Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Tinh thần an cư trong Phật giáo thời Trần (ĐĐThS Thích Phước Đạt)
Tinh thần an cư trong Phật giáo thời Trần (ĐĐThS Thích Phước Đạt) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
28/01/2010

TINH THẦN AN CƯ TRONG PHẤT GIÁO THỜI TRẦN

* ĐĐTS Thích Phước Đạt

Không phải ngẫu nhiên, đến đời Trần, Thiền  phái Trúc Lâm, còn gọi  là Phật giáo Nhất tông được thành lập và đi vào hoạt động trên cơ sở hợp nhất ba thiền phái đã có sẵn trước đó: Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Thiền phái Vô Ngôn Thông, và Thiền phái Thảo Đường. Dưới sự lãnh đạo tối cao của Phật hoàng Trần Nhân Tông, lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ, một tổ chức Giáo hội nước ta với tên gọi Giáo hội Trúc Lâm ra đời, nhằm đáp ứng nhu cầu vận động của lịch sử nước nhà trong tiến trình xây dựng, phát triển đạo pháp và dân tộc.

Thực tế, vào thời Lý, Phật giáo trở thành quốc giáo, có ba phái Thiền cùng tồn tại, vua Lý Thánh Tông cũng được xem như là Tổ thứ hai của Thiền phái Thảo Đường. Thế nhưng Phật giáo đời Lý không có tổ chức Giáo hội. Các chức vụ như Quốc sư, Tăng thống, Tăng lục v.v... là những chức vụ của triều đình, do vua ban, chứ không phải những chức vụ của Giáo hội. Với sự thành lập của Giáo hội Trúc Lâm, các nhà lãnh đạo Phật giáo thời đó, cụ thể là Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang muốn thống nhất tất cả Tăng sĩ nước nhà vào trong một Giáo hội, trên cơ sở thống nhất trong một hình thức tổ chức, quản lý, điều hành theo cương lĩnh, tôn chỉ, chủ trương, đường lối hoạt động, sinh hoạt cụ thể của Phật giáo. Hẳn nhiên, tổ chức Giáo hội Trúc Lâm luôn hoạt động song hành cùng với tổ chức Nhà nước, quốc gia, dân tộc, bởi vì Giáo hội luôn được triều đình ủng hộ trên mọi phương diện.

Do đó, ta chẳng ngạc nhiên gì, Giáo hội Trúc Lâm đã tổ chức xây dựng hệ thống quản lý hành chính rất chặt chẽ từ trung ương cho đến địa phương. Về mặt Tăng sự; từ việc tổ chức giới đàn thụ giới, chương trình tu học An cư kiết hạ, cấp chứng điệp tăng tịch, cho đến việc sinh hoạt quản trị Giáo hội. Nói chung, mọi hình thức hoạt động, trên các lĩnh vực khác nhau như học thuật, tín ngưỡng, kiến trúc, xây dựng các tu viện, thiền viện, danh lam thắng cảnh… đều phải theo chủ trương chung của Giáo hội. Thực tiễn cho thấy, mỗi khi tổ chức Giáo hội được thống nhất thì mọi sự sinh hoạt của Tăng già mới được thành tựu và phát triển theo định hướng nhất quán. Cho nên, viêc tổ chức quản lý Tăng sự bao giờ cũng được xem là công tác Phật sự hàng đầu của một tổ chức Giáo hội Tăng già. Trong đó, vấn đề tổ chức an cư kiết hạ, chương trình tu học, cấp độ điệp tăng tịch cho chư Tăng được giới lãnh đạo Phật giáo thời Trần chủ trương là vấn đề trọng điểm, là huyết mạch của Tăng già trong việc truyền đăng tục diệm, phát triển đạo pháp, góp phần bảo vệ, xây dựng và tái thiết đất nước sau ba cuộc chiến thần thánh đánh đuổi quân Nguyên - Mông.

