Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Ngày xuân nhớ chuyện thách cưới trong ca dao (Lê Xuân)
Ngày xuân nhớ chuyện thách cưới trong ca dao (Lê Xuân) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
09/02/2010

NGÀY XUÂN NHỚ VỀ CHUYỆN THÁCH CƯỚI TRONG CA DAO

* Lê Xuân

          LTS: Thầy giáo Lê Xuân mê mãi dạy học, mê mãi dạy văn và và mê mãi viết báo. Dạy học viết báo là công việc mãi mê suốt một đời của thầy giáo Lê Xuân. Nhân dịp xuân về, thầy Lê Xuân nhớ về một miền xa xăm nào đó trong ca dao, trong thẳm sâu mỗi người chúng ta... viết bài này gửi tặng đến các thầy, cô giáo “đọc chơi” bên nồi bánh tét, bánh chưng hay bên mâm cổ cưới...

          Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn người bình dân. Mọi cung bậc tình cảm, mọi trăn trở, ướt mơ, kỳ vọng, ta đều có thể tìm thấy ở đó. Nhưng dưới chế độ cũ, biết bao luật lệ khắt khe của lễ giáo phong kiến đã trói buột đời sống tình cảm của con người. số lượng những câu ca dao phô diễn về tình yêu đôi lứa chiếm một lượng lớn, trong đó những vần ca dao về thách cưới luôn là những điệu cười thấm đẫm tình yêu người, yêu đời.

          Ta hãy lắng nghe cuộc hát đối đáp, giao duyên về thách cưới của một đôi trai gái nhà nghèo. Cô gái thách vui:

          Cưới em có cánh con gà

          Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi

          Cưới em còn nữa anh ơi

          Có một đũa đậu, hai môi rau cần

          Có xa dịch lại cho gần

          Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

          Chàng trai còn đang ngần ngừ xem có lo nổi không, thì cô gái đã gợi ý hạ giá:

          Hay là nặng lắm anh ơi

          Để em bớt lại một môi rau cần

          Chàng trai đồng ý với những lời thách đó nhưng chỉ xin một điều kiện là:

          Cưới em có một tiền hai

          Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi

          Họ hàng ăn uống xong rồi

          Tôi xin cái chảo tôi lôi nó về.

          Tiếng cười vang lên, hóa ra anh chàng này lém lỉnh thiệt, vừa được người lại vừa được của – được cái chảo lôi về.

          Còn đây là lời một anh chàng nói dóc có hạng để thoái thoát lễ vật thách cưới:

          Cưới nàng anh toan dẫn voi

          Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn

          Dẫn trâu sợ họ máu hàn

          Dẫn bò sợ họ nhà nàng co chân

          Miễn là có thú bốn chân

          Dẫn con chuột béo mời dân, mời làng.

          Chàng trai đưa lễ vật từ con to nhất là voi, rồi hạ từng mức đến trâu, bò. Và sau cùng chỉ còn một con chuột béo để mời quan viên hai họ. Song, cô gái chẳng những không trách, không buồn mà còn khen lễ vật như thế là sang, rồi chỉ thách những thứ thiết thực với cuộc sống nghèo của người bình dân:

          Chàng dẫn thế em lấy làm sang

          Lỡ nào em lại phá ngang như là

          Người ta thách lợn, thách gà

          Còn em chỉ thách một nhà khoai lang.

          Đem khoai lang ra để thách cưới quả là có một không hai. Thứ lễ vật đặc biệt này rất gắn bó với đời sống người nông dân, không những mọi người được hưởng mà những con vật ở trong nhà cũng rất vui vì được ăn cổ cưới:

          Củ to thì để mời làng

          Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi

          Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi

          Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà

          Bao nhiêu củ rím, củ hà

          Để cho con lợn con gà nó ăn.

          Còn đây là một kiểu thách cưới độc nhất vô nhị của cha mẹ một cô gái nhà giàu. Thách cho vui thôi, chứ chẳng có chàng rễ tương lai nào đáp ứng nổi:

Em là con gái nhà giàu/Mẹ cha thách cưới ra màu xênh xao/Cưới em trăm tấm lụa đào/Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời/Tháp tròn dẫn đủ trăm đôi/Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng/Sắm xe tứ mã đem sang/Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu/Ba trăm nón Nghệ đội đầu/ Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh/Anh về sắm nhiễu nghi đình/May chăn cho rộng, ta mình đắp chung.

