xê xạng cống, .. xáng xang u liu, cộng xáng liu

            5/- Tồn u ủ u liu cộng .. cộng, liu ú liu, phàn, liu u

            6/- Tồn xê xừ xể xang  xáng xáng u ủ u liu cộng

            7/- Cộng cộng cộng liu xề phạn ú liu phàn xáng liu

            8/- Tồn u xáng u liu cộng xang, cổng liu

            9/- Hò     xạng là xừ xang cổng

            10/- Là xang xê líu cổngxừ xang cổng, líu

            11/- Hò   tồn cổng líu x cổng xê xang

            12/- Tồn cổng xê xang Liu phàn liu phàn u

            13/- Là xang cống liu cống xể xang xang cổng líu

            14/- Là xang xê líu cổngxừ xang cổng líu

            15/- Hò tồn cổng cổng xể xê xang xừ

            16/- Tồn cổng xê xang xừ xang cổng líu

            17/- Hò tồn liu cồng là hò xự xang

            18/- Tồn cổng xê xạng cổng cống hò x xê xang xừ

            19/- Xề xừ tồn xang xừ xang xế, xừ xang

            20/- Xạng cống xê xang xề, phàn xử la phàn xáng ho

Lớp nhì (lớp Hò)

            21/- Là là là hò xự x xế xang

            22/- Tồn u ủ u liu cộng phàn ú liu phàn liu u

            23/- Là là là hò xự x xế xang

            24/- Là xự xang hò xự xang cống hò x xê xang

            25/- x Tồn líu cổng là hò xự xang

            26/- Tồn cống xê xạng cống cống hò x xê xang xừ

            27 Xề xừ tồn xang xang xế xừ xang

            28/- Xang cống xê xang xề phạn ú liu phàn ú liu

            29/- Tồn u ủ u liu cộng cộng úx liu phàn liu u

            30/- Tồn xể xừ xể xang xáng xáng u ủ u liu cộng

            31/- Cộng cộng cổng liu xề phàn ú liu phàn xáng liu

            32/- Là xang hò xự xang cổng líu x xê xang xự

            33/- Xề tồn cống cống xể xê xang xừ

            34/- Tồn cống xê xang xáng xáng u ủ u liu cộng

            35/- Cộng cộng cộng liu xề xế phàn ú liu, phàn xáng liu

            36/- Tồn u xế xáng u liu cộngxừ xang cổng líu

Lớp ba (lớp Xể)

            37/- x Xề xề x cộng liu xề

38/- Xề cộng x liu xề x cộng ú liu cộng liu xề

            39/- x Xề xề x cộng liu xề

            40/- Xề cộng x liu xề x phàn ú liu phàn xáng liu

            41/- Tồn u ủ u liu cộng phạn liu ú liu phàn liu u

            42/- Tồn xể xừ xể xang xáng xáng u ủ u liu cộng

            43/- Cộng cộng cộng liu xề phàn ú liu phàn xàng liu

            44/- Là xang, hò xừ xang cong líu x xê xang xự

            45/- Xê tồn cổng cống xể xê xang xừ

            46/- Tồn cống xê xang xáng xáng u ủ u liu cộng

            47/- Cộng cộng cộng liu xề phàn ú liu phàn xáng liu

            48/- Tồn u xế xáng u liu cộngxừ xang cổng líu

            49/- x xang là xừ xang cống

            50/- Hò xê là xừ xạng xê liu cổngxừ xang cổng liu

            51/- Hò tồn cổng líu líu x cổng xê xang

            52/- Tồn cống xê xang xừ  liu phàn liu phàn liu u

            53/- Là xừ xang cổng liu cống xê xang xừ xang cống liu

            54/- Là xạng xê líu cổng xang cổng líu

            55/- Hò tồn líu cổng là hò xừ xang

            56/-Tồn cổng xê xạng cống cống hò x xê xang xừ

            57/- Xề tồn cổng cổng xể xê xang xừ

            58/- Tồn cống xê xang xừ xừ xang, cổng liu

            59/- Hò tồn cổng líu líu x cổng xể xang

            60/- Tồn cống xê xang liu phàn liu phàn liu u

            61/- Là xừ xang cổng líu cống xê xang xang cống xang

            62/- Là xạng xê líu cổng  xang cổng líu

            63/- Hò tồn cổng líu líu x cổng xể xang

            64/- Tồn cống xê xàng cống liu xáng u liu x cộng xáng liu

 