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang thì vào thời Trần, Phật giáo Trúc Lâm đã tổ chức thụ giới cho hàng xuất gia học đạo qua các giới đàn; theo thống kê, con số lên đến 15.000 vị. Tại tu viện Quỳnh Lâm là nơi có lưu trữ hồ sơ của tất cả Tăng sĩ thuộc Giáo hội Trúc Lâm. Những tu sĩ nào có độ điệp (thẻ Tăng tịch) hưởng được các quyền lợi, những điều kiện dễ dàng trong khi đi giáo hóa, du hành, khảo cứu, chiêm bái mọi nơi, được các môn phái tiếp đón khi đến bất cứ chùa nào. Những tu viện lớn như Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Quỳnh Lâm, Siêu Loại, Vĩnh Phúc, Báo Ân, An Lạc Tàng Viện… là những đạo tràng an cư kiết hạ có sự bảo trợ của triều đình, ưu tiên cho những Tăng sĩ thuộc Giáo hội Trúc Lâm . Theo sử sách ghi lại, bất cứ vị Tăng sĩ nào trong thời Trần đều cũng được ao ước trở về Yên Tử hay những đạo tràng an cư lớn để kiết hạ như là được sống trên Thánh địa, “đại bản sơn” của Phật giáo Trúc Lâm được xem là Phật quốc, chẳng khác nào Tây Trúc, Linh Thứu mà Đệ tam Tổ Trúc Lâm Huyền Quang mô tả trong bài "Vịnh Vân Yên tự phú" bằng chữ Nôm. Hàng năm, chùa Yên Tử tổ chức an cư kiết hạ ba tháng và Tăng sĩ bốn phương trở về rất đông, đến nỗi phải cất thêm nhiều dãy nhà tạm để có đủ chỗ cư trú. Sách Tam Tổ Thực Lục còn ghi rằng, chính Pháp Loa là người đứng ra kiểm tra việc cư trú các tự viện, tăng thân, tăng tịch và đã cho xây cất thêm 200 Tăng đường để làm nơi cư trú và tu học, dịch thuật cho Tăng sĩ trong thời gian lưu trú. Rõ ràng, việc tham gia an cư kiết hạ của mỗi thành viên Tăng già là cơ sở để tự xác lập mình là thành viên Giáo hội, sinh hoạt trong một tổ chức Tăng già hòa hợp thanh tịnh từ trong ý chí, tư tưởng và hoạt động Phật sự cụ thể. Trên hết là vị Tăng đó được trưởng dưỡng đạo tâm, thành tựu phạm hạnh, có khả năng độ mình và độ người trong việc hoằng dương đạo pháp, đóng góp cho nước nhà trong việc xây dựng, phát triển đất nước.

Do đó, việc tổ chức an cư kiết hạ từ rằm tháng Tư cho đến rằm tháng Bảy, hẳn nhiên được giới lãnh đạo Phật giáo tổ chức một cách quy mô, mang tính hệ thống, có sự tham gia bảo trợ của triều đình về mặt pháp lý và cả phương tiện vật chất để chư Tăng, Ni an tâm tu học. Các thành viên Tăng già tập hợp để thực hiện nghi thức kiết giới, quy định ranh giới của sự cư trú trong ba tháng. Kể từ giờ phút đó, không có một vị nào có quyền ra khỏi ranh giới đó. Trong trường hợp khẩn cấp, hoặc bất khả kháng, vị Tăng chỉ có thể ra khỏi cương giới nếu có yết ma giải giới trong vòng 24 hoặc 48 tiếng đồng hồ cho vị Tăng này. Hết mùa an cư, chư Tăng Ni thực hiện lễ giải giới và lễ Tự tứ và được Giáo hội công nhận thêm 1 tuổi hạ.

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, giới Tăng sĩ thời Trần rất đông, có thể lên đến 30.000 vị. Nguyên tắc tu học, sinh hoạt trong đạo tràng an cư thời Trần, với số lượng chư Tăng Ni đông đảo như thế, tất nhiên theo truyền thống Phật chế là dựa trên nguyên tắc Lục hòa để quản lý và điều phối các sinh hoạt Tăng già. Chẳng hạn, tu viện Quỳnh Lâm là một trong những đạo tràng an cư kiểu mẫu thời đó, một trong những cơ sở thuộc Giáo hội Trung ương. Đây cũng là một trong những ngôi chùa lớn được triều đình bảo hộ, có số lượng chư Tăng an cư rất đông, được nhà nước cấp đất để cày ruộng, có tới 1.000 mẫu, lại được nhà nước chỉ định 1.000 canh phu tới cày ruộng cho chùa. Và như thế, chư Tăng chỉ dồn hết tâm lực lo việc tu học, giảng dạy, giáo hóa đồ chúng theo một chương trình mà Giáo hội hoạch định cụ thể. 

Căn cứ vào các thư tịch còn lại như Khóa hư lục,  Lục thời sám hối khoa nghi của Trần Thái  Tông; Thiền Lâm thiết chủy ngữ lục, Thạch  thất mỵ ngữ, Cư trần lạc đạo phú… của Sơ tổ Trúc Lâm; Tham thiền yếu chỉ, Pháp sự khoa văn của Nhị tổ Pháp Loa; hoặc các thư tịch như Tam tổ thực lục, Thánh đăng lục… thì ta thấy, chương trình tu học trong ba tháng an cư được thiết lập với quy củ thiền môn đậm nét Phật giáo Đại Việt. Chủ trương của Phật giáo Trúc Lâm là “Phật tại tâm”, bất cứ ai chỉ cần lòng lặng mà biết đều trở thành thành viên của Phật giáo, trở thành vị Phật ở thế gian, đi vào đời để độ đời, như lời Quốc sư Trúc Lâm từng khuyến cáo vua Trần Thái Tông:“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm. Lòng lặng mà biết, đó chính là chân Phật” (1). Thế nên, Tam tổ thực lục ghi rằng các tu viện thời này, thường áp dụng nghi thức Lục thời sám hối khoa nghi của Trần Thái Tông, người đặt nền móng tư tưởng cho thiền phái Trúc Lâm ra đời. Đây là phương thức hành thiền phù hợp với tâm thức người Việt, bằng cách sám hối, tẩy rửa 6 căn khi tiếp xúc với 6 trần, ứng với 6 thời trong ngày. Mục đích là đưa hành giả trở về chân tâm thanh tịnh. Cũng theo sách này, Pháp Loa và Huyền Quang vẫn chủ trương cho các hành giả hành Mật giáo, Tịnh độ theo phong thái thiền, nghĩa là trì tụng thần chú để gia trì định lực; niệm Phật để hướng đến nhất tâm bất loạn.

Thời khóa tu tập của chư Tăng, Ni trong các thiền đường đời Trần, hầu như được các vị Thiền chủ, Ban Quản trị bố trí kín từ 4 giờ cho đến 22 giờ, chỉ tịnh. Ngoài việc chấp tác, thực thi các thời khóa, quá đường, tọa thiền, các hành giả còn tham gia học Luật, các buổi giảng kinh Đại thừa, tham dự các buổi đại tham, tiểu tham do Tam tổ Trúc Lâm chủ trì. Rõ ràng, trong một bối cảnh lịch sử cả dân tộc phát huy nội lực, đề cao ý thức độc lập tự chủ trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, kể cả tôn giáo để xây dựng đất nước, Giáo hội Trúc Lâm đã xem an cư kiết hạ là một trong chương trình Phật sự trọng tâm của Phật giáo cần được thực thi hàng đầu. Suy cho cùng, mục đích an cư kiết hạ của giới xuất gia Phật giáo là nhằm trưởng dưỡng nội tâm, thành tựu Phật tâm ngay giữa đời này. Một khi giới đức được nghiêm tịnh, tâm thức định tĩnh, trí tuệ khai mở, thì tự thân mỗi cá nhân sẽ tự hoàn thiện cho chính mình và có khả năng đóng góp tích cực cho cộng đồng xã hội.

Với ý nghĩa quan trọng của việc tu trì giới luật, chính Pháp Loa, người lãnh đạo Giáo hội Trúc Lâm đã từng hiệu đính bộ Tứ Phần luật, khắc in 5.000 bản lần đầu tiên vào năm 1322, tổ chức khóa học Luật Tứ phần cho các hành giả tu trì. Điều đáng nói là Tổ đã mời các vị cao tăng như Quốc sư Tông Kính và Quốc sư Bảo Phác đến các đạo tràng giảng giới luật. Sách Tam Tổ thực lục ghi: “Tư Đồ Văn Huệ Vương mời sư về dinh thự An Long giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhân tiện, sư xem lại bản Tứ Phần luật san bổ sao, in để ấn tống hơn 5.000 quyển. Sư nhờ Quốc sư Tông Kính ở Du Tiên, Quốc sư Bảo Phác ở núi Vũ Ninh đến chùa Siêu Loại giảng bộ Luật này” (2).

