Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Ngôn ngữ của người Nam bộ trong ca dao, dân ca (ThS. Nguyễn Thế Truyền)
Ngôn ngữ của người Nam bộ trong ca dao, dân ca (ThS. Nguyễn Thế Truyền) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
10/05/2010

NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI NAM BỘ TRONG CA DAO, DÂN CA

* ThS. Nguyễn Thế Truyền

Nam Bộ là nơi tận cùng của Tổ quốc, nơi cư ngụ của những con người nghĩa khí. Cuộc sống bí ẩn, kì dị của những người nửa năm mùa nước nổi này được phản ánh như thế nào trong ca dao, dân ca ? Ca dao, dân ca nói lên được điều gì về tính cách, tập quán, phong tục của họ ? Và một điều cũng rất quan trọng là qua ca dao dân ca, chúng ta biết thêm được được gì về tiếng nói, cách diễn đạt của người dân xứ này ?

   Có người nhận xét là tiếng nói Nam Bộ trong ca dao dân ca nhỏ nhẹ, hiền lành, ngộ nghĩnh, dễ thương :

Nước chảy liu riu

Lục bình trôi líu ríu

Anh thấy em nhỏ xíu anh thương.

   Trong ca dao dân ca Nam Bộ đặc biệt rất hay gặp các từ ngữ địa phương theo cách phát âm địa phương :

– Gừng già gừng lụi càng cay

Anh hùng cơ cực càng dày nghĩa nhơn.

– Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn

Muón ăn mắm cá lấy gái đen giòn Bạc Liêu.

   Một số cách phát âm địa phương xuất hiện đi xuất hiện lại trong ca dao : biểu (bảo), phiếm (phím), đờn (đàn), hiệp (hợp), chưn (chân), phụng (phượng), huỳnh (hoàng), ngãi (nghĩa), …

– Chèo ghe sợ sấu cắn chưn

Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

Phụng hoàng đậu nhánh cẩm lai

Dặn lòng người nghĩa chớ sai lời thề.

   Người Nam Bộ có một hệ thống từ ngữ địa phương phong phú và đặc sắc. Đó là những từ ngữ chỉ cảnh vật thiên nhiên, cảnh sinh hoạt và lao động sản xuất của người dân. Rất nhiều từ ngữ trong vốn từ đặc biệt đó đã được phản ánh trong ca dao dân ca :

– Ai đi bờ đắp một mình

Phất phơ chéo áo giống hình phu quân.

– Đèn lồng treo cột phướn, gió chướng thổi hao dầu

Em có thương anh thì để dạ, chớ có sầu mà hư thân.

   Dĩ nhiên không phải mọi từ ngữ địa phương đều được phản ánh trong ca dao dân ca. Song những từ ngữ được phản ánh đều là những từ ngữ quan trọng nhất, biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, … rất quen thuộc, gần gũi trong đời sống của người dân địa phương :

– Trách ai làm cho thố nọ xa tiềm

Em xa người nghĩa nằm điềm chiêm bao.

– Liệu bề đát được thì đươn

Đừng gầy rồi bỏ thế thường cười chê.

– Bắt con cá lóc nướng trui

Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa.

– Đường đi chân trợt bờ sình

Trợt ba cái lận, chẳng thấy mình đỡ tui

– Hò chơi phỉ dạ hai đàng

Công anh ở trển băng ngàn xuống đây …

   Người Nam bộ tất phải nói theo cách Nam Bộ. Có lẽ một trong những giọng của họ là theo cách bộc trực, ngang tàng, phóng túng :

Con cua kình càng bò ngang đám bí

Thấy chị Hai mày, tao để ý tao thương.

   Chắc chỉ có người Nam Bộ mới dám nói như thế. Ai lại xưng “mày, tao” với cậu Ba, cậu Út, … trong nhà của người mà mình đang nhắm nhe gá nghĩa tơ hồng ? Lí sự gì mà nghe ngang như cua. Nhưng chính cách nói ấy lại giúp bộc lộ một tình yêu chân thật mãnh liệt, hồn nhiên. Cũng như vậy là :

Phải chi cắt ruột đừng đau

Chiếu nay tui cắt ruột, tui trao anh mang về.

   Câu ca dao Nam Bộ cũng như cách nói của người Nam Bộ, thường không chịu gò mình vào khuôn sáo :

Hồi buổi ban đầu

Em biểu anh têm ba miếng trầu cùng li rượu lạt

Giờ em đã có chồng, sao anh lại biểu trốn theo anh !