              2. NGŨ ĐỐI THƯỢNG (61 câu nhịp tư)

            1/- Tồn u ủ u liu cộng liu x xề cộng liu

            2/- Tồn xáng xế xáng xáng u xáng xáng x cồng liu u

            3/- (Mô láy) U x tồn xang cổng cống xể xê tồn xang

            4/- Tồn xang xang xảng xáng u ủ u liu cộng u ủ liu

            5/- Tồn u ủ u liu u,u,u tồn u x

            6/- Tồn xang xảng xáng xáng cồng liu liu cồng liu liu u

            7/- (Mô láy) U x líu xừ xang cổng líu líu

            8/- Tồn cống líu tồn là cộng (a) tồn xêx

            9/- Líu líu cồng cống cổng xê xàng líu líu liu xự xang

  10/- Tồn cổng líu líu cong hò cống xê xang xự

            11/- Xự xự  tồn xang cống cống xể xê – tồn liu

            12/- Tồn xảng xáng xảng xáng u ú, u, liu công u ú, liu

            13/- Tồn u ủ u liu cộng liu liu cộng liu xừ cộng

            14/- Tồn liu lỉu liu liu xề xê xê xàng xê,liu cổng

            15/- cộng cộng  tồn liu liu lỉu liu liu cộng liu xề

            16/- Tồn là cộng tồn u x xế xàng cộng ú liu

            17/- Ú liu cộng liu liu xề cộng x liu tồn liu .

            18/- Tồn cổng liu liu cống hò cống xê xang xự

            19/- Xự tồn xang cống cống xể xê tồn liu

            20/- Tồn xảng xáng xảng xáng u ủ u liu cộng ủ u liu.

            21/- Tồn u ủ u liu cộng liu liu cộng liu  xừ cổng  

            22/- Tồn u liu cộng lìu liu lỉu liu liu cộng liu xề

            23/- (Mô) x Tồn cổng liu liu x cổng xê xàng

            24/- Tồn cổng liu liu cống hò cống xê xang xự

            25/- Xự   là xự xang

            26/- Xạng liu xàng líu x cổng xể xang

            27/- Tồn xang cống cống   xang xê xế xang

            28/- Tồn ú xáng xáng u liu liu cộng u ú liu

            29/- Tồn u ủ u líu cộng liu liu cộng liu xừ cổng

            30/- Tồn liu liủ liu liu xề xê xê xàng xê liu cổng

            31/- Cổng cổng tồn liu liu lỉu liu liu cộng liu xề.

            32/- Tồn là cộng (a) tồn u x ú liu phàn liu phàn u x

            33/- (Mô) x tồn u u ủ u u liu u

            34/- Tồn là cộng tồn u x xế xế xáng xáng  ú liu

            35/- (Mô) x tồn cộng liu liu cộng liu liu u

            36/- Tồn là cộng tồn u x xáng xáng u ủ u liu cộng

            37/- Cộng cộng  tồn cộng liu liu cộng liu liu u

            38/- Tồn là cộng tồn u x xế xế xáng xáng ủ liu

            39/- (Mô) x tồn u xáng xáng u ủ u liu cộng

            40/- Tồn u liu cộng liu liu líu liu líu cộng liu xề

            41/- Tồn xế xang xê xê xang  xê liu xự

            42/- Xừ x xạng xê x xê xê xàng xê liu cổng

            43/- Cổng cổng  liu xàng xang x xê xàng cổng

            44/- Tồn là cộng tồn xê x líu líu x cổng líu

            45/- Líu líu cổng cống cổng xể xang  là là là là xự xang

            46/- Tồn cổng líu liu   cống hò cống xê xang xự

            47/- (Mô) x Tồn u  u  u u  liu u

            48/- Xáng x xáng liu x liu tồn liu xáng  xáng u

            49/- (Mô) x là là là xự xang

            50/- Xang xệ x liu xự x xàng liu x cổng  xể xang

            51/- Tồn xang cống cống xang xang x xự xế xế xang

            52/- Tồn u xáng xáng u  liu liu cộng u ủ liu

            53/- Tồn u ủ u liu cộng  liu liu cộng liu  xừ cổng (b)

