Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Nguyễn Du và đạo Phật (GS Doãn Đại Sĩ)
Nguyễn Du và đạo Phật (GS Doãn Đại Sĩ) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/01/2010

NGUYỄN DU VÀ ĐẠO PHẬT

* GS Doãn Quốc Sĩ

Nói đến Nguyễn Du là nói đến Truyện Kiếu trước hết và dĩ nhiên chúng ta cũng không quên bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của ngườì nữạ. Vậy tốt hơn hết chúng ta hãy “Cảo thơm lần giở trước đèn” để xem đạo Phật đã thể hiện ra sao qua nội dung truyện Kiều. Chúng ta hãy ôn lại Truyện Kiều từ đầu tới cuối. Vào dịp:  Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh. Kiều đã cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân đi chơi xuân, gia nhập vào cảnh: Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Và Kiều đã chúng kiến cảnh nấm mồ hương khói vắng tanh của nàng Ðạm Tiên, một ca nhi tài sắc một thời. Và nàng Kiều đã nói: 

Ðã không kẻ đoái người hoài 

Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương 

Rồi đối cảnh sinh tình: 

Rút trâm sẵn giắt mái đầu 

Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần 

Và Ðạm Tiên đã hiển linh để tạ lòng ngưới tri kỷ khiến Kiều càng xúc động: 

Lòng thơ lai láng bồì hồi 

Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

 Kế đó là cuộc gặp gỡ Kim Trọng – (bạn của Vương Quan) – lần đầu tiên: 

Chàng Vương quen mặt ra chào 

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa 

Tuy nhiên với Kiều thì tình ý có tế nhị hơn: 

Người quốc sắc kẻ thiên tài 

Tình trong như đã mặt ngoaì còn e 

Ðêm đó Kiều mơ thấy Ðạm Tiên tới báo cho Kiều hay là: 

Một mình lưỡng lự canh chầy 

Ðường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh 

Vương bà chợt thức giấc hỏi Thúy Kiều vì sao trằn trọc khóc thầm trong lúc canh khuya như vậỵ, và Thúy Kiều đã thành thực thưa với mẹ về việc Ðạm Tiên báo mộng cho biết số kiếp đoạn trường sau này của cuộc đời nàng. Và Vương Bà đã nói với con: 

Dạy rằng “Mộng huyễn chắc đâu 

Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao! 

Trở lại với chàng Kim thì lòng chàng cũng 

Mành tương phân phất gió đàn 

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình 

Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người 

Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. 

Nhưng mấy lần tới trước cổng nhà Kiều thì: 

Thâm nghiêm kín cổng cao tường 

Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh 

Kim Trọng bèn thuê căn nhà của một thương gia ngay sát bên nhà Kiều: 

Lấy điều du học hỏi Thuê 

Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang 

Nhưng đã hai tuần trăng qua mà chàng Kim vẫn chưa có dịp đươc thấy mặt nàng Kiềụ 

Cho đến một hôm: 

Cách tường phải buổi êm trời 

Dưới đào dường có bóng ngườì thướt tha 

Buông cầm xóc áo vội ra 

Hương còn thơm nức người đà vắng tanh 

Lần theo tường gấm dạo quanh 

Trên đào nhác thấy một cành kim thoa 

Kim Trọng đã vội lấy cành kim thoa chờ lúc Thúy Kiều từ trong nhà trở ra tìm mới lên tiếng: 

Thoa này bắt được như không 

Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về 

Và vào dịp Thúy Kiều xin lại cành kim thoa, Kim Trọng mới có dịp bày tỏ nỗi lòng tương tư của chàng và xin được hứa hôn cùng nàng. Thúy Kiều đã đáp lời chàng: 

Dù khi lá thắm chỉ hồng 

Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha 

Tuy nhiên chàng Kim đã nhân dịp đó mà cùng nàng Kiều: 

Sẵn tay khăn gấm quạt qùy 

Với cành thoa ấy tức thì đôi trao 

Sau đó nhân ngày sinh nhật ngoại gia, cả nhà đi dự duy có nàng Kiều ở nhà một mình mới có dịp 