   Ngôn ngữ của cô gái ở đây rất tự nhiên, thành thực, ý tình rất rõ. Câu ca dao cũng vậy, gần như không bị ràng buộc bởi số lượng câu chữ, vần điệu, mà nói vẫn đạt lời.

   Cách nói năng của người Nam Bộ nói chung giản dị, lời lẽ không trau chuốt :

Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

   Lẽ nào “người Triều Châu” lại đối với “cá chốt”. Khi nghe câu ca dao này lần đầu, tôi cảm thấy có cái gì đó như là không được tế nhị cho lắm. Tuy vậy trong ca dao, dân ca Nam Bộ không thiếu những câu lời lẽ khéo léo ví von uyển chuyển chẳng kém gì ca dao các xứ khác :

Phải chi em có cánh như chim

Bay lên đáp xuống đi tìm bạn xa.

– Mẹ già như chuối chín cây

Gió đưa trái rụng con rày mồ côi.

   Có những ý trong câu ca dao dân ca Nam Bộ rất tinh nghịch, cắc cớ, oái oăm :

Chim khôn lựa nhánh khô mà đậu

Gái khôn lựa lấy chồng nhậu mà nhờ

Nữa mai nó chết bụi chết bờ khỏi chôn !

   Bài ca dao nói ngược này làm chúng ta nhớ đến một bài ca dao khác, bởi vì nó nhại lại bài ca dao đó : “Com chim khôn lựa nhánh cây xanh mà đậu, Gái khôn kiếm trai đôn hậu làm chồng, Cô bác xa nhòm ngó nói phượng với rồng sánh đôi”.

   Câu ca dao sau đây cũng làm chúng ta chú ý vì đã vận dụng phép nhân hóa và sử dụng từ địa phương rất đắt :

Con cút cụt đuôi ai nuôi mà lớn

Dạ thưa bà tôi lớn mình ên !

   Một trong các phép tu từ được người Nam Bộ sử dụng trong ca dao dân ca là lối nói bóng gió ám chỉ :

Cây bần kia hỡi cây bần

Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.

   Đó còn là sự so sánh, ví von :

Cầm tay anh như bì nem gỏi cuốn

Dựa lưng em như uống chén rượu ngon.

   Người Nam Bộ cũng thích nói khoa trương (lối nói đặc trưng của bác Ba Phi). Trong ca dao dân ca, chúng ta gặp những cách dùng từ ngữ thật ấn tượng :

Gió mùa đông đàn ông thật lạnh lẽo

Suốt canh chày thắc thẻo ruột gan.

    Và những cách nói cường điệu theo kiểu ngôn ngữ nói thông thường :

Anh thương em

Thương lún thương lụn

Thương lột da óc

Thương trốc da đầu …

   Điều cần nói cuối cùng là giọng nói triết lí trong ca dao, dân ca của miền cực Nam. Chắc nhiều người sẽ ngạc nhiên về điều này. Một vùng đất chỉ có bề dày văn hóa 200, 300 năm, đa phần là dân lưu tán, ít học hành, sao trong trong thơ của họ lại hay đề cập đến luân lí, đạo nghĩa như vậy ? Nhà thơ Bảo Định Giang cho rằng đây là tính chất “chở đạo” của ca dao, dân ca Nam Bộ, giống như trong tác phẩm của nhà văn hóa lớn, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Văn thơ của cụ Đồ Chiểu có ảnh hưởng gì tới ca dao, dân ca Nam Bộ và ngược lại ? Hay cả hai đều mang nặng hơi thở của suy tư bởi vì một nhân tố nào đó thẩm sâu trong tâm lí, tính cách, lối sống của người đất này ? Trong ca dao, dân ca Nam Bộ, chúng ta bắt gặp rất nhiều bài dẫn chữ hoặc nói chữ  : can thường, nhân nghĩa, giao ngôn, nghinh tân yểm cựu, hữu nhãn vô châu, nhất ngôn trúng vạn ngôn dụng, nhất ngôn trúng vạn sự thành,

   Một trong những câu ca dao làm cho tôi phải đọc đi đọc lại, khắc khoải, thảng thốt vì hình tượng thơ đơn sơ mà quá đỗi sâu sắc và chan chứa tình người :

Nước sông sao cứ chảy hoài

Thương người xa xứ lạc loài đến đây …

Cập nhật ( 14/05/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online