Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Giá trị tinh thần truyền thống trong thờ mẫu ở Nam bộ (TS Trần Hồng Liên)
Giá trị tinh thần truyền thống trong thờ mẫu ở Nam bộ (TS Trần Hồng Liên) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
04/04/2010

GIÁ TRỊ TINH THẦN TRUYỀN THỐNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở NAM BỘ (Nghiên cứu so sánh với Bắc và Trung Bộ)

* TS. Trần Hồng Liên

Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ

Là nước nông nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển đã thể hiện dấu ấn ấy trong đời sống tinh thần, đặc biệt là qua các hình thức tín ngưỡng nữ thần phong phú, đa dạng. Nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu trường hợp (casestudy) đã thực hiện việc phân loại tín ngưỡng (1) theo giới tính và lứa tuổi. Một nhận định xác đáng, sâu sắc đã cho rằng: “Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực tư duy và lối tư duy tổng hợp; và trong lĩnh vực tín ngưỡng đa thần. Tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần. Và vì cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các Mẹ, các Mẫu” (2).

         Tuy vậy, tùy từng địa vực cư trú, từng vùng miền khác nhau đã đưa đến sự khác biệt khá rõ nét trong tư duy, thể hiện qua các hình thức thờ nữ thần ở ba miền có nét đặc thù. Sự khác biệt ấy thể hiện qua các hình thức thờ tự những nữ thần nào? Từ việc thờ nữ thần đến thờ Mẫu ở Nam Bộ có khác biệt so với ở miền Bắc và Trung Bộ?

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ giới hạn trong việc nêu trên các hình thức từ thờ nữ thần đến thờ mẫu ở Nam Bộ trong sự so sánh ở Bắc và Trung Bộ, từ đó góp phần nhận diện những giá trị tinh thần trong tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nêu đặc trưng tín ngưỡng mang yếu tố văn hóa vùng Nam Bộ; đồng thời cũng góp phần nhận diện quy luật thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

1. Từ việc thờ Nữ thần đến thờ Mẫu ở Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất mới, quá trình khai hoang mở đất của cư dân cũng là quá trình cư dân mang theo hành trang tinh thần của mình từ nhiều vùng, miền khác nhau khi đến tụ cư tại Nam Bộ. Tín ngưỡng ở Nam Bộ vì vậy càng phong phú, đa dạng. Mặt khác, tín ngưỡng ở Nam Bộ là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân sống cộng cư và cận cư. Vì vậy, có thể thấy các thành tố có trong tín ngưỡng từng tộc người cư trú ở Nam Bộ như Kinh, Hoa, Chăm, Khơ Me đều có ảnh hưởng nhất định hình thể loại, diện mạo của các tín ngưỡng thờ nữ thần cũng như thờ Mẫu ở Nam Bộ.

Khó có thể thống kê hết số cơ sở thờ tự thuộc tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ những đình, miếu, đền, điện được phân bố đều khắp có đặt thờ nữ thần, thần nữ còn được đặt thờ phối tự bên trong nhiều ngôi chùa Phật giáo. Không gian tín ngưỡng nữ thần vì vậy khá rộng rãi và mang tính phức tạp.

1.1. Thờ thần nữ

Có thể nêu một số nữ thần được thờ tự phổ biến ở Nam Bộ, theo lịch đại cũng như đồng đại. Các nữ thần mang tính cổ xưa, nay ít được nhắc đến, hoặc chỉ còn một số nơi thờ tự như Cố Hỷ, Bà La Sát, . Ngũ Hành ( Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), được đặt thờ chung trong cùng một trang thờ, hoặc riêng từng vị như miếu thờ Bà Thủy Long, Hỏa. Ngoài Năm Ngũ Hành được thờ tự phổ biến ở cả miền Bắc, Trung, tại Nam Bộ còn có hình thức tín ngưỡng thờ Bảy . Đây là dạng tín ngưỡng đặc biệt ở Nam Bộ, cho thấy tư duy tổng hợp. Huỳnh Tịnh Paulus Của đã cho rằng: “đó là dạng kết hợp Bà  Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỉ, Bà Thủy, Bà Hỏa” (3). Thực ra, Chúa Tiên và Chúa Ngọc chỉ là một, “Tên Bà Chúa Ngọc Trản (chén ngọc) ở Huế (…) Bà cũng mang một tên dân gian khác là Bà Chúa Tiên, có lẽ là sự ảnh hưởng danh thần Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ ngoài Bắc, vốn gốc là một thiên tiên trên thiên đình” (4).