Cánh hoa sẽ đặng tiếng vàng 

Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông 

Và Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng ngay tại căn phòng thuê của chàng, ngắm bức họa mới vẽ của chàng, và theo lời đề nghị của chàng, Kiều đã: 

Tay tiên gió táp mưa xa 

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu 

Câu chuyện cứ tiếp diễn như vậy, Kiều đã có lần đánh đàn cho Kim Trọng nghe. Lần đó Kim Trọng đã: 

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi 

Và Kiều đã phải cảnh giác chàng:


Thưa rằng: Ðừng lấy làm chơi


Dễ cho thưa hết một lời đã nao 

..
Ra tuồng trên Bộc trong dâu 

Thì con người ấy ai cầu làm chi 

Rồi sau đó Kim Trọng phải về quê Liêu Dương thọ tang chú 
Vương Ngoại bị vu oan, Thúy Kiều lâm cảnh bán mình chuộc tội cho chạ Thế là bắt đầu 15 năm lưu lạc cuả nàng, bán mình cho Mã Giám Sinh – tay sai cuả mụ Tú Bà. Ði một tháng tròn mới tới Lâm Truỵ  Kiều đã dùng dao tử vẫn trước Tú Bà. Trong cơn ngất bằn bặt này, Kiều đã gặp lại Ðạm Tiên và được nàng cho hay: 

Rỉ Rằng: “Nhân quả dở dang 

Ðã toan trả nợ đoạn trường được sao 

Số còn nặng nghiệp má đào 

Nàng dù muốn quyết trời nào đã cho 

Hãy xin hết kiếp liễu bồ 

Sông Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau.” 

Tới đây chúng ta mới thấy Nguyễn Du đề cập tới nhân quả của nhà Phật, nghiệp cuả Nhà Phật 

Trước ý chí cương quyết cuả Kiều, Tú Bà nhượng bộ, và Kiều được ra ở lầu Ngưng Bích. Tại đây Sở Khanh xuất hiện nói là sẽ ra tay tế độ cưú nàng. Nhưng khi Kiều đã ưng theo lời Sở Khanh thì Sở Khanh lẩn trốn và Tú Bà đã bắt Kiều trở lại lầu xanh tại Lâm Truỵ. Nơi đây Kiều gặp được Thúc Sinh - đã có vợ Cả là Hoạn Thư - ra tay tế độ cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả lại Kiều về chốn lầu xanh. Nhưng qua lời thú thực cuả Thúc Sinh, phủ Quan được biết Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ. Phủ Quan ra lệnh Kiều đề thơ và khi xem bài thơ của Kiều phủ Quan đã phải thốt lên: 

Khen rằng giá đáng thịnh đường 

Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân 

Và Thúc Ông cũng đổi thái độ mà: 

Thương vì hạnh trọng vì tài 

Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba 

Suốt một năm ròng hương lửa, Kiều khuyên Thúc Sinh nên về thăm vợ cả Hoạn Thư: 

Xin chàng kíp liệu lại nhà 

Trước người đẹp ý sau ta biết tình 

Nhưng Thúc Sinh đã không làm theo lời khuyên của nàng 
Vì nghĩ rằng “Nào ai có khảo mà mình lại xưng” 

Sau khi đã xum họp vợ Chồng với Hoạn Thư, đã tới thời Thúc Sinh trở lại Lâm Truy gặp lại Kiềụ Thúc Sinh đi theo đường bộ, Hoạn Thư sai gia nhân đi đường biển gần hơn tới Lâm Truy trước đó để bắt Kiều về. Trong khi đó với Kiều thì: 

Ðêm thu gió lọt song đào 

Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời 

Nén hương đến trước Phật đài 

Nỗi lòng khấn chưả cạn lời vân vân 

Dưới hoa dậy lũ ác nhân 

Ầm ầm khốc quỷ Kinh thần mọc ra 

Kiều bị tưới thuốc mê mang đi, và để khiến mọi người sau đây tưởng lầm là Kiều đã chết bèn bày bàn thờ: 