            54/- Tồn u liu cộng liu liu lỉu liu liu cộng liu xề

            55/- Tồn tồn cống x liu liu x cổng xể xang

            56/- Tồn cổng liu liu cống hòcống xê xang xự

            57/- Xự là là là xự xang

            58/- Tồn cổng líu líu cống hò cống xê xang xự

            59/- Tồn xang xế xê xang liu ú liu x xề phạn liu

            60/- Xáng xáng tồn liu u x ú liu phạn liu phạn u

            61/- Tồn là cộng (c) tồn u x u u x xáng tồn u (c)

Lưu ý :(a)  Bản xưa đọc “Tồn tàn tịch” (tàn tức chữ “”, tịch là chụp các ngón lên hai phím xàngliu của hai dây đàn kìm cho đến khi dứt ngân) .

            (b)  Theo cổ nhạc Bạc Liêu thì bản Ngũ đối thượng có câu 53; nhưng theo cổ nhạc miền Đông thì không có câu nầy.

(c) Khi đàn đứt Ngũ đối thượng muốn qua Ngũ đối hạ thì đừng gõ mô mà phải đàn luôn câu thứ nhât của Ngũ đối hạ :“Ú liu phàn liu u tồn xế xáng x cổng líu u

  

NGŨ ĐỐI HẠ (38 câu nhịp tư)

            1/- x Liu u tồn xế xáng x cồng liu u

            2/- Tồn xang xể xê xang lìu ú líu cộng liu xề cộng liu

            3/- Xế xáng u liu u x xế xáng x cồng liu u

            4/- Hò xang cổng liu , cống xê xang xê xang hò là xự

            5/- Xê xang là hò xự xang xê xang xừ xạng xê cổng xang

            6/- Cổng líu xang xừ xể xang líu xáng u liu xề cộng liu

            7/- Ú liu cộng liu cộng x ú liu x xàng xê liu cộng

            8/- Tồn liu xáng u liu xề ú liu cộng liu xề cộng liu

            9/- Xế xang u líu u x xế xáng x cồng liu u

            10/- Hò xang cổng liu cống xê xang xê xang hò là xự

            11/- Xê xang là hò xự xang xê xang xạng xê cổng xang

            12/- Cong líu xang, xừ xể xang líu xáng u liu xề cộng liu

            13/- Ú liu ú xàng x xê xạng xang xê líu cổng

            14/- Xừ cống xê xạng cống xang xự xế xang hò là xự

            15/- Xê xang xang xê líu cổng tồn cống xê xạng cống

            16/- Tồn u xáng u liu cộng líu xê x xang xự hò xự

            17/- Xang líu xang xê x xừ xang x cổng líu

            18/- Tồn cổng líu cổng xê xàng cổng líu x xê xạng

            19/- Là xạng xê líu cổng hò là xừ xang cổng líu

            20/- Tồn u xáng u liu cộng líu xê x xang xừ hò xừ

            21/- Xang liu xang xê hò xừ xang x cổng líu

            22/- Tồn cồng líu cổng xê xàng cộng liu x xề cổng liu

            23/- Ú liu phạn xáng liu x ú liu x cồng liu u

            24/- Tồn xang xể xê xang liu ú liu cộng liu xề cộng liu

            25/- Ú liu ú xàng x xế xang x xừ xế xang

            26/- Cống líu xang xự xể xang xê xang hò hò xự xang

            27/- Tồn u xáng u liu cộng tồn u xáng u liu xề

            28/- Tồn u xáng u liu cộng líu xê x xang xừ hò xừ

            29/- Xang liu xang xê hò xừ xang x cổng liu

            30/- Tồn cổng liu cổng xê xàng cộng liu x xể cộng liu

            31/- Ú liu phạn xáng liu x ú liu x phạn liu u

            32/- Tồn xang xể xê xang liu ú liu cộng liu xề cộng liu

            33/- Ú liu cộng liu cộng x liu xáng u liu cộng liu xề

            34/- Tồn cổng líu cổng xê xàng cổng liu x xê xang xừ

            35/- Xể xang là hò xự xang tồn cổng liu x xê xang xừ

            36/- Tồn xang xể xê xang lìu ú líu cộng liu xề cộng liu

            37/- Xế xáng u liu u x xế xáng x cồng liu u (*)