          Lại một cô gái con nhà rất giàu khác thách cưới ghê gớm hơn: “Cưới em chín chỉnh mật ong? Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò/Cưới em tám vạn trâu bò/Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm/Lá đa mặt nguyệt hôm rằm/Răng nanh thắng Cuội, râu cằm ông Thiên Lôi/Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi/Cưới em chín chục con dơi góa chồng/Thách thế mới thỏa tấm lòng/Chàng mà lo được, thiếp thời theo chân”. Ở đây ta thấy cái dí dỏm, kỳ ảo của những con số chỉ lượng: 100 tấm lụa đào, 100 hòn ngọc, 300 nón Nghệ, 9 chỉnh mật ong, mười cót rượu trắng, mười nong xôi vò... rồi xe tứ mã, quạt Tàu ... Nếu một chàng trai là công tử Bạc Liêu thì có thể đáp ứng. Nhưng khi cô gái đòi đến 28 ông sao trên trời, rồi tới răng nanh thằng Cuội, râu cằm ông Thiên Lôi, gan ruồi, mỡ muỗi, dơi góa chồng... thì họa chăng chỉ có thần Sơn Tinh hay Thủy Tinh mới lo nổi. Có thách thế mới bõ công bác mẹ sinh thành ra em chứ!

          Cách nói cường điệu này ta thường bắt gặp trong ca dao trào lộng như: Anh về mua lụa bọc trời/ Mua thuyền chở núi em thời theo ngay, Hoặc bao giờ rau diếp làm đinh/Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta/Bao giờ trạch đẻ ngọn đa/Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình. Tất cả những điều ấy không xảy ra trong cuộc sống thì việc anh và em nên vợ nên chồng chỉ là chuyện viễn vông. Trong thực tế các chàng trai, cô gái chỉ hát vậy cho vui, cho quên đi cái phận nghèo của mình, giảm đi sự mệt nhọc trong lao động mà thôi, chứ mấy ai làm theo điều đó. Tình yêu của người bình dân giản dị và trong sáng lắm. Nó ít khi bị mùi tanh của đồng tiền làm vẫn đục. Một cô gái khác đã mạnh dạn chống lại sự tham lễ vật của người mẹ, bắt mình phải lấy người chồng bé tí Mẹ em tham thúng xôi rền/Tha con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng/Em đã bảo mẹ rằng” Đừng mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào/Bây giờ chồng thấp, vợ cao/Như đôi đũa lệch, so sao cho Bằng. Phần lớn các cô gái:

          Chẳng tham nhà ngói ba tòa

          Tham vì một nỗii mẹ cha hiền lành

Hoặc:

          Chẳng tham ruộng cả, ao liền

          Tham vì cái bút, cái nghiêng anh đồ.

          Người ta lấy cái đức, cái sự học hành ra để làm một tiêu chuẩn lựa chọn người mình yêu. Yêu anh vì mẹ cha hiền lành, vì anh xinh miệng cười, vì cái bút, cái nghiên... chứ ít khi tham về vật chất... Dù họ phải lên thác xuống ghềnh, trèo non lội suối, dù phải mò cua bắt ốc, cho dù áo rách ba man... nhưng các chàng trai, cô gái vẫn một lòng chung thủy. Và người con gái bao giờ cũng rất vị tha, sẳn sàng hy sinh tất cả cho tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

          Thách cưới là một chặn đường gần tới hôn nhân. Tục lệ này hiện nay vẫn còn rãi rác ở một số nơi trong nước và trên thế giới. Nó chỉ khác nhau về mức độ vật chất, tiền bạc. Chàng trai trong bài thơ Giấc mơ anh lái đò của Nguyễn Bính, khi thấy đám cưới của người yêu cũ rất to:

          Nhà giai đi chín chiếc đò đón dâu

          Nhà gái ăn chín ngàn cau

Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn.

Thì anh buồn lắm cho cái phận nghèo của mình, để rồi:

          Lang thang anh dạm bán thuyền

          Có người giả chín quan tiền lại thôi.

          Thật tội nghiệp làm sao!

          Xưa kia biết bao cô gái, chàng trai như đũa ngọc mâm vàng mà phải xa nhau vì chuyện thách cưới của mẹ cha, vì ham giàu, vì bác mẹ nói ngang, nhiều khi dẫn tới bi kịch thật đau thương. Ngày nay vẫn còn một số ít người có chức quyền, lợi dụng danh nghĩa để thương mại  hóa trong chuyện cưới gả con cái, để kinh doanh trục lợi. Tết đến, Xuân về, đọc lại những vần ca dao Thách cưới của ông cha xưa mà nghĩ tới hiện tại, làm sao để ta giữ được một tình yêu cao đẹp, trong sáng, thủy chung, chứ đừng để cho đồng tiền, vật chất àm tha hóa, băng hoại nhân phẩm và tình yêu đôi lứa... ./.

Cập nhật ( 09/02/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online