Sẵn thây vô chủ bên sông 

Ðem vào để đó lộn sòng ai hay 

Quả Nhiên khi đám gia nhân cuả Thúc Ông tới dập tắt lưả cháy thì: 

Chạy vào chốn cũ phòng hương 

Trong tro thấy một đống xương cháy tàn 

Thì ngay tình tin là Kiều đã chết cháỵ Thúc Ông bèn cho thu lượm gom lại, khâm liệm làm tang lễ. Thúc Sinh cũng vừa về tới và dĩ nhiên cũng tin là Kiều đã chết cháỵ. Nhưng gần miếu có một Thầy “Cao tay thông huyền” Thúc Sinh bèn tìm đến hỏi thì được Thầy cho biết: Kiều “Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho”. Hãy đợi một năm nưã thì sẽ biết tin! Và chính vào dịp này Thúc Sinh sẽ lâm vào tình trạng trớ trêu: 

Hai bên giáp mặt triền triền 

Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay 

Thúc Sinh không tin lời ông Thầy và nghĩ rằng 

Chẳng qua đồng cốt quàng xiên 

Người đâu mà lại thấy trên cõi trần 

Trong khi đó Khuyển Ưng đã khiêng Kiều xuống thuyền và: 

Buồm cao lèo thẳng cánh suyền 

Dè chừng huyện tích băng mình vượt sang 

Kiêu bị đánh đòn rồi bị chuyển thành thị tì với tên là Hoa Nô. 
Bà quản gia thương Kiềụ, Hoạn Thư vào dịp nghe Kiều đàn cũng cảm thương mà nới taỵ 

Thế là Kiều không được dip gặp Thúc Sinh ở Lâm Truỵ. Thúc Sinh đành rời Lâm Truy trở về gia hương. Hoạn Thư đón mừng sai Kiều ra chàọ Thúc Sinh biết mình đã mắc mưu ai rồị. Vị trí Kiều với Thúc Sinh nay đã biến đổi thành con ở và chủ nhà. Và khi Kiều bị Hoạn Thư bắt gãy đàn thì Hoạn Thư và Thúc Sinh ở hai tâm cảnh khác nhau: 

Cũng trong một tiếng tơ đồng 

Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm. 

Sau đó Hoạn Thư nguôi ngoai cơn ghen và theo lời Thúc Sinh cho Kiều tu tại Quan Âm Các ở ngay vườn nhà với pháp danh Trạc Tuyền: 

Áo xanh đổi lấy Cà Sa 

Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền 

Nhân dịp Hoạn Thư về nhà vấn an cha mẹ, Thúc Sinh vội tìm gặp Kiều, khuyên Kiều hãy nên cao chạy xa bay: 

Liệu mà cao chạy xa bay 

Ái ân ta có ngần này mà thôi 

Bây giờ kẻ ngược người xuôi 

Biết bao giờ lại nối lời nước non 

Dẫu rằng sông cạn đá mòn 

Con tằm đến thác cũng còn vương tơ 

Vừa lúc đó Hoạn Thư xuất hiện, nói là: 

Tìm hoa quá bước xem người viết kinh 

Nhưng sau đó hỏi hoa tì Kiều được hoa tì cho hay:


Hoa rằng bà đến đã lâu 

Nhón chân đứng nép độ đâu nửa giờ 

Do đó Kiều hốt hoảng tự nhủ thầm: 

Thân ta ta phải lo âu 

Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này 

Và Kiều đã trốn khỏi Quan Âm Các vào khoảng canh ba mang theo chuông vàng khánh bạc để phòng thân. Ði miệt vừa rạng sáng thì: 

Chuà đâu trông thấy nẻo xa 

Rành rành Chiêu Ẩn Am ba chữ bài 

Tại dây Kiều đã gặp Sư Trưởng Giác Duyên nói thác là: 

Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh 

Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu 

Bản sư rồi cũng đến sau 

Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh 

Rày vâng diện hiến rành rành 

Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra 

Trong thời gian được lưu trú lại chùa Kiều đã: 

Kệ kinh câu cũ thuộc lòng 

Hương đèn việc trước trai phòng quen tay 

Sớm khuya lá bối phiến mây 

Ngọn đèn khuê nguyệt tiếng chày nện sương 

Thấy nàng thông tuệ khác thường 

Sư càng nể mặt nàng càng vững chân 

Chẳng may có người tới thăm chùa nói với sư trưởng “chuông vàng khánh bạc sao giống loại chuông vàng khánh bạc đã mất cắp tại chùa nhà Hoạn Thư. 

Chờ đêm thanh vắng Giác Duyên hỏi Kiều, Kiều thực tình thưa lại sự tình. Giác Duyên khuyên Kiều hãy sang ở tạm nhà Bạc Bà – một Phật tử thường hay lui tới chùa nàỵ 

“Ai ngờ Bạc Bà cùng với Tú Bà đồng môn”. Bạc Bà khuyên Kiều hãy lấy cháu mình là Bạc Hạnh tính tình thực thà, có cửa hàng buôn bán ở Châu Thai, 2 người lấy nhau rồi sẽ trở về Châu Thaị. Ngay phút đầu gặp mặt Kiều đã sinh nghi: 

Thiếp như con én lạc đàn 

Phải cung rày đã sợ làm cây cong 

Quả thực sau này vỡ lẽ: Bạc Hạnh cũng là người buôn người và y đã bán Kiều vào lầu xanh. May thay lần này Kiều gặp được Từ Hải và được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh để: 

Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên 

Phỉ Nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng 

Nhưng: 

Nửa năm hương lửa đương nồng 

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương 

Thế là Từ Hải lại ra đi mong sớm thực hiện chí lớn. Ở lại một mình Kiều nhớ nhà, nhớ các em, nhớ chàng Kim. 

Từ Hải đã thành công. Binh tướng cuả Từ Hải tới đón Kiều để làm lễ vu quy. Ðây là dịp để Kiều trả ân báo oán. Trước hết Kiều báo ân Thúc Sinh, Giác Duyên…sau đó báo oán: Bạc Hạnh , Bạc Bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng, Tú Bà, Mã Giám Sinh. 

Giác Duyên – Vì trước đó đã được gặp sư Tam Hợp có tài tiên tri nên khi từ biệt Thúy Kiều đã khẳng định với Kiều là trong 5 năm nữa sẽ lại gặp nhaụ. 

Hồ Tôn Hiến thuyết Từ Hải hãy quy hàng triều đình để được hưởng công danh phú quý. Từ Hải không muốn hàng, nhưng Kiều nhẹ dạ cả tin cố thuyết phục Từ Hải. Vì nghe theo Kiều, Từ Hải đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Từ Hải chết đứng vì uất ức. Kiều gắng xin Hồ Tôn Hiến một mảnh đất để chôn Từ Hải: 

Xin cho tiện thổ một đời 

Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh 

Tối hôm đó vào lúc tiệc mừng chiến thắng Hồ Tôn Hiến đã ép Kiều phải vào đánh đàn: 

Trong quân mở tiệc hạ công 

Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan 

Bắt nàng thị yến dưới màn 

Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu 

Một cung gió thảm mưa sầu 

Bốn dây nhỏ Máu năm đầu ngón tay 

Ve ngâm vượn hót nào hay 

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu 

Và Hồ hỏi Kiều có muốn làm lại cuộc đời kết duyên cầm sắc với ai không? Kiều đã trả lời: 

Thưa rằng: chút phận lạc loài 

Trong mình nghĩ đã có người thác oan 

Còn chi nữa cánh hoa tàn 

Tơ lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lâm 

Rộng thương còn mảnh hồng quần 

Hơi tàn đuốc thấy gốc phần là may 

Ðến lúc rạng ngày Hồ Công hối hận việc ép Kiều đánh đàn cho mình nghe hôm trước: 