Thờ nữ thần còn được đặt chung trong tổng thể cặp đôi như Ông Bổn - Bà Bổn trong tín ngưỡng người Hoa như ở Phúc Đức cổ miếu (thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu); thờ Thái Âm - Thái Dương ở chùa Thuận Thiên (thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương)…

Bên cạnh các thiên thần, thì nhân thần vốn là là những con người thật, như Hai Bà Trưng, được thờ trong đền, hiện còn ở Thành phố Hồ Chí Minh; huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; chùa Bửu Lâm ở Tiền Giang. Cửu Thiên Huyền Nữ, vừa là vị thần nữ ở cõi trời (Thiên Phủ) được thờ ở chùa Thiên Phước (Vĩnh Long), chùa Bửu Lâm (Tiền Giang), vừa là vị nữ thần độ mạng cho phái nữ trong từng gia đình. Mỗi gia đình ở nông thôn thường đặt trang thờ Bà đối xứng với trang thờ ông Quan Thánh Đế Quân, vốn được xem là vị độ mạng cho phái nam. Tại các miếu của người Hoa như miếu Thiên Hậu – hội quán Quảng Triệu (quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh) cũng có trang thờ Bà. Trong miếu  Hoa, ta cũng thấy phổ biến đặt thờ Mẹ Thai Sinh, còn gọi Kim Huê nương nương, là vị nữ thần hỗ trợ cho việc sinh nở, chăm sóc trẻ con. Niềm tin vào việc được ban phúc cho “mẹ tròn, con vuông” cũng đưa đến tín ngưỡng Mười Hai Mụ Bà, khá phổ biến ở Thành phố Hồ Chí  Minh như tại chùa Phước Hải (quận 1), hay chùa Minh Hương (thành phố Vĩnh Long). Long Mẫu nương nương, thường được đặt phối hợp với tượng Thiên hậu Thánh Mẫu và Kim Huê nương nương, như trường hợp ở Miếu Thiên Hậu – Tuệ Thành hội quán (quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

1.2 Thờ  Mẫu

 Thờ mẫu có quan hệ mật thiết với thờ nữ thần. Ngô Đức Thịnh đã từng nhấn mạnh: “Mẫu đều là nữ thần nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu thần (…) đạo Mẫu gắn liền với tục thờ Mẫu của dân gian, nhưng như thế không có nghĩa mọi Mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo Mẫu”(5).

“Mẫu có một gốc từ Hán Việt, tiếng Việt là Mẹ đều chỉ người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó, là tiếng xưng hô đối với người sinh ra mình. Ngoài ý nghĩa xưng hô thông thường, từ Mẫu và Mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, tôn vinh, chẳng hạn như Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ (…) là các vị thần linh gắn liền với các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ được người đời gắng cho chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho cuộc sống của con người. Đó là trời, đất, sông nước, rừng núi” (6).

Hai ngọn núi cao ở Nam Bộ là nơi đặt thờ Linh Sơn Thánh Mẫu (núi Bà Đen) là Chúa Xứ Thánh Mẫu (núi Sam). Chúa Xứ Thánh Mẫu được đặt thờ không chỉ trên sườn núi Sam (phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc), mà còn trong những ngôi miếu riêng biệt tại nhiều vùng miền ở Nam Bộ, trong sân chùa, trong điện thờ của đạo Minh Sư như Nam Nhã Phật Đường (Thành phố Cần Thơ) (7). Ở Quang Nam Phật Đường (Thành phố Hồ Chí Minh), cũng thuộc đạo Minh Sư, trong chính điện còn đặt Diêu Trì Kim Mẫu và Địa Mẫu tại vị trí trung tâm.

Người dân còn đặt tên cho các cơ sở thờ Bà ở nhiều nơi khác là miếu Bà Chúa Xứ hai, miếu Bà Chúa Xứ ba, như trường hợp ở Thủ Thiêm, ở Bình Dương để chỉ “mạng lưới” thờ tự Bà xuống khắp các địa phương, đồng thời cũng cho thấy tính thống nhất về một mối của ngôi miếu thờ mang tính trung tâm của các miếu khác, là ở núi Sam Châu Đốc. Người dân đến cúng bái đều cho là bà Chúa Xứ hai, ba là em của chị cả Chúa Xứ ở Châu Đốc!

Cách thờ tự tại miếu bà Chúa Xứ núi Sam đã thể hiện nhiều lớp văn hóa được hình thành trong quá trình giao lưu từ nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước, và đọng lại qua hình thức thờ tự tại đây. Ngô Đức Thịnh đã dày công nghiên cứu và có nhận xét rằng: “Nhìn vào các lớp văn hóa tạo nên biểu tượng tâm linh Bà Chúa Xứ, chúng ta đều thấy thấp thoáng hình bóng Bà Mẹ Xứ Sở - Pô Inư Nưgar của người Chăm, Thánh Mẫu Thiên Yana của người Việt, nữ thần Neang Khmau (Bà Đen), tục thờ Neak Tà của người Khơ Me và xa xưa hơn, nhưng cũng hiển hiện hơn là tất cả các biểu tượng trên đều được quy tụ  trong linh tượng Shivalinga và Sakti của Shiva là nữ thần Uma của Bàlamôn giáo, mà truyền thuyết bức tượng Bà Chúa Xứ An Giang đã mách bảo chúng ta những điều như vậy, cho dù bề ngoài của bức tượng đó cũng được cải trang dưới hình dáng Thánh Mẫu của người Việt” (8).

Trong cộng đồng người Hoa cũng thờ phổ biến Thiên Hậu Thánh Mẫu. Mỗi triều đại ở Trung Quốc, Bà đều được vua phong nhiều tước vị (9); đời Tống (Tống Cao trung) phong tước vị đầu tiên là Phu Nhân Linh Huệ kèm theo vinh hiệu là Thiên Ân vào năm 1156. Đời Nguyên, Bà được phong tặng Thiên Phi Đời Khang Hy 1682 Bà được gia phong Thiên Hậu Thánh mẫu. Tổng cộng qua các đời Tống, Nguyên Minh, Thanh, Bà được phong tặng 28 lần mỹ hiệu, tước hiệu (10). Ngoài tước hiệu và danh vị chính thức, người Hoa còn tôn xưng Bà bằng nhiều tên gọi khác nhau. Người Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là Đại Mẫu. Người Quảng Đông gọi là Đức Bà. Ngôi miếu thờ Bà, người Quảng Đông gọi Phò Miếu.

Ở miền Bắc, tín ngưỡng thờ Mẫu với hình thức Tam Phủ (Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Thiên, Địa Mẫu, mẫu Thượng ngàn) cho thấy hình thức tín ngưỡng nữ thần đã được phát triển, nâng cao địa vị các nữ thần, đặc biệt là những thần nữ có liên quan đến bốn yếu tố: Trời, Đất, Nước, Rừng, là bốn yếu tố chiếm vị trí quan trọng trong đời sống con người, trong sản xuất cũng như đời sống tâm linh, đã trở thành đạo Mẫu.

Tín ngưỡng thờ Mẫu theo di dân đi dần vào Trung Bộ. Ở đây, tín ngưỡng thờ Mẹ Xứ Sở của người Chăm là Bà Pô Inư Nưgar, còn được người Chăm gọi là Pô Nư Cành, đã được kết hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt, hình hành một dạng thức thờ tự mới, với cơ sở nổi tiếng là điện Hòn Chén, nơi đặt thờ Bà Thiên Yana Ngọc Diễn Phi. Ngô Đức Thịnh đã nhận xét: “Vị nữ thần Chăm này là sự kết hợp giữa nữ thần Chăm bản địa và nữ thần Uma, vợ của Shiva. Bà là vị thần cao nhất của vương quốc Chămpa, được tôn xưng là Mẹ Xứ Sở (11). Nếu như ý thức tôn vinh Thiên Phủ đã có trong tín ngưỡng thờ mẫu ở miền Bắc thì khi vào miền Trung và Nam Bộ đã có sự chuyển hóa. Thời vua khải Định, tín ngưỡng này được tôn thành Thiên Tiên Thánh Mẫu ( Mẹ trời, Tiên, Thánh). “Ở Huế, tín ngưỡng thờ Mẫu nơi đây đã phân lập khái niệm thiên phủ ra hai cõi: thượng thiên và trung thiên. Khái niệm địa phủ lại được chuyển hóa thành khái niệm Thượng ngàn. Trung thiên được hiểu là cõi trời trung gian giữa cõi trời thượng thiên và thế gian”(12).

Ngoài cơ sở thờ tự dành cho Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, còn khá nhiều ngôi chùa, trong sân cũng đặt miếu Bà như chùa Giác Lâm (quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí minh); hay trong chùa cũng dành một trang thờ Bà riêng biệt trong chính điện (chùa Phụng Sơn – quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh). Chúa Xứ  cũng được thờ tự trong ngôi miếu ở nhiều sân chùa. Tại chính điện chùa Tây An (tỉnh An Giang) hai bên Chúa Xứ Thánh Mẫu còn có Chúa Tiên, Chúa Ngọc chầu hầu. Hình tượng Địa Mẫu với tư thế đứng trên trái đất, mình khoát áo choàng màu đen, lại được đặt trước cửa vào điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen. Gần cửa vào điện thờ này ta cũng thấy có ngôi miếu nhỏ thờ Neak Tà, một dạng Thổ thần của người Khơ Me. Có thể thấy trong ngôi chùa Bửu Sơn (thị xã Sóc Trăng) của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, ngoài các thần linh thể hiện đậm nét mối giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa qua việc thờ Thiên Phụ, Đại Mẫu trên bàn lộ thiên đặt ở giữa sân như hầu hết các miếu của người Hoa, còn có bàn thờ riêng dành cho Phật Mẫu Diêu trì.