            38/- Xề liu cộng xề u xế xáng u liu phạn xáng liu

Lưu ý :   (*) Nếu đàn 3 bản Ngũ đối hạ, Long đăng, Tiểu khúc liên tiếp thì ở bản Ngũ đối hạ phải thêm một câu đệm dưới đây vào giữa hai câu 37 và 38 : “Xề liu cộng xề u x xế xáng x cổng liu u

 

LONG ĐĂNG (40 câu nhịp tư)

         1/- Tồn u ủ u liu cộng líu xê x xê liu hò xang xừ

         2/- Xang líu xang xê hò xừ xang x cổng liu

         3/- Tồn cổng liu cổng xê xàng cổng líu xe cộng liu ú

         4/- U liu phàn liu u x xế xáng u liu phạn xàng liu

         5/- Tồn u ủ u liu cộng liu xê x xê liu hò xang xừ

         6/- Xang líu xừ xang xê hòxừ xang x cổng liu

7/- Tồn cổng líu cổng xê xang cống líu x xê xang

         8/- Tồn là cộng tồn xê (a) x xế xang xể x tồn xế xể xang

9/- Tồn xang xế xể xảng liu ú liu cộng liu xề cộng liu

10/- Xế xáng u lìu u x xế xáng x cổng liu u

11/- Tồn là cộng tồn u x hò là xừ xang cổng líu

12/- Tồn là cộng ton xê (a) x xế xang xể x tồn xế xể xang

13/- Tồn xang xế xể xảng liu ú liu cộng liu xề cộng liu

14/- Xế xáng u lìu u x xế xáng x cổng liu u

          15/- Tồn cống xê xang ú liu cồng xừ cổng liu u

16/- Xề liu cộng xáng u x xế xang x ủ xáng líu

17/- Tồn u ủ u liu cộng liu xáng u liu cộng liu xề

18/- Cộng cộng xề cộng líu x ú liu x phàn liu u

19/- Tồn xế xang xừ xế xang xể xang x cồng ú liu

20/- Ú liu cồng liu cồng x liu liu x xê xàng liu cổng

21/- Cộng cộng  tồn liu xáng xáng x ủ liu xề

22/-Cổng xê x xang xừ xang cổng xừ xang x xê líu cổng

23/- Tồn u ủ u liu cộng xể xang x cống xang

24/- Cống cống xể xang x xứ xang líu cổng xể xang

25/- Xạng cống xàng x xê xang x cống xàng líu

26/- Ú liu ú xàng x xế xang x  xừ xế xang

27/- Cổng líu xang xự xế xang xể xang x cồng liu u

28/- Ú liu phàn liu u x u u x xáng tồn liu

29/- Tồn u ủ u liu cộng liu xê x xê liu hò xang xừ

          30/- Xang líu xang xê hò , xừ xang x cổng liu

31/- Tồn cổng líu cổng xê xang cống liu x xê xang

32/. Tồn là cộng tồn xê (a) x xế xang xể x tồn xế xể xang

          33/- Tồn xang xế xể xảng liu ú liu cộng liu xề cộng liu

          34/- Xế xáng u lìu u x xế xáng x cổng liu u

35/- Tồn là cộng tồn u x hò là xừ xang cổng líu

          36/- Tồn là cộng tồn xê  x xế xang xể x tồn xế xể xang

          37/- Tồn xang xế xể xảng liu ú liu cộng liu xề cộng liu

          38/- Xế xáng u lìu u x xế xáng x cổng liu u

          39/- Tồn là cộng tồn u x xế xáng x cổng liu u

          40/- Ú líu phàn liu u x xê xang liu cồng xáng liu

Lưu ý : Nếu chỉ đàn một bản Long đăng thì đàn đủ 40 câu, còn nếu đàn liên tiếp cả bảy bản Lớn thì bản Long đăng chỉ đàn 39 câu (bỏ câu 40).