Nghĩ mình phương diện quốc gia 

Quan trên nhắm xuống người ta trông vào 

Bèn gán ép Kiều cho một người thổ quan: 

Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền 

Và: 

Triều đâu nổi tiếng đùng đùng 

Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Ðường 

Kiều sực nhớ lại lời Ðạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng: 

Sông Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau 

Thế là Kiều quyết định ngay: 

Thôi thì một thác cho rồi 

Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông 

Trông vời non nước mênh mông 

Ðem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang 

Thổ quan theo vớt vội vàng 

Thì đà đắm ngọc chìm hương mất rồi 

Trở lại với Giác Duyên, từ thuở giã biệt Kiều để tiếp tục trên đường vân du, Sư bà đã có dịp gặp Tam Hợp đạo cô bèn hỏi Ðạo cô về trường hợp của Kiều: 

Người sao hiếu nghĩa đủ đường 

Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi 

Sư bà được đạo cô cho hay là: 

Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan 

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành 

Lại mang lấy một chữ tình 

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong 

Khi thầy Giác Duyên nghe nói rụng rời đạo cô bèn trấn an ngay: 

Sư rằng song chẳng hề chi 

Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều 

Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều 

Mắc điều tình ái khỏi đường tà dâm 

Lấy tình thâm trả nghĩa thâm 


Bán mình đã động hiếu tâm đến trời 

Hại một người cứu muôn người 

Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng


Thửa công đức ấy ai bằng 

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi 

Như vậy là Kiều đã “đức năng thắng số”. Ðạo cô khuyên: 

Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau 

Tiền đường thả một bè lau rước người 

Giác Duyên làm đúng theo lời chỉ dẫn của Tam Hợp đạo cô 
Vì vậy đã cứu được Thúy Kiều khi nàng gieo mình xuống sông Tiền Ðường và mời Kiều về thảo lư ở với mình: 

Một nhà chung chạ sớm trưa 

Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng 

Bốn bề bát ngát mênh mông 

Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau 

Trở về chuyện chàng Kim. Chàng ở Liêu Dương nửa năm, khi chàng trở về chốn cũ mới hay Kiều đã bán mình chuộc tội cho cha Vương Quan với Thúy Vân sống nghèo túng, may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi. Ông bà Viên ngoại còn sống. Thấy chàng Kim thương nhớ Kiếu, Vương Ông quyết định vội vàng sắm sưả chọn ngày để: 

Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng 

Sau đó Vương Quan, Kim Trọng thi đỗ. Kim Trọng đi nhậm chức tại Lâm Truy, gặp Thúc Sinh mới hay về chuyện Từ Hải chết đứng. Và Kim Trọng quyết định đi tìm Kiều: 

Rắp mong treo ấn từ quan 

Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha 

Dấn mình trong áng can qua 

Vào sinh ra tử họa là có nhau 

Vừa lúc đó có chiếu vua cải nhận Kim Trọng tới Nam Bình, Vương Quan tới Phú Dương. Hai chàng cùng chuẩn bị lên đường thì vưà hay thế giặc đã tan: 

Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang 

Và: 

Ðược tin Kim mới rủ Vương 

Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa 

Tới Hàng Châu tìm hỏi tin tức mới hay chuyện Từ Hải chết đứng, Thúy Kiều bị ép duyên cho thổ quan đã trầm mình xuông sông Tiền Ðường. Thật tội nghiệp: cả nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Hai chàng bèn làm lễ chiêu hồn giải oan ngay bên bờ sông Tiền Ðường thì may sao: 

Cơ duyên đâu bỗng lạ Sao 

Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi 

Vì gặp Giác Duyên mọi người mới biết Thúy Kiều còn sống. Kiều gặp đủ mặt người thân: 

Tưởng bây giờ là bao giờ 

Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao 

Nhưng khi Vương Ông bảo Kiều hãy theo mọi người cùng về thì Kiều đã thưa lại: 