Trên điện thờ của nhóm theo đạo giáo do Phật Thầy Tây An khai sáng ở Nam Bộ, tại ngọc Liên Hoa tịnh thất quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng đặt tượng Diêu Trì Kim Mẫu trên chính điện, phối tự với Ngọc Hoàng Thượng Đế và Mẫu Mẹ (13).

Đạo cao Đài, vốn là tôn giáo bản địa, xuất hiện ở Nam Bộ vào năm 1926, đã thể hiện ý thức thờ tự cặp đôi, đối sánh Âm - Dương, Trời - Đất qua việc đặt thờ vị trí tối cao dành cho Ngọc Hoàng Thượng Đế (Cha Trời) và Diêu trì Kim Mẫu (Mẹ Đất).

Đạo Cao Đài quan niệm Phật Mẫu được nhân loại tôn xưng bằng nhiều danh hiệu khác nhau, tùy theo tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và địa phương, Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Bàn Phật Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Đại Từ Mẫu, Tây Vương Mẫu, Địa mẫu, Mẹ Sanh. Mỗi một thánh thất của đạo Cao Đài thuộc hệ phái Tây Ninh đều có thêm một điện thờ Diêu Trì Kim Mẫu và được gọi tên là điện thờ Phật Mẫu, được xây dựng cách thánh thất khoảng 10 đến 20 mét. Diêu Trì Kim Mẫu cũng được đặt thờ trong miếu, chùa của người Hoa như ở chùa Thiên Ý (quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh).

Tại Huế, “từ người con gái trưởng thành cho đến phụ nữ 60 tuổi, trước khi ra lão đều thờ tây Cung Vương Mẫu, hay còn gọi là Đài Cung Thánh Mẫu, một vị nữ thần hộ mệnh của mình. Nơi thờ là trang Bà, đặt ở vị trí cao của gian tả trong nhà, trông về hướng Tây” (14).

2. Giá trị tinh thần truyền thống trong thờ Mẫu ở Nam Bộ

Như vậy có thể thấy ở Nam Bộ, tín ngưỡng thờ Mẫu khá khác biệt so với miền Bắc và miền Trung.

Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ có kế thừa, tiếp thu và sáng tạo, đã chuyển hóa từ Linga – Yoni sang Ban Cô – Ban Cậu, được thờ phối tự với Chúa Xứ Thánh mẫu (miếu Bà Chúa Xứ núi Sam).

Tín ngưỡng thờ Mẫu Nam Bộ thể hiện mối quan hệ, giao lưu văn hóa Việt – Khơ  Me (Miếu ông Tà trong sân miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, hay trên núi Bà Đen), hay giữa Việt - Hoa ( chùa Phước Hải An tự ở Sóc Trăng của người Việt có thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu) tạo ra một quần thể tín ngưỡng hay một điện thờ đa văn hóa. Ta thấy “có hiện tượng tích hợp nhiều lớp văn hóa - tín ngưỡng khác nhau: lớp văn hóa Phù Nam, lớp văn hóa cổ truyền Khơ Me, lớp văn hóa Chăm và lớp văn hóa Việt (15).

Một nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng: “Khi những tôn giáo đã không còn đủ sức thu hút và niềm tin cứu đời, thì Thánh Mẫu xuất hiện” (16). Từ đó, có thể thấy không phải ngẫu nhiên  mà hai vị Thánh Mẫu quan trọng nhất ở Nam Bộ được đặt ở vị trí chiến lược, trên hai ngọn núi cao nhất Nam Bộ, là vùng tiếp giáp biên giới. Chính tâm thức của người dân có nhu cầu, khát vọng về một cuộc sống bình an, hạnh phúc đã đưa đến việc đặt để vị trí thờ tự trên. Khát vọng chính đáng ấy nói lên tư duy sáng tạo, xuất phát từ bối cảnh địa - chính trị, địa - lịch sử và địa - văn hóa của Nam Bộ. Tín ngưỡng Mẹ Xứ Sở đã được tôn vinh thành Thánh Mẫu ở miền Trung với Thiên Yana Ngọc Diễn Phi, một lần nữa lại tích hợp vừa là Địa Mẫu (Địa Phủ), vừa là Mẫu Thượng Thiên (Thiên Phủ), của đất Bắc. Chức năng tổng hợp dành cho các thánh Mẫu ở Nam Bộ nói lên nhu cầu cần thiết được bảo vệ, được che chở ở một vùng đất phải đối đầu với qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược trực tiếp, cần thiết phải bảo vệ biên cương lãnh thổ. Huyền năng của các Bà, các nữ thần đã được tôn vinh thành Thánh Mẫu ở Nam Bộ đã nói lên tinh thần yêu nước, khát vọng thanh bình, hạnh phúc của cư dân vùng đất mới. Đồng thời cũng huyền thoại, truyền thuyết do người dân nêu lên đã phản ánh một bức tranh đa dân tộc, đa tôn giáo và đa văn hóa của Nam Bộ.