 

5. LONG NGÂM (33 câu nhịp tư)

1/- x xang x xê liu cồng

          2/- Tồn u  xáng u liu cộng liu xê x xê líu hò xang xừ

          3/- Xang liu xạng xê hò xừ xang x cổng liu

          4/- Tồn cong liu cổng xể xang cổng líu x xê xang xừ

          5/- x xạng x xê líu cổng

          6/- Tồn u xáng u liu cộng líu xê x xang líu hò xang xừ

          7/- Xang líu xừ xang xê hò xừ xang x cổng líu

          8/- Tồn cổng líu cổng xê xang cổng líu  xê xang

          9/- x Xang xang xểx xế xể xang

         10/- Tồn xáng xế xể xảng lìu ú liu x xề phạn liu

         11/- Xáng xáng tồn liu u x ú liu phàn líu phàn u

         12/- Tồn là cộng tồn u x xáng xáng u xáng tồn u

         13/- x Xang xang xế x xể xang xừ

         14/- Tồn xáng xế xế xảng liu xáng xáng u  u liu cộng

         15/- Liu liu x xề cộng liu tồn x u xáng líu

         16/- Xừ xangxừ xang x cổng líu x xê xang xừ

         17/- Tồn xáng xế xể xảng líu ú liu x xề phạn liu

         18/- Ú liu ú xáng x vừ xạng xệ xạng cống xể xang

         19/- Xê x líu cổng x xê xang xừ xang xê hò cống

         20/- x Tồn x xáng x u liu cộng

         21/- Liu liu x xề cộng liu tồn x u  xáng liu

         22/- Xế xáng u xáng u liu cộng liu liu cộng liu xề x

         23/- Cộng tồn liu x u liu phàn líu phàn u

         24/- Tồn xang xừ xể xang xế xáng u xáng u x

         25/- Xế xáng tồn líu x cổng liu u xáng tồn  liu

         26/- x Tồn xáng xế xáng x tồn liu u

         27/-  x Tồn xáng xế xáng x tồn liu u

         28/- Tồn xáng xế xế xảng liu  xế xáng x u xáng liu

         29/- Ú liu cồng liu cồng x xê xàng x xê líu cổng

         30/- Cống cổng x tồn liu x xáng x u liu xề

         31/- Tồn cổng líu cổng xê, xàng cổng líu x xê xàng cống

         32/- Tồn liu xáng u liu cộng liu xạng x x

         33/- Cống cống xàng x  xừ xạng tồn cống xể xang

 