Nàng rằng: Chút phận hoa rơi 

Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay 

Tính rằng mặt nước chân mây 

Lòng nào còn tưởng có rày nữa không 

Ðược rày tái thế tương phùng 

Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay 

Ðã đem mình bỏ am mây 

Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa 

Mùi thiền đã bén muối dưa 

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng 

Sự đời đã tắt lửa lòng 

Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi 

Vương Ông vẫn khuyên Kiều hãy quay về xum họp, vì chấp kinh cũng phải tòng quyền rồi: 

Ðộ Sinh nhờ đức cao dày 

Lập am rồi sẽ rước Thầy ở chung 

Và Kiều đã: 

Nghe lời nàng phải chiều lòng 

Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra 

Về tới nhà trong bữa tiệc xum họp nàng Vân tuyên bố là xưa vì nạn nhà mà mối duyên của chị với chàng Kim nàng phải đứng ra thay chị nhưng: 

Bây giờ gương vỡ lại lành 


Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi 

Còn duyên may lại còn người

Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa 

Kiều gạt phắt lời em, vì nghĩ thân mình dãi gió dầm mưa đã nhiều 
Chàng Kim khăng khăng góp ý với Kiều: 

Một lời đã chót thâm giao 

Dưới dày có đất trên cao có trời 

Dẫu rằng vật đổi sao dời 

Tử Sinh cũng giữ lấy lời tử Sinh 

Kiều vẫn cương quyết khước từ và thưa thẳng với chàng Kim: 

Thiếp từ ngộ biến đến giờ 

Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa 

Bấy chầy gió táp mưa sa 

Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn 

Và nàng đề nghị hãy từ tình duyên đổi sang tình bạn: 

Chàng dù nghĩ đến tình xa 

Ðem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ 

Chàng Kim vẫn cương quyết nói với nàng là chữ trinh kia cũng có ba bảy đường: 

Như nàng lấy hiếu làm trinh 

Bụi nào cho đục được mình ấy vay 

Trời còn để có hôm nay 

Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời

Hoa tàn mà lại thêm tươi 

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa 

Cả Vương Ông, Vuơng Bà cùng chàng Kim dồn Thúy Kiều vào thế hết lời khôn lẽ chối lời 

Cúi đầu nàng những ngắn dài thở than 

Và nàng chịu làm lễ đủ đôi với chàng. 

Nhưng đêm hôm đó trong phòng chỉ còn riêng hai người nàng mới thỏ thẻ nói lại với chàng lý lẽ của mình. Em Vân đã thay nàng trả nợ tình xưa, còn mình thì: 

Chữ trinh còn một chút này 

Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan 

Còn nhiều ân ái chan chan 

Hay gì vẫy cánh hoa tàn mà chơi 

Sau cùng Kim Trọng hoàn toàn đồng ý với nàng đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ. Chàng cũng khẳng định là 

Bấy lâu đáy bể mò kim 

Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa 

Ai ngờ lại họp một nhà 

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm 

Và Kiều đã sửa áo cài trâm khấn đầu lạy tạ Chàng Kim: 

Thân này gạn đục khơi trong 

Là nhờ quân tử khác lòng người ta 

Sau đó Kim Trọng lại yêu cầu cho nghe lại tiếng đàn xưa của nàng. Nàng thuận tình chiều ý chàng nhưng lần này thì 

Khúc đâu đầm ấm dương hòa


Ấy là hồ điệp hay là Tráng sinh 

Khúc đâu êm ái xuân tình 

Ấy hồn Thục đế hay mình Ðỗ Quyên 

Trông sao châu nhỏ duềnh quyên 

Ấm sao hạt ngọc Lam Ðiền mới đông 

Thúy Kiều cũng không quên 

Nhớ lời lập một am mây 

Khiến người thân tín rước Thầy Giác Duyên 

Nhưng: 

Ðến nơi đóng cửa cài then 

Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà 

Sư đà hái thuốc phương xa 

Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu 

Nặng vì chút nghĩa bấy lâu 

Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai 

Thúy Kiều tiếp tục cuộc sống thảnh thơi hạnh phúc của kẻ đã trả nợ xong nghiệp cũ: 