Nghi thức cúng tế trong các miếu, điện thờ Mẫu cũng giống với nghi cúng đình vào dịp lễ kỳ yên ở Nam Bộ. Tuy nhiên, ở đình không diễn ra múa bóng rỗi, mà chỉ có ở miếu.

Không gian thờ Mẫu ở Nam Bộ khá rộng lớn, không chỉ là một cơ sở thờ tự riêng biệt  mang tính cộng đồng là miếu, mà còn phối tự trong miếu, chùa, vườn chùa, hoặc ngay tại chính điện. Tuy vậy, thờ Mẫu ở Nam Bộ ít mang tính chất gia đình như hiện tượng thờ Tây Cung Vương Mẫu ở Huế, trừ trường hợp một số gia đình người Hoa tỉnh Sóc Trăng có thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu tại gia đình. Tính cộng đồng vẫn chiếm vị trí chủ đạo, vẫn là niềm tin và sự kỳ vọng chung cư dân Nam Bộ đối với các Thánh  mẫu.

Nơi thờ tự các Mẫu ở Nam Bộ có tên gọi khác với ở Bắc và Trung Bộ. Nếu ở miền Bắc, thờ Mẫu được đặt trong những phủ, đền, hay những quán của đạo Lão, hay một phần trong các chùa chiền, thì ở Nam Bộ, mẫu thường thấy phổ biến ở các đình làng, trong miếu, vốn là những nơi thờ tự phổ biến tín ngưỡng của cộng đồng cư dân tại đây.

Khảo sát danh xưng các Mẫu ở Nam Bộ cho thấy những nữ thần được tôn vinh Mẫu đều được gọi qua danh xưng Thánh Mẫu. Điều này khác biệt so với tên gọi Mẫu ở phía Bắc ( Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thượng Thiên, Địa Mẫu). Nếu như mẫu chính là những nữ thần đã được tôn vinh, được đưa lên vị trí tột đỉnh, có liên hệ đến bốn yếu tố Trời, Đất, Nước, Rừng, thì khi vào miền Trung và Nam Bộ, các yếu tố ấy vẫn được lưu giữ, nhưng cũng đưa đến hiện tượng đặt nặng yếu tố này hơn yếu tố khác, hoặc sáng tạo thêm một số yếu tố mới, như cõi Trung thiên miền Trung, hay kết hợp nữ thần với Thánh Mẫu để hình thành một thần điện mới (thờ Bảy Bà). Điều này được Quy định từ tính chất địa - văn hóa của vùng miền. Khung cảnh thiên nhiên khác biệt, xa dần vùng rừng núi, tiếp cận với đồng bằng Nam Bộ, nên Mẫu Thượng Ngàn đã rở nên mờ nhạt. Thiên Phủ đã được chuyển hóa, từ nhiên thần đến nhân thần (Thiên Phủ --> Liễu Hạnh) rồi lại từ nhân thần đến nhiên thần (Liễu Hạnh --> Cửu Thiên huyền nữ). Địa Phủ, Thủy phủ được tôn thờ, được giữ lại qua các lớp văn hóa mới bao phủ, được gọi theo một danh xưng mới, nhưng về chất thì vẫn không thay đổi. Vì vậy, ta thấy về Địa Phủ vẫn còn lại tên gọi Địa Mẫu, nhưng đã hình thành những “Mẫu mới”, được Thánh hóa thành Chúa Xứ Thánh mẫu, thành Linh sơn Thánh Mẫu, cai quản một vùng đất rộng lớn, là hình tượng của Mẹ Xứ Sở, một Pô Inư Nưgar ở góc trời Nam. Những truyền thuyết khác nhau về hai vị Thánh Mẫu này chính là những cốt lõi, định hình cho cuộc Thánh hóa này, để đưa những vị Mẫu này, tuy ở vị trí tối cao nhưng có thể gần gũi hơn với con người, bởi vì họ cũng là người, được nhân dân gắn vào truyền thuyết nên có họ, có tên (Lý Thị Thiên Hương, Nàng Đênh…).

Từ đó có thể thấy, thờ Mẫu ở Nam Bộ đã bộc lộ được một giá trị tinh thần phong phú của cư dân vùng đất mới. Ý thức lưu giữ, nhớ lại cội nguồn qua việc thờ Tam Phủ Tứ Phủ vẫn đang còn tiếp tục hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh qua đền Sòng Sơn Thánh Mẫu (quận 3), đền Mẫu Tuyên, đền Mẫu Thiên Hoàng, đền thờ Hai Bà Trưng và Thánh Mẫu Phủ Giầy; dù rằng về kiến trúc, bày trí tượng thờ đã có một ít khác biệt. Tiếp tục tôn thờ triết lý âm dương, ngũ hành nhưng có sáng tạo, tích hợp những yếu tố mới do quá trình giao lưu văn hóa ở miền Trung (chúa Tiên, chúa Ngọc) để hình thành tín ngưỡng Bảy Bà ở Nam Bộ. Đó là kết quả của tư duy tổng hợp giữa các nữ thần (bà Chúa Động, bà Cố Hỉ, bà Thủy, Bà Hỏa và Thánh Mẫu (Chúa Tiên, Chúa Ngọc, bà Chúa Xứ).

