Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Tại sao bản Vọng cổ tồn tại lâu dài và phát trtiển (Sơn Nam)
Tại sao bản Vọng cổ tồn tại lâu dài và phát trtiển (Sơn Nam) PDF In E-mail
Người viết: Sơn Nam   
17/01/2010

TẠI SAO BẢN VỌNG CỔ TỒN TẠI LÂU DÀI PHÁT TRIỂN

* Sơn Nam

          Để trả lời câu hỏi trên, tôi thấy có ba lý do:

          1.- Tính dân gian, của tiết điệu bản Vọng Cổ. – Nhạc tài tử ra đời từ lâu, từ xứ Huế, vào Nam bộ Vọng Cổ là thể loại nhạc tài tử, được thử nghiệm và bổ sung về sau nầy. Nó đáp ứng nhu cầu lớn là đưa những làn hơi dân gian lên một mức cao hơn, để trở thành nhạc tài tử. Từ miền bắc, miền Trung, cùng với lớp người đi khẩn hoang, ta đã tuyển chọn những điệu lý, điệu hò, điệu nói thơ để phổ biến nhất. Những câu lý, câu hò tuy duyên dáng nhưng mỗi điệu chỉ thành công ở vài câu, rồi lặp lại. Đến Vọng Cổ, nghệ nhân vui mừng vì đã có cái khung tốt để dựa vào đó mà phát triển, để nâng dân ca lên về nội dung, về cấu trúc, tạm gọi là tổng hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo.

          Vọng Cổ có thể chấp nhận những điệu lý, điệu hò dân gian, dùng để nói lối, mở đầu – kể cả dân ca của ba miền, rồi sau đó, vào hài. Ngay trong bài bản, người ca có thể nói thơ. Lý hò, miễn là giữ đúng nhịp. Công lao này thuộc về nghệ sĩ Út Trà Ôn, qua bài Tôn Tân giả điên. Xen vào bài ấy có hò, có lý, có nói thơ Vân Tiên, để rồi thành công đầy tính thuyết phục, gây ngạc nhiên thích thú cho những người dầu là khó tánh nhất, không phải là lắp ráp gượng gạo, nhưng là gắn bó hữu cơ. Một lần thử nghiệm, ngay bước đầu, đã thành công lớn. Một thứ vệ tinh  phóng lên, bay vào quỹ đạo thành công. Trong khi nhiều vệ tinh khác chưa chi đã rơi xuống đất.

          Vọng Cổ đã tập trung đến mức ca vì trong thực tế, người nào ca Vọng Cổ thành công thì có thể hò mái đẩy, hò cấy, nói thơ, thậm chí dùng làn hơi của ví dặm Nghệ Tĩnh, tệ lắm là hơn mức trung bình, nghe được. Ngược lại, người hò cấy nói thơ Vân Tiên, hát lý giỏi mà muốn thành công trong Vọng Cổ, phải luyện tập thêm, vì Vọng Cổ ở mức cao hơn. Điều này giải thích tại sao ngày nay ca dao, các điệu dân ca ở đồng bằng sông Cửu Long lần hồi biến mất, chỉ còn là tư liệu sưu tầm để nghiên cứu, trong lớp người già. Với việc giao lưu hàng hóa, đời sống thay đổi và ảnh hưởng của tư sản, thực dân, Vọng Cổ là điệu ca thích hợp nhất. Chèo ghe, lúc mệt mỏi ca vài câu Vọng  Cổ, vừa gọn gàng, vừa sang trọng.

          2.- Lời lẽ của bản Vọng Cổ trong buổi ban đầu, do ông Sáu Lầu đặt ra, nhờ thầy Thống nhuận sắc lại, theo nội dung một thời phổ biến: Tô Huệ chức cấm hội văn. Một kiểu Chinh phụ ngâm, chồng ra đi trấn, xa xôi, vợ ở nhà trông ngóng, cầu mong chồng được mạnh khỏe để “trở lại chốn gia đàng”. Nỗi nhớ mong người ra đi là tâm rạng khái quát, triền miên của người ở quê cũ nhớ người đi xa, cụ thể ở đồng bằng, người ta đi xa vì nhiều lý do, nhất là về sinh kế, với thị trường hàng hóa, với việc khẩn hoang, nhất là phía Rạch Giá – Bạc Liêu ở vùng đất ô rô,  cóc kèn. Ngay thời trước, Cách Mạng tháng Tám, ở Nam bộ vẫn có nhiều lưu dân, từ tỉnh này đến tỉnh kia, rồi từ Lục tỉnh trở về Sài Gòn để làm thuê. Ra đi, châm rễ, gặp bạn bè tốt, sinh kế có triển vọng, thường là khó trở về quê cũ. Nhớ quê cũ của ông bà, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn. Tiềm thức, ngày nay, tâm trạng ấy vẫn là tâm trạng của bao nhiêu Việt kiều xa quê hương. Lúc tập kết, thi hành hiệp định Giơ – neo, tôi tin rằng các đồng chí ta “ở bên kia vĩ tuyến” đã nhớ quê, một cách lành mạnh, qua bài Vọng Cổ. Tính giai cấp rõ nét nhưng không làm mất lòng ai vì bao trùm là tính dân tộc, đề cao nông dân bị áp bức.

          3.- Bản Vọng Cổ vượt qua mọi sự đánh giá nhất thời.Từ cốt lõi do ông Cao Văn Lầu sáng tác lần hồi thiên biến vạn hóa thêm nhịp, do ánh sáng của quần chúng, khởi đầu từ Bạc Liêu, vì vậy gọi vọng Cổ Bạc Liêu, gồm người ca và người nghe, từ khắp Lục Tỉnh, để định hình. Trong thời đại khoa học kỹ thuật, với phương tiện thính thị, điện tử, bản Vọng Cổ vẫn còn sức sống mạnh tính hiện đại. Người Việt ở nước ngoài không có môi trường để đặt và ca Vọng Cổ hay hơn, có tính thuyết phục hơn những nghệ sỹ đang sống trên quê hương. Do đó, về cổ nhạc, không có vấn đề “Vọng Cổ hải ngoại, Vọng Cổ tiền chiến” từ nước ngoài đưa lén, về Tổ quốc, như trường hợp tân nhạc tuyền chuyến. Nghệ sĩ ca vọng Cổ, người đặt lời Vọng Cổ, nghệ sĩ đàn tranh, kìm, ghi – ta ở quê nhà vẫn là chủ nhân về bộ môn ấy.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !