Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Tư liệu văn khắc Hán Nôm (TS Trịnh Khắc Mạnh)
Tư liệu văn khắc Hán Nôm (TS Trịnh Khắc Mạnh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/06/2010

TƯ LIỆU VĂN KHẮC HÁN NÔM THỜI LÊ THÁNH TÔNG

* TS. Trịnh Khắc Mạnh

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau 10 năm (1416 - 1427) chiến đấu bền bỉ, gian khổ và ngoan cường đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến đã mở ra một trang sử mới trong lịch sử phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Với thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, nạn ngoại xâm hoàn toàn bị đánh bại, đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để củng cố nền độc lập và đẩy mạnh công cuộc xây dựng quốc gia Đại Việt. Lê Lợi - người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lên ngôi vua và sáng lập ra triều Lê. Thời kỳ đầu đời Lê, khoảng từ thế kỷ XV đến XVI, chế độ phong kiến tập quyền nhà Lê đã trải qua những bước phát triển mạnh mẽ và thu được những thành quả nhất định trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là vào nửa sau thế kỷ XV dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497).

         Lê Thánh Tông sinh năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) và mất năm Đinh Tỵ, niên hiệu Hồng Đức 28 (1497). Ông có tên là Tư Thành còn có tên là Hiệu, hiệu là Thiên Nam Động Chủ, còn có hiệu nữa là Đạo Am Chủ Nhân và ông là con trai thứ tư của vua Lê Thái Tông. Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), Hoàng tử Tư Thành được quần thần ủng hộ đưa vào cung rồi lập làm vua và ông bắt đầu sự nghiệp trị vì đất nước của mình. Lê Tư Thành ở ngôi vua 38 năm (1460 - 1497), mười năm đầu ông lấy niên hiệu là Quang Thuận, 28 năm tiếp theo lấy niên hiệu là Hồng Đức và ông là một trong những ông vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Trong thời gian trị vì đất nước, với tài năng và đức độ của mình, Lê Thánh Tông đã thực hiện nhiều cải cách trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật... và đã xây dựng quốc gia Đại Việt trở thành một nước vững mạnh vào loại bậc nhất trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt nam. Phan Huy Chú đã nhận xét "Về trị nước thì vua tôn trọng Nho thuật, cất nhắc anh tài, sáng lập chế độ, khôi phục và mở mang bờ cõi, văn võ tài lược hơn cả các đời. (Người ta) cho chính trị thời Hồng Đức là rất thịnh"(1).

Để có thêm tư liệu khi nghiên cứu về Lê Thánh Tông nói riêng và thời Lê Thánh Tông nói chung, chúng tôi xin giới thiệu các tài liệu văn khắc Hán Nôm của thời kỳ này hiện đang lưu trữ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm để chúng ta cùng tham khảo.

Tại kho tư liệu của Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện có 35 tên đơn vị tài liệu văn khắc Hán Nôm thời Lê Thánh Tông, trong đó của chính tác giả Lê Thánh Tông là 7 đơn vị tài liệu. Số lượng tài liệu hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm chắc rằng chẳng thấm vào đâu, nếu so với số lượng tài liệu văn khắc thời Lê Thánh Tông hiện còn đang lưu tồn ở các địa phương mà chúng ta chưa có điều kiện sưu tầm về được, nhưng đây cũng là những tài liệu hữu ích đáng quan tâm và giới thiệu.

* Những văn bản của Lê Thánh Tông

1. Quang Khánh tự bi, N.11766

- Bia tạo năm Quang Thuận 6 (1465), đặt ở chùa Quang Khánh, xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Bia 1 mặt, khổ 36 x 68cm, không có hoa văn trang trí.

- Bia khắc bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. Nội dung bài thơ ca ngợi cảnh trí thiên nhiên khu chùa Quang Khánh.

2. Thiên Nam Động Chủ lưu đề, N.7968

- Bia tạo năm Quang Thuận 8 (1467), đặt ở chùa Long Sơn, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Bia 1 mặt, khổ 162 x 209cm, khắc rồng mặt trời và hoa lá.

- Bia khắc lời đề dẫn và bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, nội dung bài thơ phê phán vua tôi nhà Lý mê tín dị đoan và than thở cảnh chùa trước sự tàn phá của giặc Minh.

3. Đề Long Quang Động, N.17345 và 297.

- Bia tạo năm Hồng Đức 9 (1478), khắc trên vách đá động Long Quang, xã Võng Châu, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bia khổ 79 x 127cm, xung quanh khắc hoa lá.

- Bia khắc lời đề dẫn và bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. Nội dung lời đề dẫn cho biết, Lê Thánh Tông trên đường bái yết Sơn Lăng về qua động Long Quang, thấy cảnh đẹp bèn bỏ thuyền lên thăm động, tức cảnh làm bài thơ ca ngợi thiên nhiên hùng vĩ u tịch tựa tiên giới của động này.

4. Đề Hồ Công động, N.20965

- Bia tạo năm Hồng Đức 9 (l478), khắc trên vách đá động Hồ Công, núi Xuân Đài, xã Thiên Vực, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bia khổ 76 x 135cm, xung quanh có khắc hoa lá.

- Bia khắc lời đề dẫn và bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. Nội dung lời đề dẫn cho biết, khi Lê Thánh Tông đi thuyền về Lam Kinh, ghé thăm dạo chơi động Hồ Công, ngẫu hứng đề thơ miêu tả cảnh hùng vĩ của động và núi Xuân Đài.

5. Hồng Đức nhị thập lục niên, N.10523 - 10.525 (1a).

- Bia tạo năm Hồng Đức 26 (1495), đặt ở đình xã Trung Bản, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Bia 3 mặt, 2 mặt cùng khổ 30 x 50cm và 1 mặt khổ 12 x 50cm, không có hoa văn trang trí.

- Bia khắc 2 sắc chỉ của Lê Thánh Tông ban vào năm Hồng Đức 2 (1471) và năm Hồng Đức 20 (1489) về việc đo đạc cấp đất cho các xã: Vị Dương, Phong Lưu, Lương Quĩ và Hải Mặc thuộc huyện Yên Hưng.

6. Hồng Đức nhị thập lục niên, N.10526 - 10528 (1b).

- Bia tạo năm Hồng Đức 26 (1495)(2), đặt ở đình xã Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Bia 3 mặt, 2 mặt cùng khổ 31 x 42cm và 1 mặt khổ 12 x 42cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Bia khắc 2 sắc chỉ của Lê Thánh Tông ban vào năm Hồng Đức 24 (1493) và năm Hồng Đức 25 (1494) về việc đo đạc cấp đất cho dân các xã Vị Dương, Phong Lưu và Lương Quĩ thuộc huyện Yên Hưng.

7. Ngự đề Quang Khánh tự N.11705.

- Bia tạo năm Bính Ngọ (1486), đặt ở chùa Quang Khánh, xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Bia 1 mặt, khổ 36 x 68cm, không có hoa văn.

- Bia khắc bài thơ chữ Nôm thất ngôn bát cú của Lê Thánh Tông(2) ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh đẹp chùa Quang Khánh.

* Những văn bản thời Lê Thánh Tông

1. Quang tổ di huấn, N. 30452

- Tạo năm Quang Thuận 3 (1462), đặt tại nhà thờ họ Nguyễn, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Bia 1 mặt, khổ 78 x 105cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Bia ghi tiểu sử, hành trạng của Cương quốc công Nguyễn Xí và di huấn của ông.

2. Thái sư Cương quốc công bi ký, N.30454

- Bia tạo năm Quang Thuận 8 (1467), văn bia do Nguyễn Trực soạn. Bia đặt tại nhà thờ họ Nguyễn, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Bia 1 mặt, khổ 95 x 150cm, có khắc mặt trời, rồng, mây và hoa xung quanh.

- Bia ghi tiểu sử và hành trạng của Cương quốc công Nguyễn Xí đời Lê.

3. Phúc Thắng tự bi, N.18185 - 18186.

- Bia tạo năm Hồng Đức 1 (1470), văn bia do Vũ Quang Tuấn soạn. Bia đặt ở chùa Phúc Thắng, xã Thúy Lai, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Bia 2 mặt đều khổ 66 x 102 cm, có khắc rồng mặt trời và hoa lá.

- Bia ghi công đức những người đã cúng ruộng cho chùa.

4. Thiện sĩ tạo kiều bi ký, N.17641

- Bia tạo năm Hồng Đức 2 (1471), đặt ở đình xã Thọ Lão, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Bia 1 mặt khổ 65 x 115cm, có khắc mặt trời, rồng và hoa lá.

- Bia ghi việc Hội chủ xã Thọ Lão quyên góp tiền để dựng cầu.

5. Quận Thượng chúa Lê thị mộ chí, N.11302 - 11305.

- Bia tạo năm Hồng Đức 2 (1471), văn bia do Nguyễn Trực soạn. Bia đặt ở mộ Quận chúa họ Lê xã Trung Giám, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Bia 2 mặt, khổ 4 x 27cm và 44 x 73cm, có khắc hoa lá.

- Bia ca ngợi đức, tài Quận Thượng chúa Lê Quỳnh Cư.

6. Tự điền bi ký, N.3382 - 3383.

- Bia tạo năm Hồng Đức 2 (1471), đặt ở xã La Uyên, huyện Thư Tài (nay thuộc Vũ Thư), tỉnh Thái Bình. Bia 2 mặt cùng khổ 56 x 94cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Bia nói về ý nghĩa của việc cúng ruộng vào chùa.

7. Yên Mô xã đình bi ký, N.9524- 9525

- Bia tạo năm Hồng Đức 3 (1472), đặt ở đình xã Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Bia 2 mặt, khổ 34 x 60cm và 40 x 81cm, có khắc mặt trời, mây, hoa lá.

- Bia ghi việc huyện Sơn Minh đắp đê qua 2 xã Yên Mô và Yên Diên đã chiếm một số ruộng, có ghi rõ số ruộng bị đê chiếm.

8. Đam Khê xã lộ bàng bi, N. 6275

- Bia tạo năm Hồng Đức 3 (1472), đặt ở thôn Nội, xã Đam Khê, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Bia 1 mặt, khổ 35 x 66cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Ghi địa giới thôn Nội, xã Đam Khê.

9. Phụng tự bi ký, N.7134.

- Bia tạo năm Hồng Đức 4 (l473), đặt ở đình giáp Đoài, xã Cam Thịnh, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Tây). Bia 1 mặt, khổ 35 x 62cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Bia ghi thân thế, sự nghiệp của Phùng Hưng.

10. Diên Khánh tự bi ký, N.4486

- Bia tạo năm Hồng Đức 4 (1473), đặt ở chùa Diên Khánh, thôn Môn Sỉ, xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình (nay là Gia Lương), tỉnh Bắc Ninh. Bia 1 mặt, khổ 65 x 92cm; có khắc rồng, mặt trời và hoa lá.

- Bia ghi công đức vợ chồng ông họ Dương và bà họ Nguyễn đã cúng ruộng vào chùa để gửi giỗ.

11. Đê lộ bi ký, N. 20161.

- Bia tạo năm Hồng Đức 5 (1474), dựng ở ngoài cánh đồng xã Phù Sa Thượng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Bia 1 mặt, khổ 38 x 71 cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Bia ghi việc huyện Yên Mô đắp đê chạy qua xã Phù Sa Thượng đã chiếm một số ruộng, có ghi cụ thể số ruộng bị chiếm.

12. Từ Mẫn Mỹ công kị thất Hoàng thị chi mộ, N.22155 - 22156

- Bia dựng năm Hồng Đức Giáp Thìn (1484), văn bia do Lương Thế Vinh soạn. Bia đặt tại nhà thờ họ Nguyễn thôn Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Bia 2 mặt, cùng khổ 51 x 78 cm, không khắc hoa văn trang trí.

- Bia ghi sự tích và công đức, cùng các ngày giỗ của dòng họ Hoàng ở thôn Kim Đôi.

13. Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký, N. 1358.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Thân Nhân Trung soạn. Bia đặt tại Văn Miếu Quốc tử Giám Hà Nội. Bia 1 mặt, khổ 102 x 147cm, khắc mặt trời, mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) và ghi rõ họ tên, quê quán của 33 người thi đỗ Tiến sĩ khoa này.

14. Thái Hòa lục niên Mậu Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký, N. 1323.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Đỗ Nhuận soạn. Bia đặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia một mặt, khổ 102 x 149cm, có khắc mặt trời mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hoà 6 (1448) và ghi rõ họ tên, quê quán của 27 người thi đỗ Tiến sĩ khoa này.

15. Quang Thuận tứ niên Quý Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký, N. 1349.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Đào Cử soạn. Bia đặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Bia 1 mặt, khổ 82 x 146 cm, có khắc mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) và ghi rõ họ tên, quê quán của 44 người đỗ Tiến sĩ khoa này.

16. Quang Thuận thất niên Bính Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký, N.1316.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Lê Văn Đỗ soạn. Bia đặt tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội. Bia 1 mặt, khổ 110 x 154 cm, có khắc mặt trời mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận 7 (1466) và ghi rõ họ tên, quê quán 27 người đỗ Tiến sĩ khoa này.

17. Hồng Đức lục niên ất Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký, N. 1353.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Lê Ngạn Tuấn soạn. Bia đặt tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội. Bia 1 mặt, khổ 103 x 140cm, có khắc mặt trời mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức 6 và ghi rõ họ tên, quê quán của 43 vị Tiến sĩ đỗ khoa này.

18. Hồng Đức cửu niên Mậu Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký, N. 1313.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Nguyễn Đôn Phục soạn. Bia đặt tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội. Bia 1 mặt khổ 106 x 14cm, có khắc mặt trời, mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức (1478) và ghi rõ họ tên, quê quán của 62 người đỗ Tiến sĩ khoa này.

19. Hồng Đức thập nhị niên Tân Sửu khoa Tiến sĩ đề danh ký, N.1350.

- Bia tạo năm Hồng Đức 15 (1484), văn bia do Nguyễn Xung Xác soạn. Bia đặt tại Văn miếu Quốc tử giám Hà nội. Bia 1 mặt, khổ 100 x 138cm, có khắc mặt trời, mây và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Tân Sửu, niên hiệu Hồng Đức 12 (1481) và ghi rõ họ tên, quê quán 40 người thi đỗ Tiến sĩ khoa này.

20. Thọ An cung Kính phi Nguyễn thị thần đạo bi, N. 1921.

- Bia tạo năm Hồng Đức 16 (1485), văn bia do Lương Thế Vinh soạn. Bia đặt tại xã Lư Khánh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Bia 1 mặt khổ 137 x 190cm, có khắc chim phượng, hoa lá.

- Bia ghi thân thế và công đức bà Kính phi họ Nguyễn.

21. Hồng Đức thập bát niên Đinh Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký, N.1361.

- Bia tạo năm Hồng Đức 18 (1487), văn bia do Thân Nhân Trung soạn. Bia đặt tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội. Bia 1 mặt, khổ 110 x 150cm, có khắc rồng, mặt trời và hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487) và ghi quê quán, tên tuổi của 60 người thi đỗ Tiến sĩ khoa này.

22. Phật, N. 7208

- Bia tạo năm Hồng Đức 18 (1487), đặt tại chùa Thiên Phúc, xã Trạch Lôi, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Thạch Thất, Hà Tây). Bia 1 mặt, khổ 51 x 78cm, có khắc hoa lá.

- Bia ghi công đức gia đình ông Nguyễn Liên, vợ là Nguyễn Thị Tứ đã cúng chùa 3 thửa ruộng tốt.

23. Trăn Tân từ lệ bi, N. 6370 - 6371.

- Bia tạo năm Hồng Đức 18 (1487), văn bia do Nguyễn Đình Thuấn soạn. Bia đặt tại đền Trăn Tân, xã Phúc Thọ,huyện Lương Tài (nay thuộc Gia Lương), tỉnh Bắc Ninh. Bia 2 mặt, khổ đều 41 x 75cm, có khắc mặt trời, mây và hoa lá.

- Bia ghi những nghi thức tế thần trong ngày hội rước thần vào tháng 4 hàng năm của các xã thờ miếu thần Trăn Tân.

24. Phật pháp tam bảo, N.4579

- Bia tạo năm Hồng Đức 21 (1490), đặt tại chùa Đại Bi, xã Ngọc Xuyên, huyện Gia Bình (nay thuộc Gia Lương), tỉnh Bắc Ninh. Bia 1 mặt, khổ 68 x 112cm, có khắc mặt trời và hoa lá.

- Bia ghi lai lịch chùa Đại Bi và quá trình trùng tu chùa của các thiện nam tín nữ bản xã.

25. Chuyết Sơn tự Di Đà Phật bi, N. 9571 - 9572.

- Bia tạo năm Hồng Đức 22 (1491), đặt tại chùa Chuyết Sơn, xã Kinh Lương, huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An (nay thuộc ngoại thành Hải Phòng). Bia 2 mặt, cùng khổ 57 x 80 cm, có chạm mặt trời mây và hoa lá.

- Bia ghi lai lịch chùa Chuyết Sơn và việc các thiện nam tín nữ bản xã bỏ tiền ra để tô tạo tượng Phật.

26. Đại Việt Đường Vương thần đạo bi, N. 17931.

- Bia tạo năm Hồng Đức 23 (1492), đặt tại mộ Đường Vương, xã Yên Lạc, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Bia 1 mặt, khổ 125 x 190cm, có khắc mặt trời và hoa lá.

- Bia ghi tiểu sử và húy hiệu Đường Vương, con trai của vua Lê Thánh Tông và mẹ là bà Tuyên Khiết họ Nguyễn.

27. Đại Việt Thụy Hoa công chúa thần đạo bi, N. 1920.

- Bia tạo năm Hồng Đức 25 (1494), văn bia do Nguyễn Xung Xác soạn. Bia đặt tại lăng Công chúa Thụy Hoa, xã Quang Thí, huyện Thụy Nguyên (nay là Thọ Xuân), tỉnh Thanh Hóa. Bia 1 mặt khổ 119 x 180cm, có khắc mặt trời, mây và hoa lá.

- Bia ghi tiểu sử công chúa Thuỵ Hoa, húy là Minh Hạc, con gái của vua Lê Thánh Tông và mẹ là bà Kính phi họ Nguyễn.

28. Hồng Đức nhị thập thất niên Bính Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký, N.1310.

- Bia tạo năm Hồng Đức 27 (1496), văn bia do Lưu Hưng Hiếu soạn. Bia đặt tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội. Bia 1 mặt, khổ 100 x 155cm, có khắc hoa lá.

- Bia ghi việc mở khoa thi năm Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức 27 (1496) và quê quán, họ tên của 30 người thi đỗ Tiến sĩ khoa này.

* Những thông tin giá trị

Một điều dễ nhận biết về giá trị của các tư liệu văn khắc Hán Nôm thời Lê Thánh Tông, đó là sự phong phú về thể loại văn học và giá trị nội dung văn bản khi nghiên cứu con người, sự nghiệp vua Lê Thánh Tông và các lĩnh vực, như: văn học, sử học, giáo dục, và đào tạo, kinh tế... của thời kỳ này.

Đặc điểm khá nổi bật là thơ văn của Lê Thánh Tông được khắc khá nhiều, chiếm 1/4 số tài liệu văn khắc Hán Nôm của thời kỳ này hiện có ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm và chủ yếu lại là khắc thơ. Đó là những bài thơ ca ngợi phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ, tươi đẹp của đất nước Đại Việt. Lê Thánh Tông đi khá nhiều nơi, thăm nhiều danh lam thắng cảnh của Tổ quốc, thường để lại những kỷ niệm thơ khắc trên các sườn núi, trong các hang động hay chép trong các thư tịch thể hiện tình cảm của mình đối với non sông đất nước; có thể kể như: chùa Quang Khánh, chùa Trấn Quốc, chùa Long Sơn trên núi Long Đọi, núi Song Ngư, núi Phật Tích, núi Dục Thúy, động Hồ Công, động Long Quang sông Bạch Đằng, sông Tam Kỳ...

Vào thời kỳ nhà Lê trị vì, chữ Hán vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế và các vua quan nhà Lê luôn tôn sùng "chữ của thánh hiền", coi thường chữ Nôm. Tuy nhiên, nền văn học Nôm vẫn không ngừng phát triển, Lê Thánh Tông lại là một trong những người đã vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học. Hồng Đức quốc âm thi tập của ông và một số bề tôi là một trong những tập thơ chữ Nôm có giá trị được lưu truyền đến ngày nay và bài thơ chữ Nôm Ngự đề Quang Khánh tự của ông, có lẽ cũng là bài thơ Nôm sớm nhất được khắc vào bia đá hiện tìm thấy:

Dắng dõi chào ai tiếng pháp chung,
Ngang đây thoát lộ trạnh bên dòng.
Trừng thanh lẻo lẻo trần hiu quạnh,
Gác thắm làu làu ngọc giá đông.
Sực nức đưa hoa hương mượn gió,
Líu lo chào khách vẹt thay đồng.
Như đoàn tự đắc ngao du đấy,
Cho biết cơ màu vẫn chẳng vong.

Văn miếu Quốc tử giám (Hà Nội) ngày nay được nhiều nhà khoa học chú ý, nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu, nhiều khách tham quan trong và ngoài nước tới thăm. Một mặt vì đây được coi là trường đại học đầu tiên ở nước ta được xây dựng vào thời Lý (năm 1070) với lối kiến trúc cổ kính, cùng nhiều di vật cổ quý hiếm. Mặt khác nơi đây còn nổi lên những hàng bia Tiến sĩ trang nghiêm, tuyệt tác, ghi lại các kỳ thi đại khoa trong khoảng thời gian từ năm 1442 (đời Lê Thái Tông) đến năm 1779 (đời Lê Hiển Tông), mà Lê Thánh Tông là người khởi xướng việc dựng bia Tiến sĩ và từ đó trở thành lệ. Tại Văn miếu Quốc tử giám hiện có 10 tấm bia Tiến sĩ được dựng vào thời Lê Thánh Tông.

Thời Lê Thánh Tông, sự nghiệp giáo dục con người, đào tạo nhân tài rất chú trọng và rất chính quy. Khoa cử được coi là con đường chính để lựa chọn nhân tài cho quốc gia và đào tạo hệ thống quan lại cho chính quyền phong kiến. Thời kỳ này tầng lớp Nho sĩ được đề cao, các kỳ thi được quảng cáo với lễ xướng danh, lễ vinh qui và khắc bia Tiến sĩ. Việc khắc tên tuổi quê quán những người thi đỗ Tiến sĩ vào bia đá có một ý nghĩa xã hội lớn lao và mối quan hệ gắn bó với sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước. Năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời vua Lê Thái Tông mở khoa thi chọn được 33 người đỗ Tiến sĩ; nhưng phải đợi đến năm Hồng Đức 15 (1484) đời vua Lê Thánh Tông, nghĩa là sau 42 năm mới có lệ dựng bia Tiến sĩ và bài văn bia này ghi rõ: "Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được ? Thế thì việc dựng tấm bia này ích lợi rất nhiều, kẻ ác lấy đó làm răn, người tốt theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn dũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nước nhà. Đặt ra đâu phải là vô dụng. Ai xem bia nên hiểu sâu ý này". Bài văn Tiến sĩ khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) cũng chỉ rõ: "Kẻ sĩ may mắn được khắc tên vào bia đá, cố nhiên phải làm sao cho " thực" xứng với "danh", rèn dũa đức hạnh... không phụ chí lớn phò vua giúp dân thường ngày, để lại vinh dự khôn cùng, tiếng thơm muôn thuở, khiến cho người đời sau xem bia này chỉ từng tên mà nói rằng: người này tận trung với nước, người này để ơn cho dân..., như vậy thật là vinh hạnh. Nếu không người xem bia sẽ bảo rằng: đồ quanh co xằng bậy, lũ phụ bạc nhát hèn... Vậy thì việc nêu tên khắc bia không những chỉ là việc hay cho quốc gia muôn năm, mà còn là cái phúc cho con cháu đời sau".

Thời Lê sơ, Nho giáo ảnh hưởng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực, trước hết phải kể đến hệ thống giáo dục. Lê Quý Đôn cho biết: "Khoảng niên hiệu Hồng Đức, hàng năm ban phát sách công cho các phủ như: Tứ thư, Ngũ kinh, Ngọc Đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Văn tuyển, Cương mục. Học quan do đấy để dạy, khoa cử do đấy để lấy nhân tài"(4). Có thể nói một sự kiện quan trọng thể hiện sự tôn sùng Nho giáo là Lê Thánh Tông cho lập các bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám với số lượng là 10 bia, nhiều bài văn bia Tiến sĩ viết thời kỳ này đã khẳng định: lấy đạo Nho làm trọng, tiến kẻ chân Nho để giúp việc bình trị. Có thể nói văn hóa chính thống của thời kỳ này là văn hóa Nho giáo, nhưng có điều cần lưu ý là văn hóa Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại ở các làng quê; điều này có thể minh chứng là văn bia ở các chùa chiền vẫn phát triển, với số lượng là 8 bia trong tổng số 35 đơn vị tài liệu của thời kỳ này.

Về công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế, thời Lê Thánh Tông là một trong những thời kỳ thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Lê Thánh Tông đã chú trọng tới nhiều mặt nhằm thúc đẩy sản xuất và đảm bảo đời sống dân sinh như: coi trọng sản xuất nông nghiệp, khai hoang lập ấp, củng cố đê điều, quản lý đất đai, xây dựng cầu cống chợ búa. Những bài văn bia của thời kỳ này ghi chép về việc: đo đạc ruộng đất cấp cho dân chúng, đắp đê ngăn lũ lụt, phân chia địa giới đất đai, xây dựng cầu cống... Đây là những tư liệu lịch sử có giá trị góp phần nghiên cứu, lý giải công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế thịnh trị của vua Lê Thánh Tông.

Xét về mặt thể loại, tư liệu văn khắc Hán Nôm thời Lê Thánh Tông cũng khá phong phú và đa dạng. Như chúng ta đã biết văn học Việt Nam thời kỳ này phát triển trong những điều kiện xã hội mới, khuynh hướng chính trị mới và đặc biệt là sự phát triển về thể loại văn học. Trong tổng số 35 đơn vị tài liệu văn khắc của thời kỳ này, chúng ta thấy các văn bản được thể hiện bằng các thể văn: thơ ca, văn xuôi tiểu sử, văn thư tín công văn hành chính, ký sự... Như vậy có thể nói rằng, nằm trong quỹ đạo phát triển của văn học, tư liệu văn khắc Hán Nôm thời kỳ này đã được sáng tác theo nhiều thể văn trong hệ thống thể loại văn học cổ điển Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 500 năm mất của vua Lê Thánh Tông, một ông vua có tài kinh bang tế thế đã đưa nước Đại Việt đạt tới đỉnh cao cường thịnh ở thế kỷ XV, chúng tôi xin giới thiệu một số tư liệu văn khắc Hán Nôm ít ỏi của thời kỳ này hiện có ở Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm để bạn đọc cùng tham khảo và nghiên cứu khai thác.

CHÚ THÍCH

(l) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí, Nxb. KHXH, 1992, tập I, tr. 201.

(1a), (1b) Bia nguyên không có đầu đề. Đầu đề này là do cán bộ Thư viện dựa vào mấy chữ đầu dòng thứ nhất của thác bản No.10524 và No.10527 để tạm đặt tên bia.

(2) Bia không khắc niên đại, nhưng ở bia N.10523 - 10525 ghi là năm Hồng Đức 26 (1495) có khắc 2 bia để lưu truyền về sau. Có thể bia này cùng khắc vào năm đó.

(3) Theo dòng lạc khoản của người in rập bia ghi ở bên cạnh và Thơ văn Lê Thánh Tông (Mai Xuân Hải chủ biên, Nxb. KHXH, l986, tr.95) cũng đồng ý quan điểm cho là của Lê Thánh Tông.

(4) Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. KHXH, 1977, tr. 96

Cập nhật ( 16/06/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online