Cũng dễ dàng nhận thấy yếu tố sông nước được đặt lên vị trí tối cao của Mẫu Thoải, vì Nam Bộ là vùng sông nước. Nhưng vào miền Nam, do quá trình cộng cư với người Hoa, nên tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu, vốn có nguồn gốc từ vị nữ thần của biển cả, bảo vệ người đi lại trên sông nước, đã được người Hoa tín ngưỡng phổ biến rộng rãi, chiếm đa số, có mặt hầu hết các vùng miền. Ở đồng bằng sông Cửu Long, khá nhiều ngôi miếu thờ Bà đã được xây dựng cách nay hơn một trăm năm. Người Hoa ở Cà Mau, Bạc Liêu còn gọi Bà là Bà Mã Châu, phiên âm của tên gọi Mazou, có từ Trung Quốc (17).Tại Thiên hậu Thánh miếu (xã Vĩnh Mỹ, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang) có cặp đối treo trước cửa vào miếu, ca ngợi Bà, với bốn chữ đầu của hai cặp này, đọc theo hàng dọc thành Thiên Hậu Thánh Mẫu:

Thiên đức cao minh bảo hộ thôn hương hỉ lạc

Hậu cung phổ chiếu phù trì xã ngọc vĩnh khang

Thánh tích uy linh lê dân lạc nghiệp

Mẫu nghi chiếu diệu bổn hội an hòa.

Miếu thờ tại quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh còn xác nhận sự tôn vinh này qua bảng ghi trước cổng năm chữ Hán “Thiên hậu Thánh Mẫu miếu”.

Trong nhiều gia đình người Hoa ở Nam Bộ, đặc biệt là ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng , Bà còn được thờ tự ở gian trước, với bài vị màu đỏ, trang trọng ghi bốn chữ Hán nhũ vàng: “Thiên Hậu Thánh Mẫu”.

Quá trình người Hoa sống cộng cư với người Việt và người Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long cũng đã đưa đến hiện tượng giao lưu văn hóa thú vị: trong ngôi chùa của người Việt cũng đặt tượng thờ Bà (Hải Phước An Tự, ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng).

Cũng lưu ý rằng, tên gọi Thánh Mẫu là danh xưng gia phong cho bà Lâm Mặc, thời nhà Thanh (Khang Hy) 1682, còn các đời trước, chưa phong tặng Thánh Mẫu (18). Phải chăng do ảnh hưởng gia phong danh xưng Thiên hậu Thánh mẫu dưới thời Thanh mà từ tế kỷ XVII về sau, ở Nam Bộ, các Mẫu được gọi phổ biến là Thánh Mẫu? ảnh hưởng giao lưu văn hóa qua danh xưng từ đời nhà Thanh có điều kiện du nhập và lưu giữ ở Trung và Nam Bộ rõ nét hơn Bắc Bộ, nhất là từ sau phụ kiện phân chia Đàng - Trong và Đàng Ngoài, di dân và tín ngưỡng - tôn giáo từ Trung Quốc đã có điều kiện đi thẳng vào Trung Bộ và Nam Bộ.

Đạo Cao Đài, một tôn giáo mang yếu tố dân tộc khá rõ nét, đã chủ trương giáo lý mang tính tổng hợp là “Quy nguyên tam giáo, ngũ chi phục nhất”. Phương châm hành đạo ấy cho thấy một nhân sinh quan, một nếp sống đạo vừa mang tính tổng hợp, vừa thể hiện quá trình tâm linh trong việc tu ấy phải tiến lên năm bậc, đi từ Nhân đạo đến Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo Phật đạo. Khi thiêng hóa các Mẫu ta thấy có danh xưng Thánh Mẫu (Linh Sơn Thánh mẫu, Chúa Xứ Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh mẫu), còn vị trí tối thượng, cao nhất trong năm bậc, được nâng lên hàng Phật, tương xứng với Phật Mẫu,  dành cho Diêu Trì Kim Mẫu, vì trong đạo Cao Đài chủ trương “Tam giáo đồng nguyên” trong đó có Phật giáo. Như vậy, ngoài danh xưng Thánh mẫu phổ biến cho các mẫu, thì cũng thấy có Phật Mẫu. Do đó, từ tín ngưỡng nữ thần, qua quá trình dung hợp văn hóa, từ địa bàn chuyển cư miền Bắc vào miền Nam. Nam Bộ là vùng đất cuối cùng của tổ quốc, đã tích hợp, dung chứa trong nó bức tranh khá toàn cảnh về quá trình phát triển tâm thức về Mẫu, thể hiện qua năm bậc thang tiến hóa, hướng thượng, dành cho một số nữ thần ở Nam Bộ, có liên quan đến các yếu tố Trời, Đất, Nước, được tôn vinh, được đưa lên vị trí cao hơn nữ thần, để trở thành Thánh Mẫu, Phật Mẫu.