Các bộ kinh như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Bát Nha được Giáo hội Trúc Lâm đưa vào chương trình giảng dạy ở các khóa học đạo tràng. Bởi vì đây là những bộ kinh quan yếu của hệ thống kinh điển Đại thừa, các hành giả y cứ vào đó thực thi Thiền - Giáo song hành mà chứng ngộ; cũng là cơ sở lý luận hình thành học thuyết Cư trần lạc đạo (3) mà Sơ tổ Trúc Lâm chủ trương để phục vụ cho đường lối hoạt động của Giáo hội Trúc Lâm, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, đạo pháp trường tồn. Cũng theo sách Tam tổ thực lục thì Pháp Loa thường xuyên đảm nhận giảng dạy yếu chỉ các bộ kinh này trong các đạo tràng Tư Phúc, Báo Ân, Quỳnh Lâm, Thiên Quang. “… Năm 1322, Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trọng Tử và thầy chủ sự Huyền Quang gởi thư mời sư về chùa Báo Ân ở Siêu Loại, giảng hội thứ nhì trong kinh Hoa Nghiêm… Từ đó trở đi, suốt chín hội, thính giả cả nghìn người, khi ít cũng hơn năm, sáu trăm người” (4).

Vậy là ngoài việc nghiên tầm kinh điển còn có các thời khóa thực tập thiền, các vị hành giả được sự hướng dẫn lý thuyết về phương thức hành thiền cụ thể, sau đó là thực tập thiền định. Tuy nhiên, trong những đạo tràng lớn, số lượng hành giả quá đông, vị thiền sư không đủ thời gian trả lời. Do đó, vị Thiền chủ sẽ tổ chức các buổi đại tham để mọi hành giả có cơ hội tham cứu, thoại đầu xoay xung quanh các đề tài Phật pháp, sinh tử, bản thể, vô thường… Thường các hành giả có căn cơ đại trí mới dám đặt câu hỏi, vì thiền sư thường hay lật ngược các câu hỏi của thiền sinh; hay dùng lối nói nghịch ngữ, phi logic; hoặc dùng phương thức hỏi một đường đáp một ngả nhằm khai mở tâm thức người học cho đến khi nào ngộ được yếu chỉ thiền mới thôi. Sách Tam tổ thực lục cũng ghi lại những cuộc đại tham của Điều ngự Giác hoàng với các thiền sinh, chẳng hạn: “Vị Tăng hỏi: Thế nào là Phật? Điều ngự đáp: Chấp nhận như xưa là không đúng. Thế nào là pháp? Chấp nhận như xưa là không đúng. Rốt cuộc là thế nào? Tám chữ tháo tung giao phó hết, còn điều chi nói nữa không?...”. Ngoài những đại tham, có những cuộc tiểu tham xảy ra tùy theo những cơ duyên khác nhau, căn cơ khác nhau bên ngoài pháp tòa giữa các thiền sinh với nhau, hoặc các thiền sinh với Thiền chủ… để đập vỡ các vấn đề đã từng ưu tư, trăn trở, nghi vấn, để bước vào thế giới thiền.

Tóm lại, đặc tính của Phật giáo Trúc Lâm đời Trần là nhập thế tích cực. Chính tinh thần này mà Giáo hội đã được các vương triều nhà Trần ủng hộ, quần chúng tin theo, điều đó cũng có nghĩa các Tăng sĩ đời Trần là những nhà tu hành có giới đức thanh tịnh, định lực kiên cố và trí tuệ thăng chứng đã góp phần làm cho đạo pháp trường tồn, dân tộc hưng thịnh, nhân dân an lạc. Một trong những yếu tố làm nên đặc trưng của Giáo hội Trúc Lâm là thông qua việc tổ chức, quản lý Tăng sự, An cư kiết hạ mà đào tạo, trưởng dưỡng nội tâm, thành tựu phạm hạnh, Phật hóa ở đời mà làm cho đời sáng tươi. Phật giáo Trúc Lâm đời Trần đã làm được điều đó. Hẳn nhiên, bất cứ thành tựu nào cũng bắt nguồn từ thành tựu tâm. Tinh thần An cư kiết hạ của Phật giáo đời Trần là cơ sở để dẫn đến sự thành tựu tâm này mà bất cứ ai là người dân Việt cũng có thể tự hào và tin tưởng

-------
1. Trần Thái Tông, Khóa hư lục, Sa môn Thích Thanh Kiểm dịch, THPG TP.HCM, 1997, tr.54. 2. Tam tổ thực lục, Thích Phước Sơn dịch, Viện Nghiên cứu Phật học VN, 1995, tr.49. 3. Xem bài “Cư trần lạc đạo phú” của Trần Nhân Tông, Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng, NXB.KHXH, HN, tr.497-504 4. Tam tổ thực lục, Sđd, tr.48. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 2, Nxb Văn Học, tái bản, HN, 2000, 449 2 Nguyễn Lang, Sđd, tập 1, tr.338.

Cập nhật ( 28/01/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online