Một nhà phúc lộc gồm hai 

Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần 

Thừa ai chẳng hết nàng Vân 

Một cây cù mộc một sân quế hòe 

Và Nguyễn Du đã kết thúc Truyện Kiều với những lời thơ đề cập tới chữ tài, chữ mệnh , chữ tâm, thiện căn và nghiệp nơi con người: 

Ngẫm hay muôn sự tại trời 

Trời kia đã bắt làm người có thân 


Bắt phong trần phải phong trần 

Cho thanh cao mới được phần thanh cao 

Có đâu thiên vị người nào 

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai 

Có tài mà cậy chi tài 


Chữ tài liền với chữ tai một vần 

Ðã mang lấy nghiệp vào thân 

Cũng đừng trách lẫn trời gần xa 

Thiện tâm ở tại lòng ta 

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài 

Lời quê chắp nhặt dông dài 

Mua vui cũng được một vài trống canh 

Như vậy là đọc lại từ đầu đến cuối Truyện Kiều, chúng ta thấy cụ Tiên Ðiền đã 6 lần đề cập đến đạo Phật hoặc qua nhân vật hoặc qua tình tiết truyện. 

Lần thứ nhất: Khi Kiều dùng dao tự vẫn trước Tú Bà, trong cơn ngất bằn bặt Kiều đã được Ðạm Tiên báo cho hay: 

Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang 

Ðã toan trốn nợ đoạn truờng được sao 

Số còn nặng nợ má đào 

Người dù muốn quyết trời nào đã cho 

Hãy xin hết kiếp liễu bồ 

Sông Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau 

Như vậy là lần thư nhất này qua lời báo mộng của Ðạm Tiên , Nguyễn Du đã đề cập đến luật nhân quả và chữ nghiệp cuả nhà Phật 

Lần thứ hai: Khi biết Thúc Sinh “vườn mới thêm hoa” (gian díu với Thúy Kiều), Hoạn Thư đã: 

Lửa tâm càng dập càng nồng 

Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa 

Hai chữ lửa tâm trên đây cũng đượm phần giáo lý cuả Nhà Phật 

Lần thứ ba: Khi Thúc Sinh trở lại Lâm Truy bằng đường bộ để gặp lại Thúy Kiều thì Hoạn Thư đã sai lũ gia nhân đi bằng đuờng biển gần hơn bắt Thúy Kiều 

Trong khi đó với Kiều khi chưa bị lũ gia nhân cuả Hoạn Thư tới bắt thì 

Ðêm thu gió lọt song đào 

Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời 

Nén hương đến trước Phật đài 

Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân 

Theo lời bàn xưa thì hình ảnh “nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời cũng là gián tiếp nhắc đến chữ Tâm của đạo Phật 

Lần thứ tư: Khi Kiều đã bị bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai của Mụ Tú Bà, tới đây Nguyễn Du qua lời Ðạm Tiên nói với Thúy Kiều đã đề cập tới Luật nhân quả và chữ Nghiệp trong đạo Phật: 

Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang 

Ðã toan trả nợ đoạn trường được sao 

Số còn nặng nghiệp má đào 

Nàng đà muốn quyết trời nào đã cho 

Lần thứ năm: Khi Kiều trầm mình xuống sông Tiền Ðường nàng được sư bà Giác Duyên cứu sống và Kiều đã theo về thảo lư chung sống với sư bà. 

Lần thứ sáu: Với sáu câu sau cùng cuả Truyên Kiều cụ Nguyễn Du đã dùng đến chữ Nghiệp và chữ Tâm cuả Nhà Phật để hàm ý khuyên chúng ta một nếp sống tâm linh lành mạnh: 

Ðã mang lấy nghiệp vào thân 

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa 

Thiện căn ở tại lòng ta 

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài 

Lời quê chắp nhặt dông dài 

Mua vui cũng được một vài trống canh. 

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,

Cập nhật ( 17/01/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online