Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Lễ nhạc Phật giáo trong thời đại mới (TT Thích Lệ Trang)
Lễ nhạc Phật giáo trong thời đại mới (TT Thích Lệ Trang) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
04/04/2010

LỄ NHẠC PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI MỚI

*   TT.Thích Lệ Trang

Đạo Phật ngoài triết lý cao siêu còn có cả một kho tàng văn hóa nghệ thuật, trong đó lễ nhạc là một trong những nét nổi bật của văn hóa Phật giáo (…). Phật giáo Việt Nam suốt chiều dài lịch sử từ khi du nhập đến nay đã khẳng định những đóng góp của mình trong lĩnh vực văn hóa thông qua những tác phẩm nghệ thuật bao gồm nhiều thể loại như văn học, kiến trúc, điêu khắc hội họa và âm nhạc nghi lễ.

          Vài nét về âm nhạc khởi nguyên Phật giáo

Phật giáo Việt Nam có cả một kho tàng âm nhạc nghi lễ ở cả ba miền: Bắc – Trung – Nam, cho thấy nền âm nhạc nghi lễ ở nước ta phong phú về hình thức và đa dạng về chủng loại.

          Trên tôn chỉ hoằng pháp độ sinh, các tổ sư ngày xưa đã biết dùng âm nhạc nghi lễ làm phương tiện để chuyển tải chân lý của Đức Phật đến với mọi người nhằm mục đích hướng họ về với một đời sống thánh thiện.

          Lễ nhạc Phật giáo là một trong các hình thức nghệ thuật trực tiếp gợi lên cảm xúc và dẫn đến sự đồng cảm. Lễ nhạc được phổ biến rộng rãi trong mọi lĩnh vực sinh hoạt của nhân loại: Ai nhạc khiến lòng người buồn thương, Hòa nhạc khiến tâm người vui vẻ, Quân nhạc khiến chí người phấn chấn, Thánh nhạc khiến thân người an tĩnh. Âm nhạc có sự ngăn cách giữa nhân và ngã. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ chung của thế giới hữu tình.

          Trong Phật giáo, lễ nhạc là một trong sáu món cúng dường. Với âm điệu thiền vị, nhạc khúc du dương, nó có tác dụng rất lớn đối với sự chuyển hóa nhân tâm.

          Tìm về nguồn gốc khởi thủy của lễ nhạc Phật giáo, thì nó được bắt nguồn từ “Veda” – Vệ Đà. Đây là một thứ âm nhạc cổ đại trong văn hóa Ấn Độ. Kinh chép: Đức Thế Tôn cũng thường dùng Dà đà (kệ tụng) để làm phương tiện hoằng dương Chánh pháp. Đồng thời Ngài cũng cho các Tỳ kheo chuyên chú vào việc đọc kinh (Thanh bái), Luật Thập Tụng chép: Thế Tôn khen ngợi Tỳ kheo Bạt Đề rằng: “Cho phép ông được trì tụng kinh văn theo cách Dà đà”.

          Vì nhạc khúc du dương và giai điệu thanh tịnh có khả năng chuyển hóa lòng người. Diễn tấu phạm âm có thể khiến cho vọng niệm tiêu tan. Cho nên, khi Phật còn tại thế, sau những buổi thuyết pháp, chư Thiên thường trổi nhạc cúng dường, ca ngợi công đức của Tam bảo. Kể từ đó, âm nhạc đã trở thành một nghi thức không thể thiếu trong các pháp hội Phật giáo.

          Phật giáo Việt Nam vào buổi sơ khai đã được các vị cao tăng Ấn Độ theo thuyền buôn đặt chân đến Giao Châu truyền đạo. Các ngài đã dạy dân bản xứ biết thắp hương, lễ Phật, đọc lên những kệ tụng qui y theo điệu khúc được gọi là “Phạm bái”. Phạm là thanh tịnh, bái là tán tụng, ca vịnh. Dần dà những điệu khúc đó được chuyển dịch theo ngôn ngữ tiếng Việt mà người dân Việt quen gọi là “kể hạnh”. Về sau này các vị cao tăng như Khương Tăng hội (ở Giao Châu); Trúc Pháp Lan, Cưu Ma La Thập (ở Lạc Dương) đã đưa những khúc ca vịnh đó  dung hợp vào những làng điệu dân gian để chuyển hóa thành những nét nhạc đặc trưng của từng vùng, từng miền và chính thức trở thành một nghi thức hành lễ của Phật giáo.

          Như vậy, Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ mới du nhập, các vị sư truyền giáo lấy âm nhạc nghi lễ làm phương tiện chính để truyền đạo. Điều này chúng ta có thể thấy được qua tín ngưỡng “Tứ pháp” của Phật giáo Việt Nam (ở khu vực sông Hồng) vẫn còn tồn tại đến ngày nay lời kinh tiếng kệ được diễn tấu thành những nét nhạc du dương, lung linh như khói trầm, uyển chuyển như tràng phan, an tĩnh như định lực, cao vút như núi tuyết, oai hùng như pháp cổ, giá trị của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh văn thơ, triết lý mà phần quan trọng đáng kể chính là đạo lực thanh tịnh của người tu hành.

