Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Lễ hội bắt lợn Ông Cầu (Nguyễn Xuân Toại)
Lễ hội bắt lợn Ông Cầu (Nguyễn Xuân Toại) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
04/04/2010

LỄ HỘI BẮT LỢN ÔNG CẦU Ở THẠCH - PHÚ THỌ

* Nguyên Xuân Toại

Hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam 

1. Tục bắt lợn Ông Cầu được tổ chức vào ngày mồng 5 tháng giếng âm lịch hằng năm ở xã Hà Thạch, tục gọi kẻ Thiệc, xưa thuộc tổng Phú Thọ, huyện Sơn Vi, nay được sắp nhập vào thị xã PHú Thọ.

          Truyền thuyết kể rằng, từ đời nhà Hùng, khi vùng đất Hà Thạch giáp sông Thao này còn là nơi khỉ ho, cò gáy, rừng già bạt ngàn, cây cối rậm rạp, bắ tên không lọt, muông thú nhiều khôn xiết kể. Có một tướng quân trên đường đi dẹp giặc ngoại bang, qua đây bỗng phát hiện ra trong số những muôn thú kia có một loài lợn rừng kỳ lạ đông tới hàng ngàn con, con nào con nấy cao lớn, béo mũm mĩm, đặc biệt là lông thì đen tuyền, thấy bóng người chúng xô nhau chạy tán loạn khắp rừng. Tướng quân cho là chuyện không bình thường bèn cho binh lính hạ trại và thành lập những nhóm thợ săn dàn hàng ngang kéo vào rừng sâu bao vây bắt lợn hoang về giết mổ lấy thịt  tế thần ở đền Trung và đền Thượng - nơi thờ năm vị thánh vương là Phúc thần làng, đồng thời khao quân. Lợn phải được bắt nguyên con chứ không được bắn bằng cung nỏ hoặc dùng gươm đao.

         Hôm ấy là ngày mùng 5 tháng giêng âm lịch, tiết xuân ấm áp, trời lất phất mưa. Mặc dù đã ra sức chống trả con người nhưng cuối cùng lợn đực hoang nanh nọc cũng đã bị bắt trói đưa về tập trung ở một bãi cỏ rộng. Tướng quân hể hả cho tổ chức một bửa tiệc lớn như dự kiến. Tiếng lợn kêu inh ỏi xen trong tiếng trống lớn, trống con, tiếng thanh la náo nhiệt của bà con dân làng chào đón quân ta càng làm cho bầu không khí đầu xuân ở một làng quê yên ả thêm đượm sắc tâm linh. Cuộc vui kéo dài thâu đêm, khi rượu thịt bắt đầu vơi, canh ba đã điểm, tướng quân đành cáo từ bà con dân làng Hà Thạch tiếp tục dẫn quân đi chinh chiến. Trước giờ ra trận, tướng quân lệnh đem số thịt lợn đen còn lại chia đều mỗi gia đình - đó chính là lệ “tản lộc” đầu xuân vẫn được duy trì cho đến ngày nay.

          2. Từ đấy, tục lệ bắt lợn Ông Cầu đã trở thành lễ hội dân gian - nét đẹp văn hóa truyền thống của kẻ Thiệc. Ngày xưa, lợn hoang nhiều, chỉ mất công săn bắt. Có thời phải lên tận Lào Cai, Yên Bái, vào tận các nơi heo hút mới tìm được lợn như ý. Nay thì phải nuôi. Nhưng dù là lợn rừng hay lợn nhà, khi đã được tôn vinh làm “Ông” thì phải qua một khâu tuyển lựa (tuyển chọn) hết sức công phu về dáng tốt, tầm vóc, trọng lượng, đặc biệt phải là lợn đực, lông đen tuyền. bản tục lệ xã Hà Thạch (khai năm 1933) hiện còn lưu trữ ở Viện Hán Nôm cho hay lễ cầu mồng 5 tháng giêng còn là cầu nèm; có sửa hai mâm quả chay gồm hoa quả, phong làm người gói, hai đấu xôi cùng một mâm cổ gà, trầu câu tùy dùng. Trong lễ cầu này có nhiều trò chơi hấp dẫn khác như kéo co, cờ người, đánh đu, chọi gà… nhưng thiếu trò bắt lợn Ông Cầu thì coi như bất thành hội.

