Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Lễ tang truyền thống của người cao lan (Lê Minh Anh)
Lễ tang truyền thống của người cao lan (Lê Minh Anh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/04/2010

LỄ TANG TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN

* Lê Minh Anh

          Tư duy về một thế giới sau khi chết là sự tri nhận thiêng liêng và sau sắc của con người nói chung và một tộc người nói riêng. Nó cho phép tộc người đó có những triết lý về thế giới quan và nhân sinh quan. Cái chết là sự kết thúc một chu trình sống ở thế giới này và mở đầu một chu trình mới  ở thế giới bên kia. Đám tang có thể coi là gạch nối, sự trung chuyển giữa thế giới của người sống với thế giới của người chết. Chính vì vậy, để tiễn đưa và chuẩn bị cuộc sống mới ở thế giới khác cho người chết, tang lễ được con cháu tổ chức để bày tỏ tình cảm, sự hiếu thuận và chia tay người đã khuất. Cũng như bao tộc người khác đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, tộc người Cao Lan (ở Vĩnh Phúc) cũng định hình một quan niệm, tập quán về cái chết và tang lễ cho người đã khuất.

         Khi trong gia đình người Cao Lan có người ốm nặng, mọi thành viên trong gia đình, dòng họ nội ngoại tập trung chăm sóc và tiến hành làm lễ cúng ma cầu sức khỏe. Nếu người bệnh không qua khỏi, gia đình đem súng kíp ra ngoài sân bắn một phát chỉ thiên vừa để tiễn vong hồn lên trời vừa để báo với dân làng biết là gia đình đã có người qua đời.

          Trước đây, khi nhà có người yếu, con cháu nhờ người lên rừng tìm cây gỗ loại tốt có lõi, không cụt ngọn, lấy đoạn thân gỗ đẹp nhất rồi đẽo khoét thành quan tài có hình lòng thuyền, họ còn dày công bửa hoặc sẽ 1/3 thân khúc gỗ làm nắp quan tài. Làm xong họ chuyển về khu rừng gần nhà. Người Cao Lan kiên đem quan tài về nhà vì như vậy có nghĩa là mong cho người ốm  nhanh chết. Khoảng vài chục năm trở lại đây họ đã chuyển sang dùng ván xẻ làm quan tài. Nhưng kiên đóng trước, chỉ khi người đã chết mới nhờ thợ đóng quan tài. Nếu đóng quan tài trước là mong người già mau chết. bên cạnh ấy, việc chọn gỗ đóng quan tài cũng được quan tâm, nhất thiết phải là gỗ lõi, không mối mục.

          Sau khi người bệnh tắt thở, người ta đưa đồng tiền xu vào miệng và đun nước lá thơm lấy trong rừng tắm rửa, thay quần áo mới. Nếu là đàn bà thì mặc cho bộ áo váy giống của cô dâu trong ngày cưới. Nếu là đàn ông  thì mặc trang phục thường ngày, nhưng là bộ mới. Sau đó con cháu khiên thi hài ra đặt lên chiếu mới ở giữa nhà rồi đắp chăn  màu sáng qua mặt, căng màn xô. Gia đình đặt một cái mâm có một bát cơm, một quả trứng luộc, một cái chén, một cái ấm trà, một thỏi cây chuối cắm ba nén hương, một cây đèn ở bên trái thi hài nếu là nam giới, bên phải thi hài nếu là nữ giới. Tất cả con cháu, chú bác, anh em trong nội tộc đến đem theo một dải vải màu trắng hoặc đen dài độ 2 - 3m quỳ khóc trước vong hồn và cho người thân một tấm chăn, vuông áo để đi vào thế giới bên kia, rồi họ quay qua cùng gia đình lo liệu tang ma. Con trai, gái, dâu, rể để đầu trần xõa tóc đi chân đất, thắt con dao ngang lưng. Làm như vậy để thấy được tấm lòng của con cháu khi người quá cố qua đời. Nó khác hoàn toàn với cách ăn mặc thường ngày khi mà người ốm chưa mất. Hành động như vậy thể hiện sự thương sót từ trong sâu thẳm của con cháu.

          Người con trai cả cầm hai nén nhang đến nhà ông thầy cúng trình bày sự việc và kính mời ông đến làm ma cho người thân của họ. Ông thầy nhận lời giở sách xem giờ khâm liệm nhập quan tài rồi báo ngay cho anh ta biết. Nếu người chết ban đêm thì ngay mờ sáng hôm sau người con trai đi chân đất đến từng nhà trong bản gọi chủ nhà ba tiếng báo rằng: Bố (mẹ) tôi đã chết nhờ bản làng đến giúp. Ông chủ nhà nghe tiếng nhưng không trả lời, rồi họ tiếp tục đi nhà khác. Trong đời sống xã hội và văn hóa thầy cúng là người được mọi người dân trong thôn bản kính trọng. Thầy là người hiểu biết về mọi lý lẽ của những nghi lễ nói chung và đặc biệt hơn là lễ tang. Trong cuộc sống ngay cả những bậc cao niên trong thôn cũng không thể biết tường tận về cái lý của một đám tang, vì thầy cúng là người hành nghề chủ yếu theo cha truyền con nối và đặc biệt hơn là họ biết đọc và viết chữ cổ và các bài cúng đưa linh hồn người chết đến với tổ tiên.

          Khi đoàn thầy cúng đến, gia đình đặt sẳn mấy chậu lá nước thơm ở trước cửa để thầy cúng rửa tay chân, con cháu ra đứng chờ cúi đầu đón thầy. Chiếc quan tài đã đóng xong đưa lên để gần người chết. Những vật cúng như con gà con, cây gậy và đồ đạc mang theo người chết đã để sẵn. Đến giờ nhập quan, ông thầy cúng mặc áo ca sa tay cầm thanh kiếm làm phép đi vòng quanh quan tài ba vòng và dùng kiếm vạch  vạch, chỉ chỉ trong lòng áo quan. Sau đó người ta lót các thứ cần thiết vào áo quan như vải nếp, nhà giàu còn rang gạo giã bột, rắc vào một lượt, người ta đặt 7 đồng tiền chinh cổ vào mặt hai đồng đậy mắt, hai đồng đậy tai, hai đồng đậy mũi và 1 đồng đậy mồm dùng dây vải buộc hai ngón chân cái vào rồi đặt người chết vào quan tài. Họ đập chết con gà con đưa vào cùng một cây gậy, con gà là sinh linh đưa đường cho vong hồn đến tổ tiên, cái gậy để vong hồn chống đi đường, rồi đậy những tấm vải mà người thân đã đắp cho khi mới mất. Một số miếng vải gấp lại cho chèn hai bên đầu sao cho chặt, thầy cúng làm phép một lần nữa, rồi họ đậy nắp quan tài lại, giữa nắp và áo quan gắn chặt bằng mảnh gỗ đuôi cá. Người ta đặt ở phía đầu quan tài một bức tranh có tên là:  “dưn dinh lù” dài tới 4 - 5m bằng vải dòng lên đầu hồi nhà, ý chỉ con đường dẫn vong hồn người chết lên thiên đường.

Trước khi phát tang, các bà trong thôn tập trung may trang phục tang. Áo tang của nam cũng như của nữ đều không có cúc mà chỉ buộc bằng vải nhỏ không khâu gấu áo, không có túi. Áo của nữ dài đến bắp chân, áo nam như áo bình thường. Khăn tang nam giới là miếng vải vuông quây tròn vừa đầu đính chỉ lại, con trai, con rể đều mang khăn áo tang như nhau và thắt dây ngang eo lưng. Khăn tang nữ giới là miếng vải vuông dài chừng 2m, được khâu hình chóp đội lên đầu, vải khăn để dài ra phía sau. Hàng cháu chắt lấy một vuông vải gấp đôi đưa lên trán buộc chít sau gáy. Với những người thân thích trong họ tộc nội ngoại cũng buộc như vậy.

Theo tập quán xưa của người Cao Lan thì người chồng không để tang vợ, ngược lại vợ phải đội tang chồng chỉ bằng một cái khăn tang buộc chít sau gáy. Vài chục năm gần đây thì người chồng cũng đội khăn để cho vợ. theo phong tục khi mà người phụ nữ được gả về nhà chồng trong ngày đón dâu, thầy cúng phải làm lễ nhập họ cho cô dâu. Từ đó cô dâu chính thức là người thuộc về nhà chồng cả về mặt cuộc sống và tinh thần. Sau này khi chết họ sẽ được đưa linh hồn về tới tổ tiên bên nhà chồng.

Khi khâm liệm, phát tang xong, ông thầy quay ra lập bàn thờ thánh tại phía đầu quan tài. Phía tang chủ cho thịt ngay một con lợn làm rau canh, rồi cắt lấy cái thủ lợn, luộc qua rồi đưa lên đặt vào mâm cúng người chết.

Việc làm nhà xe, nhà bằng giấy trong đám tang của  người Cao Lan, là một điều bắt buộc. Ngôi nhà có chiều rộng khoảng 1,5m dài 1,2m, cao khoảng 3m sao cho úp gọn trên cái quan tài nhà 2 tầng, tầng 1 được làm riêng, là một ô khung hình chữ nhật dài: khoản 2,5m rộng 1,5m cao khoảng 0,5. Mặt phía trên đan ken bằng phên nứa. Bốn mặt tầng một đều có cửa và cắt dán nhiều họa tiết hoa văn bằng giấy xanh, đỏ, tím vàng. Cấu trúc tầng 2 gồm 3 tổ hợp kiến trúc ghép liền chiều cao khoảng 2m. Tổ hợp chính ở giữa có những cột tròn, ban công của cổng vòm, hai tổ hợp hai bên cấu trúc tương tự, nhưng thấp hơn. Đỉnh chóp hình loe phễu được cắm quả chóp. Bốn góc phễu có tua rua trang trí. Bao bọc xung quanh cũng cắt gián hàng chục kiểu họa tiết hoa văn xanh, đỏ, tím, vàng.

Khi làm xong cả 2 tầng, người ta úp phần 1 lên quan tài, khiên đặt tầng 2 chồng khớp lên. Như vậy nquan tài nằm gọn trong tòa lâu đài. Đây là cái lầu tượng trưng để cầu thần linh lên trời.

Làm ngôi nhà xe xong, họ bắt đầu đi vào cúng tế chính thức. Trước khi người ta để thi hài kéo dài 5-7 ngày đêm cúng tế rồi mới đem chôn. Quan tài khiên đi trước, ngôi nhà khiên theo sau. Chôn người chết xong, họ quay lại làm lễ hỏa thiêu ngôi nhà (hiện nay chỉ để người chết trong nhà một đêm rồi đem ra chôn, quay lại mới tiếp tục làm ngôi nhà, tế lễ 3 ngày đêm). Việc cúng tế trong đám ma của đồng bào Cao Lan thường  tiến hành vào ban đêm. Ban ngày các thầy cúng chỉ cúng tế lấy lệ, còn dành thời gian cho viết tấu sớ chuẩn bị cho buổi đêm. Mỗi đêm có những nghi thức cúng tế riêng.

Đêm thứ nhất gọi là “chạo háu làn”. Phần cúng này bắt đầu từ chiều. Ngôi nhà giấy đặt giữa sân đất phía ngoài nhà. Thầy cúng cắt cử hai nhóm: nhóm 1, 2 người cầm sách vừa đi vừa đọc sớ, người đi sau cầm cái trống con, phía sau là con cháu khiêng tiền được cắt bằng giấy và các động vật như trâu, ngựa, lợn bằng giấy tượng trưng. Nhóm 2 gồm ông thợ cả và mấy thợ bạn đồng gánh cưa, đục, bào... họ đi vòng quanh ngôi nhà theo chiều ngược nhau. Mỗi khi gặp nhau họ lại nổi mấy tiếng trống con rồi hỏi nhau chuyện mua bán nhà về giá cả. Hai đoàn cứ thế di vòng quanh nhà khi gặp nhau lại hỏi giá cả, bớt một thêm hai cho đến khi nhất trí giá cả với nhau là được. Sau đó họ khiêng ngôi nhà giấy đó lên sàn nhà đặt úp vào quan tài.

Nội dung cúng tế lần thứ nhất này làm lễ tam bảo - “slam páo tờu”. Nghĩa là mời đức Tam Bảo nhà Phật về chứng giám cho việc cấp nhà. Thầy cúng và các đạo tràng cúng tế và đọc tờ phúng nói rõ lý do việc con cháu làm nhà cho cha, mẹ để trả ơn nghĩa nuôi nấng sinh thành, danh sách các con cháu đóng góp, đồng thời kể về công lao của cha, mẹ đã mất.

      Người đến viếng ở tư thế quỳ, cầm nậm rượu. Người dâng rượu rót ít rượu vào cái chén. Cứ như vậy lần lược hết những người đội khăn trắng. Nếu là người thân thích, người ta đặt lễ chai rượu hoặc mấy ngàn đồng và cái khăn tang vào mâm cúng, có khi là con gà ván xôi rồi xuống gối lễ 3 lần, tự xưng họ tên, mối quan hệ với vong hồn và cầm khăn tang chít lên đầu. Bà con họ hàng thân thích dâng lễ như vậy cho đến nửa đêm. Trong khi đó người thầy cúng cả và các thầy cúng phụ khác cúng lễ các phần đã quy định trong sách cúng. Quá nửa đêm về sáng, làm đến phần kể về nhị thập tứ.

          Đêm thứ 2 là đêm dẫn đèn - “sừn tăng”, ý của đêm lễ này là con cháu đốt đèn soi đuốc đưa vong hồn đi kiểm tra nhà cửa  xem  được không, đủ thiếu thứ gì. Sau khi làm phép cúng khấn thần linh, thầy cúng xin âm dương. Được, cuộc đốt đèn bắt đầu. Tại bàn thờ thầy cúng chỉ có một ngọn đèn và vài bát bấc, tẩm dầu để sẵn. Mọi ngọn đèn trong nhà tắt hết. Trống, thanh la nổi lên liên hồi, kèn cũng được cất lên theo nhịp. Người con trai trưởng đứng đầu tiên, sau đó là thứ, gái thứ, dâu, rể và các cháu chắt xếp hàng lượt đến nhận bấc châm vào ngọn đèn. Người con trai trưởng châm đầu tiên mỗi tay châm một bấc đi  nhanh, một ngọn để cháy, một ngọn vẩy cho tắt, rồi lại châm và cho tắt, cứ thế mọi người làm theo, vừa đi vừa chạy vòng quanh ngôi nhà giấy. Bỗng nhiên, một người trong số con trai chạy quanh như “xuất thần”, thậm chí xô ngã cả mọi người xung quanh. Người xung cổ vũ động viên chạy tiếp. Lúc này mọi người dạt ra chỉ còn một mình anh ta chạy hàng chục vòng. Cuối cùng anh ta mệt lả ngồi vật xuống một chỗ hai đầu gối rung rung liên tục, mắt nhắm nghiền. Mọi người dịch anh ta đến trước linh sàng (nơi đặt mâm thờ vong  hồn). Ông thầy cúng đến đọc lời thần chú niệm pháp và hỏi lý do chết, có thiếu vật gì, nếu anh ta trả lời thiếu vật gì thì họ đưa vật đó vào tay anh ta, anh ta gật đầu. Rồi  từ từ hai đầu gối bớt rung. Ông thầy cúng dùng vật thánh phát mạnh vào vai. Anh sực tỉnh và mơ màng. Họ  dìu anh ta vào  giường nằm. Cuộc soi đèn kiểm tra nhà kết thúc.