6.  VẠN GIÁ  (47 câu nhịp tư)

         1/- x Tồn liu xáng x u liu xề

         2/- Liu cộng liu xề xang x xự là

         3/- Xự xang xự xang x xừ xang tồn cống xể xang

4/- Xạng xê x xê xang x xê xê xàng xê xàng cổng

5/- Tồn xáng xế xáng liu xáng xáng x u liu xề

          6/- Ú liu cộng cống cổng xê xàng xự x xang xang

          7/- Xự xang xự xang x  xừ xạng cống xể xang

          8/- Xê x liu cổng x xê xang xừ xang xê líu cổng

          9/- x Tồn u xế xáng x u liu cộng

         10/- Liu x xề xề cộng liu tồn u xáng liu

         11/- Xáng xáng u ủ u liu cộng liu liu cộng liu xề x

         12/- Cộng cộng tồn liu x u liu phàn liu phàn u

         13/- Tồn xang xừ xể xang xáng xáng u xáng u x

         14/- Xáng xáng tồn liu x liu tồn u xáng xáng liu

         15/- x Tồn liu xáng xáng u xáng  lìu

         16/- x Xang xế xể xang  xể xế

         17/- Xế x xế xảng x xế xể x xế xảng u

         18/- Tồn xang xế xể xang lìu  xáng xáng u xáng xáng liu

         19/- Ú liu cồng liu cồng x ú liu x xê xàng líu cổng

         20/- x Tồn xể xê xạng xạng

         21/- Cổng x liu xê x cổng liu x xê xang xừ

         22/- Tồn xang xể xê xang lìu ú liu x xề phạn liu

         23/- Xáng xáng tồn liu u x xang xang xừ xang tồn

         24/- Tồn là cộng tồn u  x xang xang xang tồn

         25/- x Xang xề xang xể x xế xang u

         26/- Tồn xang xảng xang xang lìu xáng xáng u ủ u liu cộng

         27/- Liu liu x xề cộng liu tồn x ủ xáng liu

         28/- Xừ xang xừ xang x cổng liu x xê xang xừ

29/- Tồn xang xảng xang xang lìu ú liu x xề phạn liu

30/- Ú ú liu ú xàng x xừ xạng xạng cống xê xang

          31/- Xê x líu cổng x xừ xang xang xừ xang cống

          32/- x Tồn u xáng xáng x u liu cộng

          33/- Liu liu x xề cộng liu tồn u x xáng xáng liu

          34/- Xáng xáng u ủ u liu cộng lỉu liu cộng liu xề x

          35/- Cộng cộng tồn liu x ú liu phàn liu phàn u

          36/- Tồn xang xừ xể xang xáng xáng u xáng u x

          37/- Xáng xáng tồn liu x liu liu xáng xáng liu

          38/- Tồn xế xáng ú liu xáng xáng x u liu cộng

          39/- x Tồn cộng liu liu xcộng liu u

          40/- Tồn u xáng xáng u liu liu cộng liu xề x

          41/- Cộng cộng tồn liu x liu tồn xáng xáng liu

          42/- Tồn xế xáng ủ liu xáng xáng x u liu cộng

          43/- x Tồn cộng liu liu x cổng liu u

          44/- Tồn u xế xáng u liu liu cộng liu xề x

          45/- Cộng cộng tồn liu x liu tồn xế xáng liu

          46/- Tồn xế xáng ú liu xáng xáng x u liu u

          47/- x Tồn u ủ u liu phàn xáng liu x

 

7. TIỂU KHÚC (29 câu nhịp tư)

          1/- Tồn u ủ u liu cộng xừ x cộng liu u

          2/- Liu u x xế xế xảng xế xế xảng xừ liu

          3/- Ú liu x ú liu ú liu x xề cổng liu

          4/- Tồn u xáng u liu cộng xê xàng x xê líu cổng

          5/- Tồn u xáng u liu cộng líu líu x cổng xàng

          6/- Cống xể cống xang x xừ xạng xạng cống xể xang

          7/- Xê cổng xê xàng x xê xàng x xê l

          8/- Tồn u xáng u liu cộng liu xê x xang hò  xừ

          9/- Xang líu xừ xạng xê hò cộng x cộng ú liu

         10/- Xáng cổng liu u x xế xáng x u xáng liu

         11/- Tồn u xáng u liu cộng liu xáng u liu cộng liu xề

         12/- Cống xể xang xừ xang xê cống cổng líu x xê xang xừ

         13/- Xang xê xang xừ xể xang xể xang x cổng ủ liu

         14/- U x xáng liu x xáng xáng u xáng lìu u

         15/- Tồn cống xê xang hò là xang cổng líu

         16/- Xang líu xừ xang cống x líu líu x xê xang xừ

         17/- Tồn xang xừ xể xang xế xang x cồng ú liu

18/- U x xáng liu x liu liu x u xáng liu

19/- U x xáng liu x xáng xáng u ủ u liu cộng

          20/- Tồn u xáng u liu cộng liu xê x xang hò  xừ

          21/- Xang líu xừ xạng xê hò cộng x cộng ú liu

          22/- Xáng cổng liu u x xế xáng x u xáng liu

          23/- Tồn u xáng u liu cộng liu xáng u liu cong liu xề

          24/- Cống xể xang xừ xang xê cống cổng líu x xê xang xừ

          25/- Xang xê xang xừ xể xang xể xang x cổng ủ liu

          26/- U x xáng liu x xáng xáng u xáng lìu u

          27/- Tồn cống xê xang hò là xang cổng líu

          28/- Xang líu xang cống x líu líu x xê xang xừ

          29/- Tồn xang xừ xế xang xế xang x cổng ú liu

----------------------------------

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !