Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Sơ bộ về tác giả kịch bản cải lương (Lê Thanh Hiển)
Sơ bộ về tác giả kịch bản cải lương (Lê Thanh Hiển) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
09/02/2010

BỘ VỀ TÁC GIẢ KỊCH BẢN CẢI LƯƠNG NAM KỲ NỬA ĐẦU THẾ KỶ 20 (1900 – 1945)

* Thanh Hiền

          Nghệ thuật cải lương đích thực do cư dân Nam Kỳ sáng tạo nên sau phát triển thành hình thức sân khấu hấp dẫn mau chóng thuộc sở hữu của nhân dân cả nước tính đến hết thế kỷ XX là một trăm năm (1). Tuy vậy, so với Chèo, Tuồng có bề dày lịch sử nhiều thế kỷ thì quả thật nghệ thuật Cải lương tuổi đời còn trẻ nhưng lại có di sản văn bản văn học hơn gấp mấy lần của Chèo và Tuồng. Điều này phản ánh khả năng lớn mạnh vững vàng của một hình thức sân khấu mới ra đời đáp ứng đúng nhu cầu thời đại bằng những tác phẩm phản ánh cập nhật xã hội đương thời.         

            Năm 1867, thực dân Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam Kỳ (2) gồm Gia Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên buộc vào thuộc lãnh địa nước Pháp, bắt dân Nam Kỳ nhập quốc tịch Pháp. Họ bãi bỏ ngay nền Hán học vốn có, thay vào đó một nền giáo dục Pháp Việt (thực chất là nền giáo dục Pháp) tiến bộ dạy bằng tiếng Pháp ngữ và Việt ngữ, mở những trường công bậc tiểu học và trung học đầu tiên ở các tỉnh lị và thành phố, khuyến khích Nhà Chung hoặc tư nhân mở lớp dạy Pháp ngữ, Việt ngữ, đồng thực hiện các văn bản hành chính phải viết bằng Pháp ngữ và Việt ngữ. Năm 1911, người Pháp xây xong một Nhà hát Lớn ở thành phố Nội. Năm 1912, tại Sài Gòn một số người Việt Nam lần đầu tiên biên soạn tích kịch dân gian Thương khó (3) vốn phổ biến trong cộng đồng công giáo thế giới, dàn dựng thành tiết mục biểu diễn liên tục kéo dài mấy tháng cho nhiều ngàn người thuộc mọi thành phần xã hội ở quanh vùng kéo đến xem tự do không mua vé. Vở kịch Thương khó hấp dẫn các xứ đạo toàn quốc tiếp thu, sau họ thường tổ chức biểu diễn lại tại sân trước nhà thờ vào tuần cuối Lễ Thành đầu năm. Còn Bắc Kỳ, Trung Kỳ đến đầu thế kỷ XX người Pháp mới áp dụng nền giáo dục Pháp Việt, mở trường tiểu học trung học công lập tại các tỉnh lị và thành phố, đến năm 1918 mới bỏ hẳn việc thi cử Hán học. Năm 1920 tại Hà Nội một số người Việt Nam cũng tổ chức biểu diễn kịch Tây (qua bản dịch) trong Nhà hát lớn thành phố (4)… Sơ bộ như vậy để thấy khái quát bối cảnh văn hóa xã hội trước khi nghệ thuật cải lương ra đời, trong đó có những sự kiện giá trị mang ý nghĩa tiền đề xúc tác như Việt ngữ phổ biến và văn hóa Pháp du nhập vào Nam Kỳ trước (1867), rồi hơn 30 năm sau mới phổ biến và du nhập ở Bắc Kỳ. Vì thế nên Nam Kỳ sớm có những tác giả với tác phẩm bằng Vệt ngữ công bố trước Bắc Kỳ là điều không lạ. NHững tác giả (5): Trương Vĩnh Ký (1837 – 1894), quê Vĩnh Long với tác phẩm Mẹo luật dạy học tiếng pha – lang – sa, Sài Gòn – 1869); Trương Minh Ký (1855 – 1900), quê Chợ Lớn Sài Gòn) với tác phẩm Chuyện Phăng sa (dịch 16 chuyện ngụ ngôn của La Fontaine), Sài Gòn – 1884; Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1897), quê nay là Bà Rịa) với tác phẩm Chuyện giải buồn, Sài Gòn – 1886); ở Bắc Kỳ; Hoàng Tăng Bí (1883 – 1939), quê Hà Nội) với tác phẩm Đệ bát tài tử Hoa Tiên ký, Hà Nội – 1913;  Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1874 – 1941), quê Hà Nội) với tác phẩm Đông A song phụng, Hà Nội – 1916; ở Trung Kỳ: Hoàng Cao Khải (1850 – 1933, quê Hà Tĩnh) với tác phẩm Gương sử nước Nam, Hà Nội -1910qua đây cho ta thấy tác giả đầu tiên của từng miền có tác phẩm thể hiện bằng Việt ngữ công bố trước hoặc sau là do địa phương ấy có Việt ngữ phổ biến trước hoặc sau và tiếp nhận văn hóa Pháp du nhập trước hoặc sau.

Về sân khấu, qua sưu tầm khảo sát những ấn phẩm kịch bản kịch hát bằng Việt ngữ công bố ở nữa đầu thế kỷ  XX (1900 – 1945) cho thấy: Chèo ở miền Bắc có 5 tác giả với 20 kịch bản đã in. Tuồng trên địa bàn toàn quốc chừng mười tác giả với hơn mười kịch bản đã in (6), trong khi cùng thời gian ấy Cải lương ở Nam Kỳ có khoảng 50 tác giả với gần 500 kịch bản đã in. Những tác giả viết nhiều vở là: Huỳnh Hà, Nguyễn Công Mạnh, Ngô Vĩnh Khang, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Hiền Phú, Trần Phong Sắc… người thì viết 20 vở, người thì viết 30 vở, có người còn viết nhiều hơn thế. Nhiều vở in cả ảnh cảnh diễn vở ấy, một số vở như Đồng tiền bạc tình trên bìa 1 in ảnh chân dung nghệ sĩ Phùng Há, vở  Lỡ tay chót đã nhúng chàm trên bìa 1 in ảnh ảnh chân dung nghệ sĩ Cô Năm Sađec… hiện nay gần 500 kịch bản Cải lương ấy lưu lại các tàng thư quốc gia, các tủ sách tư nhân và các tủ sách ở các giáo xứ trên địa bàn toàn quốc mà ít người biết tới, đây thực sự là khối lượng di sản văn học có giá trị lớn của sân khấu Việt Nam bị lãng quên.

Nhân đây chúng tôi xin dẫn 27 tác giả Cải lương tiêu biểu ở Nam Kỳ nữa đầu thế kỷ XX, nay được coi như thế hệ tác giả tiền thân của Sân khấu Cải lương Việt Nam. Đồng thời dẫn theo 37 kịch bản tiêu biểu đã trở thành ấn phẩm của 27 tác giả có nội dung yêu nước, đấu tranh bảo vệ lẽ công bằng, ca ngợi điều thiện và lòng nhân ái, đòi hỏi tình yêu lứa đôi, lên án cái ác và lạc hậu… Chúng tôi cũng rất tiếc chưa sưu tầm được ấn phẩm kịch bản Cải lương nào của tác giả Trần Hữu Trang, mặc dù ông có rất nhiều kịch bản rất giá trị được sân khấu ba miền đất nước dàn dựng thành tiết mục công diễn suốt, đặc biệt là kịch bản Đời cô Lựu Tô Ánh Nguyệt đã trở hai tiết mục hai dấu son đi vào lịch sử kịch hát dân tộc ở thế kỷ XX, Sau đây là tên tác giả dẫn theo vẫn chữ cái và kèm theo tác phẩm của từng người: Vương Gia Bật với tác phẩm Hồng phấn phiêu liêu – Sài Gòn – 1924; Phạm Công Bình với tác phẩm  Bội thu quả táo – Sài Gòn 1924; Nguyễn Thành Châu (Năm Châu) với tác phẩm  Giấc mộng cô đào (2 tập) – Sài Gòn – 1931; Nguyễn hữu Chẩn với tác phẩm Nặng nghiệp phong trần – Sài Gòn – 1930; Trần Trọng Cảnh với tác phẩm Nghĩa thấu Hoàng Ngọc – Sài Gòn – 1930; Lý Văn Đại Nam với tác phẩm Nữ quân bạch phù dung – Sài Gòn – 1928; Võ Anh Điều với tác phẩm Tiểu anh hùng võ kiệt – Sài Gòn – 1928; Ngô Vĩnh Khang với tác phẩm Bạc tình là nói hồng nhan ­- Sài Gòn – 1931, Tơ vương đến thác (2 tập) – Sài Gòn – 1932; Phan Đình Khương với tác phẩm  Kiều du Thanh Minh Hoạn Thư khóc Kiều – Sài Gòn -1927; Nguyễn Thành Long với tác phẩm Một lượng sóng tình – Sài Gòn – 1937 và  Tình là bể khổ - Sài Gòn – 1927; Nguyễn Công Mạnh với tác phẩm Mổ tim tỷ Cang – Sài Gòn – 1930; Trần Hoàng Nam với tác phẩm Tình hiếu vẹn hai – Sài Gòn -1930; Lưỡi kiếm trả thù chồng – Sài Gòn 1923; Trần Phong Sắc với tác phẩm Nguyện Hà tầm phu – Sài Gòn 1925; Nguyễn Thanh Sử với tác phẩm Trần Nhật Chanh – Sài Gòn 1931; Lâm Nguyên Sĩ với tác phẩm Tiết liễu lương duyên – Sài Gòn 1932; Trần Dân Tử với tác phẩm Tấm gương liệt nữ  - Sài Gòn – 1932; Trương Quang Tiền với tác phẩm Điên vì tình – Sài Gòn – 1931 và Giọt máu chung tình – Sài Gòn – 1931; Huỳnh Thủ Trung với tác phẩm Lỡ tay trót dã nhúng tràm – Sài Gòn – 1931, Ai là bạn chung tình - Sài Gòn – 1925; Lê Văn Tiểng với tác phẩm Cây quạt hại người – Sài Gòn - 1926; Lê Tấn Tiệp với tác phẩm Cặp oan hồn – Sài Gòn – 1925; Trương Duy Toản với tác phẩm Lưu Yến Ngọc – Sài Gòn – 2930; Trịnh Thiên Tư với tác phẩm Sĩ Long bội ước – Sài Gòn – 1926; Lê Mộng trần với tác phẩm Tang Đại giả gái Tang đại cầu hôn – Sài Gòn – 19925… thiết nghĩ kịch bản Cải lương giá trị này cần được ngàn sân khấu TP Hồ Chí Minh cùng Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam quan tâm nhân bản phổ biến rộng rãi để nghiên cứu kế thừa, đồng thời để ghi nhớ lại các tác giả Cải Lương nữa đầu thế kỷ XX bị lãng quên.

Nội , mùa hè 2004

Người Sưu tầm biên soạn

Cập nhật ( 09/02/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online