   Tiếp đó lại làm những thủ tục dâng hương rót rượu, mời trà. Trong đêm này cũng diễn ra lễ tế long trọng của những con rể, con gái. Lễ này diễn ra rất trọng thể: Một con lợn cạo sạch lông  nằm trên một chiếc bánh dày to bằng cái mâm đặt chầu vào linh sàng bố (mẹ) vợ. Con lợn này là nghĩa vụ của đôi vợ chồng con rể khiêng từ nhà mình đến phúng, một thầy cúng trong nhóm thầy cúng đọc tờ văn  tế nói lên công lao của bố (mẹ) vợ, vợ chồng con rể quỳ lạy rồi dâng hương rót rượu, rót trà, dâng trầu câu đối với cha, mẹ. Nếu vong hồn có nhiều con rể phải lần lượt làm xong .

          Chiều và tối ngày thứ 3 là phần “lặp phan  tệt slam sênh”- tức là lập cây phan, khẳng định vai trò người chết. Trên một bãi đất ngoài vườn bằng phẳng đã chuẩn bị sẵn hai cây phan để cả phần ngọn dài khoảng 3 - 4m có mấy cái lá, được treo một cái chỏm mũ bằng  giấy. Từ trong chỏm mũ có một dải giấy dài xuống đển gốc để  ở tư thế nằm. Dải giấy một cây có ghi dòng chữ  hán: “ Nam mô phụng thỉnh Phật Pháp giáng  thế” gọi là “phan Phật”. Cây thứ hai ghi dòng chữ “Đế sinh vong hộ pháp, vong hồn quy chính”. Người ta giết sẵn một con lợn nhỏ lấy  tiết, cắt lấy đầu để vào chậu tiết, con cháu mỗi người cầm một mẩu giấy tiền cắt bằng giấy bản quệt vào tiết ở đầu lợn rồi đem để vào cái chậu đặt ở trong một gốc cây phướn. Ý chỉ là bằng chứng con cháu đã giết linh vật để cúng vong hồn cha mẹ. Thầy cúng cầm lấy mấy mãnh giấy có máu lợn áp vào cây, đầu chạm vào phướn. Một người giơ quyển sách cho thầy đọc khấn. Trống nhỏ nổi lên liên hồi. Con cháu phủ phục dưới chân ông thầy.

Buổi tối ngày thứ 3 này gồm nhiều phần. Trong đó có mục lễ điếu phúng ở linh sàng chính, mà tiến hành ở ngoài sân nhà. Người ta làm một ngôi nhà nhiều tầng nhỏ bằng nứa và giấy giống như một ngọn tháp. Thầy cúng đặt một mâm cúng có gà, chai rượu, mấy cái chén. Ông (bà) thông gia sắm một mâm cúng có một con gà luộc, 15 - 20 cái bánh chưng nhỏ hoặc kẹo bánh khác. Ông (bà) thông gia vắt chéo hai dải vải qua vai xuống ngực rồi ngồi ở tư thế quỳ cầm chai rượu. Thầy cúng đọc tờ điếu văn có nội dung thương tiếc và có lòng cảm ơn vong hồn. Lễ cúng này tiến hành song là hóa vàng (đốt lễ) coi như kết thúc cúng tế phần việc đó. Từ giờ sáng trở đi, thầy cúng làm thủ tục “phá ngục” để linh hồn thoát khỏi cõi trần tục siêu thoát lên thiên đàng và làm các thủ tục chuẩn bị khiêng thi hài đi chôn cất và khiên nhà giấy ra mộ đốt. Đến đây coi như đã hoán tất việc làm tang ma cho người chết của người Cao Lan .

    Giữa cõi sống và chết. Giữa trần tục và thiêng liêng của người Cac Lan ở Vĩnh Phúc, với các nghi thức tế lễ trung chuyển đã thể hiện tính chất đặc trưng tộc người. Mặc dù, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều chi tiết hao hao với các tộc người khác, nhưng sắc thái và các nghi thức tế lễ trong tang ma là thể hiện quan niệm về cõi tâm linh và sự nhận diện linh hồn người chết của người sống. Có lẽ đấy là sức linh cho niềm tin của người Cao Lan vào quá khứ và mường tượng về tương lai.

Cập nhật ( 17/04/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online