          Theo lời các cụ già ở Hà Thạch thì lễ hội bắt lợn Ông Cầu cũng như nhiều lễ tục đầu xuân khác ở địa phương này đều có quan hệ trực tiếp đến nghi lễ phụng sự tôn thờ người nhà Hùng, các nghĩa sĩ của Hai Bà Trưng, các tướng lĩnh của mọi triều đại kế cận, nó vừa đề cao ý chí chống xâm lăng vừa thể hiện tinh thần thượng võ cũng như lòng yêu hòa bình của con dân đất Việt. Trước năm 1945, Hà Thạch là một xã quanh vùng được vinh dự thay mặt cho cả nước chăm lo việc nhang đèn thờ tự các vua Hùng trên núi nghĩa Lĩnh, được phân bổ rước kiệu lễ và cắt cử người đẹp (nam và nữ) đi ngồi quân cờ ở hội Đền mồng 10 tháng 3 âm hằng năm. Ngoài ra, Hà Thạch còn có tục kết chạ  (kết nghĩa anh em) với kẻ Vầy  (Sơn Vi) Do Ngãi, Tiên Kiên (huyện Lâm Thao) và với xã Hiền Quan (huyện Tam Nông)…

          Nay, tất cả những tục lệ đó từ lâu đã bặt tiếng, trừ tiếng lợn Ông Cầu cũng chỉ mới được khôi phục từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước cùng với việc tái dựng hai ngôi thiên trụ là miếu (đền) Lục Giáp (đền Trung và đền Thượng) và Phe Nam (thôn 4) bị phá hủy nặng nề qua các cuộc chiến tranh, ngay trên nền đất cũ với đầy đủ tiện nghi, nội thất, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân trong việc phụng thờ các thần linh.

          Ông Trần Văn Thảo (80 tuổi), ông Trần Văn Chính - trưởng, phó Ban quản lý di tích văn hóa xã và ông Đỗ Văn Sâm, ngoại lục tuần, một thành viên trong ban tổ chức lễ, hội, cho biết: “gia đình được làng chọn nuôi lợn Ông Cầu

Phải là những gia đình đuề huề, vợ chồng song toàn, khỏe mạnh, “không can khoản gì”, kể  cả chuyện trai trên, gái dưới hay xích mích vợ chồng, dâu con”.

          Từ ngày 22 tháng chạp âm lịch: người ta bắt đầu làm chuồng. Từ ngày 22 đến 25 âm lịch cùng tháng: lợn Ông Cầu lên chuồng. Đây là kiểu chuồng cũi, lợp lá cọ, diện tích chừng 2 mét vuông, mặt tiền quay về hướng đền Trung, được làm bằng loại tre không cọc ngọn, bốn phía - mỗi phía có bảy cái văng (thanh ngang) làm tương chắn. Xung quanh chuồng có ba vòng dây ban là những sợi dây dài không nối có gắn lá bát (lá cọ xòe) tạo thành lối đi cho lợn Ông Cầu vào chuồng và cho người đến chăm nuôi. Trước chuồng có cổng chào cửa nhỏ. Dưới chân dốc, gần đường dân sinh cũng có một cổng chào nữa đón người qua lại. Cũng ngay trước chuồng, phía bên trái, còn có một bàn thờ lợn Ông Cầu dựng tạm bằng tranh tre, lá cọ, cắm ba lá thờ thần, hai đao, một bộ chấp kích bốn chiếc, khấn chay, mời lợn ông cầu ăn cháo hoa. Đây là chỗ dành riêng cho các quan quân về canh giữ lợn Ông Cầu.

          Gia đình nào được làng chọn nuôi lợn Ông Cầu thì vinh hạnh lắm, năm ấy phước nhà ắt phải nhiều. Nhà nào được chọn thì phải làm lễ xin nuôi ở đền. Ông Phạm Văn Thục. 37 tuổi, ở thôn 4 vui vẻ nói: “Năm nay nhà tôi có phước được làng chọn làm chủ nuôi. Còn lần sau thì… không biết đến bao giờ?”. Lợn Ông Cầu nuôi trong chuồng từ 25 tháng chạp âm lịch năm trước đến mồng 5 tháng giêng âm lịch năm sau. Riêng ngày mồng 5 thì mổ một con lợn sóng, tức lợn thường, lấy xỏ cúng. Lợn không được cho ăn cám, ăn rau mà phải cho ăn cháo hoa, ngày ba bửa sáng, trưa, tối. Cháo được đổ vào chậu nhựa, thay máng gỗ. Chuồng lúc nào cũng phải sạch sẽ, lợn Ông Cầu Phải được giữ vệ sinh, tắm rửa thường xuyên. Trước khi cho lợn Ông Cầu ăn, chủ nuôi phải thắng một bộ quần áo lễ trịnh trọng thắp một nén nhang xin ý chỉ Thành hoàng làng. Tất cả những việc ấy chỉ được thực hiện qua tay đàn ông. Trước khi đưa lợn Ông Cầu  ra nơi hành lễ, người ta dùng một cái xiếp đan thưa bằng 17 thanh tre (phải là số lẻ và một đòn tre khiêng lợn Ông Cầu đưa vào một cái lồng sắt sơn xanh, gọi sang là xe hoa.

          3. Mùa xuân năm nay tôi được về dự lễ bắt lợn Ông Cầu ở Hà Thạch. Đó là một ngày đầu năm ấm áp, thậm chí có phần hơi thừa nắng. Trên sân Nhà Văn hóa đặt ở thôn 10, dân chúng từ các thôn xa gần trong xã và nhiều xã lân cận kéo đến mỗi lúc một đông. Bên cạnh việc chơi đu, xem chọi gà, xem hát dân ca (do hội văn nghệ nghiệp dư thị xã Phú Thọ trình diễn), người ta rất háo hức chờ đợi tiết mục bắt lợn Ông Cầu. Những ông già, bà cả, nhất là cánh trẻ vây kín quanh hai chiếc xe hoa nhốt lợn Ông Cầu. Mỗi xe hoa có một đôi chấp kích do bảy trai tráng chưa vợ, nhanh nhẹn, mặc những bộ quần áo tế sinh màu đỏ viền xanh hoặc viền vàng, đầu chít khăn vàng, cũng đã được làng tuyển chọn kỹ, đứng canh giữ. Tiếng hò hét cùng với tiếng trống lớn, trống con vang lên gây náo loạn cả một vùng, khiến khách qua đường không thể không dừng chân. Cờ đỏ sao vàng và ba lá cờ thần cỡ lớn kiêu hãnh tung bay trong nắng.

          Đúng 15 giờ ông chủ tế phát lệnh bắt lợn Ông Cầu. Lập tức, một thanh niên nhanh nhẹn mở cửa xe hoa. Con vật bị giam giữ lâu ngày hóa cuồng chân, được dịp sổ lồng liền chạy thục mạng, húc bừa vào rừng chân người đuổi theo, bỏ ngoài tai những tiếng la hét, những tiếng thách thức xem ai là người tóm được con vật trước tiên. Tiếng trống nghe càng dục giã hơn. Có những người không may bị ngã quay lơ vì tránh lợn húc phải hoặc do va quệt vào người khác. Tất nhiên, những trai tráng trong đội chấp kích bao giờ cũng là những người dũng cảm nhất, nhiệt tình nhất và họ đã tóm được chỉ sau chừng  vài chục phút rượt đuổi và đưa trở lại xe hoa kịp thời. Cách thức bắt lợn Ông Cầu thứ hai cũng theo trình tự như trước.

          Tôi theo một chiếc xe hoa chở lợn Ông Cầu về đền Trung – một ngôi đền nhỏ ở thôn 3, nằm ngay bên bờ sông Thao, cạnh đường trục dẫn lên thị xã, có cây đa xùm xòa rễ, lá. Cả đền lẫn cây đều không rõ niên đại. Trước đền là một khoảng sân rộng kê mấy dãy bàn ghế, có mái bạt che. Lợn Ông Cầu sau khi được tắm rửa sạch sẽ bằng nước sông thì được  đưa ra khỏi xe hoa và dẫn vào trong đền, đứng một chỗ riêng, bên cạnh là con ngựa gỗ sơn hồng, hai thanh đao, đôi hạc nhỏ và một bát hương. Dường như lợn Ông Cầu cũng hiểu được tính chất linh thiên của buổi lễ hiến sinh nên “Ông” sẳn sàng “chịu trận” mà không có một phản ứng gì, dù chỉ là một tiếng kêu bản năng hoặc đại tiểu tiện bừa bãi. Ông chủ tế thay mặt cả làng đọc một bài “cáo” cũng có thể coi như một bài diễn văn khai mạc, nói rõ ngọn nguồn và ý nghĩa sâu xa của ngày lễ bắt lợn Ông Cầu. Khi các khu, các xóm (xưa là các phe, giáp) lần lượt lên dâng hương hành lễ thì các quan khách và mọi người cùng ngồi vào bàn uống nước, ăn bánh kẹo, hoa quả - cũng vẫn là ăn chay. Đây chính là giây phút “thụ lộc” đáng nhớ nhất - chả có câu nói: “Một nhúm lộc thánh bằng cả gánh lộc trần” đó sao?

          Trong lễ hội bắt lợn Ông Cầu có những chi tiết rất đáng chú ý: Lễ dâng hương chỉ được tiến hành ở đền Trung. Và, chỉ có ở đền trung mới có ông Chúa Kem do dân bầu từ tháng 9 năm trước. Theo lời Chúa Kem Lê Văn Thu (năm Kỷ Sửu) thì vào khoảng 4 giờ sáng đã phải mổ xong lợn Ông Cầu, lúc đó Chúa Kem phải ăn hết một bát thức ăn hổ lốn gồm tiết lợn trộn một vài thứ thịt phụ khác và ăn thầm trong bóng đêm trước sự chứng kiến của những người cao tuổi. Thịt lợn được chia đều cho 14 khu dân cư (tản lộc). Khu nào muốn tổ chức ăn cầu tập thể thì phải mua sắm thêm thực phẩm. Riêng chủ nuôi lợn Ông Cầu  thì được hưởng một cái đuôi lợn bằng cách cầm cái đuôi chưa cắt khoanh một vòng quanh cái mông lợn Ông Cầu, được đâu hưởng đó.

          Song song với lễ hội bắt lợn Ông cầu, xã Hà Thạch còn có tục cúng “hèm thần” từ 12 giờ đêm ngày mồng 2 sáng mồng 3 Tết. Tiếp đó là lễ khai trương chợ Tiên (còn gọi là chợ Trạch) quy tụ dân tứ xứ, họp ở xóm Quán Đá hay xóm Tiên Thị, nay là thôn 4. Chợ Tiên chỉ họp mỗi năm một lần vào khoảng 4 - 5 giờ sáng, trước giờ Dần. bây giờ vẫn còn lưu truyền câu ca dao:

          Xóm Quán Đá có chợ Tiên

          Có chùa tháp Phật, có đền thờ Vua

          Có ghềnh đá, có cây đa

          Có giếng đá mát, có bến đò qua sông.

          Cũng theo lời ông Đỗ Văn Sâm thì lễ hội bắt lợn Ông Cầu cũng như các lễ hội khác trong năm phải được tiến hành trong không khí trang nghiêm, thành kính, phải tuân thủ mọi nghi lễ, thủ tục, không được đơn giản hóa hoặc làm tùy tiện, vì trong các lễ hội này đều hàm chứa nhiều huyền thoại, những chuyện thần bí, dù vẫn là sự thật, mắt thấy, tai nghe hằng ngày như lợn Ông Cầu lên chuồng, chỉ có điều chưa tìm được lời giải thích thỏa đáng.

Cập nhật ( 04/04/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online