Từ yếu tố này đã bộc lộ trong tín ngưỡng thờ Mẫu một tư duy hướng thượng và hướng thiện.  tâm thức phiếm thần của cư dân Việt dung chứa trong nó tư duy hướng thiện sâu sắc. Không phải ngẫu nhiên mà Thị Thiên Hương (hay nàng Đênh) lại được ngưỡng vọng và tôn kính đến nhường ấy. Huyền thoại về cái chết của cô gái trung trinh Lý Thị Thiên Hương, mượn cái chết để bảo toàn phẩm giá, là bài học lớn về giáo dục nhân cách cho người phụ nữ. Cũng không phải ngẫu nhiên mà bà Thiên Hậu lại được du nhập vào điện thờ Phật giáo, được đặt thờ phổ biến trong chùa Việt, trong miếu của người Hoa. Lòng hiếu thuận và tinh thần vô úy, xả thân vì mọi người của bà đáng được làm tấm gương soi cho nhiều thế hệ phụ nữ đời sau, và lại cũng gần gũi với tinh thần vô úy (không sợ hãi); với cái “dũng”, một trong ba yếu tố căn bản của người theo đạo Phật phải có là Bi, Trí, Dũng.

          Tín ngưỡng thờ Mẫu một mặt góp phần mang lại nhiều ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, thì một mặt khác, cũng chính xuất phát từ những điều kiện và các yếu tố ấy lại làm cho dạng thức tín ngưỡng này nhóm màu sắc mê tín, nặng tính thần quyền, đưa đến một số suy nghĩ có thể sai lệch. Các bàn thờ Mẫu, thờ Cô (Cô Hồng, Cô hạnh), thờ Chúa (Chúa Hòn) bên trong chính điện đã “góp phần” đưa vào đây nhiều nghi lễ liên quan đến việc cầu cúng, xin xâm, bói quẻ, xin keo. Hình ảnh, tên gọi Phật Mẫu, vô hình trung đã đưa lại trong tư duy một số Phật tử về đạo Phật ngưỡng vọng Thượng Đế, tin rằng Thượng Đế ngự trị, ban phúc giáng họa, có quyền năng chi phối cuộc sống con người (19). Những pho tượng thờ Thần, Thánh, đã làm mờ nhạt đi quan niệm và vai trò tự lực của con người. Tha lực của Phật, Bồ tát chỉ góp phần hỗ trợ, vì Phật Thích Ca đã chẳng từng khuyên nhủ các đệ tử của mình: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.

Các hình thức cúng tế như múa bóng, lên đồng, đâu phải lúc nào tự nó cũng đủ tính thuyết phục về một sự tích hợp các văn hóa - nghệ thuật. Từ các công trình nghiên cứu về hát văn, múa bóng, về đạo Mẫu Việt Nam (20) quả đã mang lại một giá trị khoa học, một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần làm rõ, đi đến việc thừa nhận những giá trị văn hóa - nghệ thuật mà trong suốt tiến trình đi về phương Nam, tín ngưỡng thờ mẫu của dân tộc Việt Nam đã được tích hợp.

Như vậy, có thể thấy, thờ Mẫu ở Nam Bộ không mang tính khuôn mẫu như ở Bắc Bộ, không trở thành một đạo mẫu, vì trong quá trình du nhập và phát triển ở Nam Bộ, do giao lưu văn hóa với nhiều vùng miền khác nhau, việc thờ mẫu nơi đây đã mang tính thoáng, mở, đã tích hợp nhiều loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu, có liên quan đến Đất, Nước, Trời. trong thờ mẫu ở Nam Bộ vẫn còn đọng lại những hình thức thờ tự của đạo Mẫu bắc Bộ. Thờ Mẫu ở Nam Bộ vừa mang tính chung nhất vừa thể hiện nét đặc thù. Vì vậy, có thể nói rằng, thờ Mẫu ở Nam Bộ đã góp phần minh chứng cho quy luật thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

 

Chú thích

(1) Xem Trần Đại Vinh (1995),  Tín ngưỡng dân gian Huế, Nxb. Thuận Hóa, tr. 117.

(2) Trần Ngọc Thêm (1895), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường Đại Học tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr.194.

(3) Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895), Đại Nam quốc âm tự vị. Tome I. imprimerie Rey,Curiol & Cie, Sài Gòn, Tr.19.

(4) Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam,  tập I Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 280.

(5) Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo mẫu Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 29.

