Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Sự tích Táo Quân (Lê Anh)
Sự tích Táo Quân (Lê Anh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
09/02/2010

SỰ TÍCH TÁO QUÂN

* Lê Anh sưu tầm

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo Quân là dấu ấn văn hóa có lẽ có từ thời mấu hệ và là tâm linh của người Việt về gia đình. Táo gồm "2 ông 1 bà" - thần Đất, thần Nhà, thần Bếp núc. Người Việt quan niệm Táo Quân nghi nhớ tất cả mọi sự việc xảy ra trong gia đình. Táo Quân Việt có những nét tương đồng với ba vị thần: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ có xuất xứ từ Lão giáo (thế kỷ thứ 4 trước công nguyên) của Trung Quốc. Dân cư vùng Đông Nam Á có xu thế tôn thờ các vật lâu niên như hang động, các gốc cây cổ thụ... Quan niệm về các vị Thần cai quản việc đời là nét đặc trưng của văn hóa các dân tộc vùng Đông Nam Á, và khác với quan niệm tôn giáo chính thống thờ Thượng Đế của các nước Phương Bắc.

         Việt Nam là nơi giao lưu của hai nền văn hóa lớn. Người ta có thể tìm thấy sự giao thoa văn hóa trong mọi dấu ấn văn hóa vật thể hay phi vật thể. Táo Quân là một ví dụ điển hình. Táo Việt là những vị Thần ngụ ở "3 ông Đầu Rau", nhưng vào ngày 23 tháng Chạp, các ông bay lên trời bẩm báo với Ngọc Hoàng thượng đế. Ngọc Hoàng thượng đế, sản phẩm văn hóa của lối tư duy "nhân quả"  -- đó là nguyên nhân sinh ra mọi nguyên nhân. Thần linh là sản phẩm văn hóa của lối tư duy "trải nghiệm" -- đó là các ma lực tạo ra sự vận động. Táo Quân Việt là sản phẩm của sự giao thoa văn hóa Bắc-Nam.

Qua hàng ngàn năm, sự giao thoa văn hóa Bắc-Nam đã xóa nhòa đi gần hết dấu vết những ý niệm tâm linh ban đầu về bếp lửa gia đình của người Việt, và thay vào đó là hệ thống tâm linh được xây dựng dựa trên sự suy diễn logich bao gồm 3 thần -- tương ứng với các hoạt động chính của một gia đình: hoạt động kinh tế (Thổ Kỳ), bảo đảm an ninh (Thổ Địa), quan hệ gia đình (Thổ Công). Khái quát hóa lên là: thần Thổ Địa hàm ý là các lực âm binh, thần Thổ Công là lực dương binh, thần Thổ Kỳ là nội lực.

Với đặc điểm văn hóa "nước lợ" của người Việt, cùng một lúc trong tâm thứ họ tồn tại nhiều hệ thống tâm linh. Chính vì thế mà có lúc thì có sự phân biệt, có lúc thì không có sự phân biệt thật sự rõ ràng về các thần Táo Quân.
          Sự tích Táo Quân được truyền khẩu như sau:

Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo khổ. Chồng tên là Trọng Cao, vợ là Thị Nhi. Họ lấy nhau đã lâu mà không có con, cho nên thường buồn phiền cãi lẫy với nhau. Một hôm Trọng Cao quá tức giận mà đánh vợ. Tức mình, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, rồi gặp một chàng trai là Phạm Lang, anh này đã dùng lời ngon ngọt và khéo léo quyến rũ được Thị Nhi. Hai người ăn ở với nhau thành vợ chồng. Khi Trọng Cao hết giận, thấy vợ bỏ đi mất, liền đi tìm kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tăm hơi, buồn rầu bỏ công ăn chuyện làm, ra đi làm người hành khất để đi tìm vợ.

Một hôm, Trọng Cao đến một nhà khá giả xin ăn, bà chủ nhà đem cơm ra cho. Thì ra đó là Thị Nhi. Hai người nhận ra nhau, tình xưa nghĩa cũ dễ nào quên. Thị Nhi hối hận vì đã lấy Phạm Lang. họ đang hàn huyên thì bất ngờ người chồng mới là Phạm Lang từ ngoài đồng đi làm về, Thị Nhi mới nói Trọng cao vào ẩn trong đống rơm. Phạm Lang về nhà để cốt lấy tro bón ruộng, nên đốt đống rơm lấy tro. Trọng Cao đang say ngủ trong đống rơm vì đường xa mỏi mệt ấy bị chết cháy, người vợ cũ là Thị Nhi, thấy vậy cũng lao vào lửa chết theo. Phạm lang thấy vợ chết cũng lao mình vào đống rơm đang cháy ấy mà chết.

Cũng có tích khác: sau khi Thị Nhi lấy Phạm Lang, một hôm trong nhà cúng đốt mã ngoài sân, có một hành khất vào ăn xin. Thị Nhi nhận ra người chồng cũ của mình, động lòng thương đem gạo ra cho. Bị Phạm Lang nghi ngờ, Thị Nhi lấy làm xấu hổ đâm đầu vào đống lửa đang đốt mã mà tự tử. Trọng Cao cảm tình ân nghĩa cũng lao vào lửa mà chết theo, Phạm lang vì mối tình thương vợ, cũng nhảy vào cùng chết. Thượng đế thấy ba người có nghĩa mới phong cho làm Táo Quân, và phân chia mỗi người một việc.

- Phạm Lang là Thổ Công trông lo việc bếp.

- Trọng Cao là Thổ Địa trông nom việc nhà.

- Thị Nhi là Thổ Kỳ trong nom việc sản xuất.

Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Đế (hay Ông Trời), nên có nơi gọi ngày này là Tết ông Công. Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất trọng thể. Lễ vật cúng Táo quân gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy.

Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công.

Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!

Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý "cá hóa long" nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).

Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.

Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...v...v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v...v..) để tiễn Táo quân

Cập nhật ( 09/02/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online