          Bức tranh lễ nhạc Phật giáo Việt Nam hôm nay

          Âm nhạc của Phật giáo Việt Nam ngày xưa đã đạt đến một trình độ siêu tuyệt, điều đó có thể tìm thấy qua những tư liệu của các vị Tổ để lại. Thế nhưng lễ nhạc của Phật giáo Việt Nam về hình thức lẫn nội dung quả thật đã thua kém tiền nhân rất xa, nó không còn bộc lộ được nét sống tâm linh siêu việt như lễ nhạc cổ điển thưở trước. Vì lẽ tâm thức của tăng sĩ trẻ ngày nay bị ngoại cảnh tác động quá nhiều mà định lực thì chưa vững chãi. Hơn nữa, Hán văn không còn được chú trọng, nên đọc thì có đọc mà hiểu thì chưa được bao nhiêu; như vậy làm sao có thể thâm nhập chân lý ngay khi chúng ta xướng tụng. Chính vì thế mà vai trò của những người làm công tác nghi lễ ngày nay cần phải biết chuyển hóa như thế nào để vừa có thể duy trì lại truyền thống cao đẹp của thầy tổ xưa, vừa có thể khế hợp với căn cơ của quần chúng.

          Chúng tôi thiết nghĩ muốn thực hiện được ước mơ này, giáo hội cần phải quan tâm nhiều hơn đến những người có kiến thức uyên thâm về lễ nhạc Phật giáo ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam và phải tạo điều kiện thuận lợi để sưu tầm, khai thác và phát huy cho bộ môn nhạc lễ ngày nay trở thành đúng vị trí của nó đã từng có vị trí chủ đạo trong quá khứ.

          Lễ nhạc cần phải được thiết lập một cách nghiêm chỉnh căn cứ trên truyền thống cũ. Những thang âm, điệu thức của Thiền gia phải được duy trì và sáng tạo – Việt hóa những văn bản chữ Hán để khế hợp với căn cơ người thời nay (những người không thông hiểu Hán văn).

          Còn về nhạc cụ có thể phương tiện dùng bằng những chất liệu ngày nay (kỹ thuật mới), phải có sự giao lưu giữa ba miền, tạo điều kiện gặp gỡ thường xuyên của các nhà nghiên cứu có kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm hành trì về lễ nhạc Phật giáo.

          Giáo hội cần phải thành lập một trường chuyên đề về âm nhạc Phật giáo hoặc có thể đưa lễ nhạc Phật giáo thành một môn học chính thức tại các trường cơ bản Phật học để các tăng ni sinh trẻ có điều kiện tiếp xúc, hầu tạo nên một cái nhìn đúng đắng về vị trí lễ nhạc trong Phật giáo, đồng thời phải đào tạo một đội ngũ kế thừa một truyền thống quý báu mà Thầy tổ đã dày công xây dựng.

          Những buổi lễ truyền thống Phật giáo như tết Nguyên đán, lễ Phật đản, lế Vu lan, các buổi lễ tưởng niệm quý Hòa thượng hữu công trong Phật giáo… phải sử dụng những nét nhạc cổ điển truyền thống, gạn lọc những nét nhạc ngoại lai, có nên chăng cử xướng dòng nhạc này nơi điện Phật trong những buổi lễ truyền thống. Nghi lễ Phật giáo nên chia thành hai loại:

          Nghi lễ truyền thống: sử dụng đúng những nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tùy theo từng miền.

          Nghi lễ đại chúng: đơn giản hóa, phải thống nhất những văn bản Việt để mọi người dù Nam – Trung hay Bắc xướng tụng mà đại chúng vẫn họa theo được.

          Ở đây cần lưu ý một điểm nhỏ là trong nghi lễ đại chúng cần phải biết uyển chuyển sao cho phù hợp với thời gian cho phép.

          Thế nên mục tiêu cấp bách của Giáo hội hiện nay là cần phải thống nhất nghi lễ Phật giáo Việt Nam. Để thực hiện điều đó, chúng tôi thiết nghĩ là phải thống nhất những bản kinh, pháp ngữ, kệ tán để cả ba miền không bị mất truyền, pha tạp.

          Thống nhất nghi lễ Phật giáo Việt Nam là một vấn đề cấp thiết, không chỉ những người làm vai trò nghi lễ có trách nhiệm mà tất cả những ban nghành khác của giáo hội đều phải phối hợp đồng đều, quan tâm hỗ trợ để cùng có một cái nhìn nhất quán. Nghi lễ Phật giáo giống như Quốc ca của một dân tộc, không thể để những người thiếu hiểu biết đánh giá sai lầm về nghi lễ.

          Giữ gìn và phát huy lễ nhạc Phật giáo chính là góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc.

          Qua những thiển kiến trên, chúng tôi nói rằng khi nói đến âm nhạc Phật giáo là nói đến văn hóa của Phật giáo, vì nó phản ánh được đời sống an lạc, giải thoát của Tăng sĩ. Âm nhạc của Phật giáo Việt Nam có đủ tư cách để nói lên tinh thần thoát tục, siêu phàm, tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên. Đã đến lúc tăng ni trẻ Phật giáo Việt Nam chúng ta phải bảo tồn những di sản cao quý của thầy tổ, chớ nên hời hợt, xem thường bảo vật của cha ông, đừng giống như một bác nông phu sử dụng một cái trống đựng lúa cho vịt ăn, trong khi đó những nhà bảo tồn di sản văn hóa thế giới đang ra sức tìm kiếm những cổ vật đó để lưu trữ và nghiên cứu tại các viện bảo tàng” (Trích – GSTS Trần Văn Khuê).

          Cuối cùng, xin trích dẫn một câu nói của cổ đức: “Giá biên, na biên ứng dụng bất khuyết” (dù sự hay lý, tất cả đều là phương tiện để dẫn dụ đưa con người đến với chánh đạo). Người học Phật phải tùy duyên mà ứng dụng, đừng có cái nhìn phiến diện, tự tôn, cố chấp để dánh mất những giá trị cao quý mà tiền nhân đã dày công xây dựng.

Cập nhật ( 04/04/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online