(6) Ngô Đức Thịnh (2009), sđd, tr. 29, 31.

(7) Minh là một đạo giáo có nguồn gốc từ trung quốc, thành viên tham gia phong trào Thiên Địa hội. Khi sang Việt Nam, đầu thế kỷ 20, thành viên còn bao gồm những người yêu nước chống Pháp. Đạo in ấn sách, Đạo Nam kinh, như là một hịch truyền kháng chiến chống xâm lược, thể hiện tinh thần yêu nước.

(8) Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam. Tập I, Nxb. Tôn giáo, Nội, tr. 282.

(9) Tổng hợp từ các tư liệu: - Tsai Maw Kuey, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Thư viện Quốc gia Pais, 1968, bản dịch Việt.

- Bia ký miếu Thiên Hậu. Hội quán Tuệ Thành. Lập năm 1988.

- Phan An, Phan Yến Tuyết, Trần Hồng Liên, Phan Ngọc Nghĩa, Chùa Hoa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1990.

- Liêu Địch Sinh, Hương Cảng Thiên Hậu sùng bái. Tam Liên thư điếm. Hương Cảng, 1996.

- Sự tích bà Thiên Hậu, Hà Chương hội quán.

- Keith Stevens, Chinese Gods,  Collins & Browr, 1997.

(10) Liêu Địch Sinh, Hương Cảng hiên Hậu sùng bái, Tam liên thư điếm. Hương Cảng, 1996. Bản chữ Hán.

(11) Ngô Đức Thịnh (209), Đạo Mẫu Việt Nam,  Tập I, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 279.

(12) Trần Đại Vinh (1995), Tín ngưỡng dân gian Huế, Nxb, Thuận Hóa, tr. 137.

(13) Theo sự giải thích của người phụ trách tịnh thất này thì Mẫu Mẹ ở đây là thờ Mẹ của Ngọc Hoàng Thượng Đế.

(14) Trần Đại Vinh (1995), Tín ngưỡng dân gian Huế, Nxb. Thuận Hóa, tr. 85 – 86.

(15) Ngô Đức Thịnh (2009),  Đạo Mẫu Việt Nam, Tập I, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 286.

(16) Ngô Hưng Đan (2008), Thờ Phật và thờ Thánh Mẫu vùng đồng bằng Nam Bộ. http://daophatngaynay.com/viet/vh/thoPhatvahoThanhMau.htm.

(17) Tượng Châu dễ nhận biết qua khuôn mặt đen, hai tay cầm thẻ bài và đưa ngang trước ngực.

(18) Đời Tống (Tống Cao Trung) phong tước vị đầu tiên là Phu Nhân Linh Huệ kèm theo vinh hiệu là Thiên Ân vào năm 1156. Năm 1184 Bà được phong vinh hiệu bảo Quang. Ba năm sau Bà được phong là Tứ Phước. Đến đời Tống Quang Trung (1190) Bà được phong là Phi Linh Huệ. Năm 1208 Tống Linh phong cho Bà Hộ Quốc Trợ Thuận Gia ứng anh liệt. Năm 1253 Tống Lý phong bà là Linh Huệ Trợ Gia ứng anh liệt hiệp chính phi. Đến năm 1258 lại phong tặng cho Bà là Hiển Tế Linh huệ Hiệp Chính Gia ứng Thiện Khánh phi. Đời Nguyên, Bà được phong tặng Thiên Phi; đời Thanh Khang Hy 1682 Bà được gia phong Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chưa thấy đề cập thời Minh phong tặng Thiên Hậu Thánh Mẫu,  nhưng có lẽ đã có, nên đến thời Thanh mới gia phong.

(19) Trong khi đó, Phật giáo chủ trương không có Thượng Đế ban phúc giáng họa cho con người, mà mọi hành động điều do mỗi cá nhân tạo nên.

(20) Xem Ngô Đức Thịnh (2008),  Lên đồng - Hành trình của thần linh và thân phận. Nxb. Trẻ.

Ngô Đức Thịnh chủ biên (1992), Hát văn, Nxb. Văn hóa dân tộc.

 

Tài liệu tham khảo

1. Đặng Việt Bích(2005), “Thờ mẫu - Tín ngưỡng truyền thống bản địa Việt Nam”. Tạp chí Dân tộc học, số 1/2005.

2. Keith Stevens (1997), Chinese Gods Collins & Brown.

3. Liêu Địch Sinh (1996),  Hương Cảng Thiên Hậu sùng bái, Tam Liên thư điếm. Hương Cảng. Bản chữ Hán.

4. Nguyễn Đức Lữ chủ biên (2005),  Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Nội.

6. Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần, người và Đất Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Nội.

7. Trần Đại Vinh (1995), Tín ngưỡng dân gian Huế,  Nxb. Thuận Hóa, Huế.

Cập nhật ( 04/04/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online