Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Tin do Phat giao trong hon nhan (DD Thich Hue Pho)
Tin do Phat giao trong hon nhan (DD Thich Hue Pho) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/06/2010

LIỆU PHÁP CHO VẤN ĐỀ GIẢM SÚT TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO TRONG HÔN NHÂN

* ĐĐ Thích Huệ Phổ

Trong những đề tài gợi ý của Ban tổ chức hội thảo Hướng dẫn Phật tử miền Đông và miền Tây nam bộ, tôi thích nhất là đề tài ở mục số 5: hôn nhân gia đình hạnh phúc của người Phật tử. Bởi lẽ, bản thân mình cũng đang gặp phải vấn đề một vài Phật tử trước khi kết hôn thì rất năng nổ nhiệt tình nhất là rất ngoan ngoãn nhưng khi kết hôn xong rồi thì một số quan niệm, cách ứng xử, đặc biệt là họ luôn mồm nói về niềm tin mới mà họ vừa mới học được, họ  trở nên khác đi hoàn toàn, y như một con người xa lạ chưa hề được tiếp xúc với Phật giáo trước đây.

 

          Điều này có thể do hai lý do, thứ nhất là do công tác huấn luyện của chúng ta chưa đạt hiệu quả, họ còn quá mơ hồ trong rừng Phật pháp tất nhiên họ sẽ không có ấn tượng sâu sắc và việc vận dụng phật pháp vào các tình huống thuộc về đức tin chỉ mang tính chung chung, đại khái là tôn giáo nào cũng tốt vã lại ông bà ta thường dạy là dĩ hòa di quý mà, làm cho vấn đề trở nên phức tạp làm gì miễn là việc kết hôn được diễn ra một cách tốt đẹp là tốt lắm rồi. Người Phật tử với quan niệm sơ sài hiền hòa đến mức đánh mất niềm tin thiêng liêng của mình như thế một kết quả đáng buồn cho nhà truyền giáo Đạo Phật là không sao tránh khỏi.

          Thứ hai là, người bạn tôn giáo bên kia của chúng ta quá khôn ngoan, ngay từ bước một họ mặc nhiên ở thế chủ động và ít nhất là tranh thủ để chiếm thế chủ động. Trên mặt trận này, họ gặp phải đối tượng không được trang bị kinh nghiệm kỹ lưỡng, đang mang trong người một thái độ cầu hòa, trách sao chiến lợi phẩm mỗi ngày không gia tăng ở các nhà nguyện và thánh đường.

          Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, riêng ở Việt Nam từ rất sớm, nếu không muốn nói là ngay những thập niên đầu của công nguyên, thời đại lập quốc và giành độc lập tự chủ của dân tộc ta. Thế nhưng qua thống kê của ngành tôn giáo thì số lượng tín đồ của Phật giáo chỉ xếp sau các tôn giáo khác. Về kết quả đáng buồn này vẫn biết rằng là chưa phản ánh hết được những gì đang tồn tại nhưng cũng không nên quá chủ quan để rồi một ngày không xa ta phải nuối tiếc với lời tự trách: phải chi…

Trở lại vấn đề giải quyết tình trạng giảm tín đồ, theo thiển ý người viết, chúng ta chỉ cần nói tiếng nói của bình đẳng tôn giáo và tiếng nói cuối cùng của pháp luật. thế nào là tiếng nói của bình đẳng tôn giáo? Là thế này, mỗi tôn giáo đều có bản sắc đặc thù riêng nhưng không vì vậy mà chèn ép như những gì đang diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra từng ngày. Cụ thể hơn, khi kết hôn, tại sao chỉ có các tôn giáo khác thì phải cải đạo, phải theo học kinh thánh và làm lễ tại nhà thờ còn tín đồ thiên chúa giáo thì không? Chúng tôi cho rằng điều đó là việc làm không công bằng. Vẫn biết rằng bây giờ nói tiếng công bằng cũng là hơi muộn nhưng ít ra vẫn còn hơn nó vẫn được vận hành theo hướng đường mòn lối cũ. Chúng tôi chỉ khiêm tốn đề nghị 2 ý trong việc xử lý tình huống này là:

Thứ nhất: nếu là hai trẻ yêu nhau sau một thời gian dài tìm hiểu thì hai gia đình nên tiến hành theo phép hôn nhân truyền thống. Nghĩa là tiến hành các nghi thức như dạm hỏi, đám nói và kết thúc bằng lễ đám cưới. Bởi lẽ, chúng nó yêu nhau là xuất phát từ sự rung động con tim, phát sinh cảm tình và chấp nhận nhau về điều kiện sống cũng như các thói quen thường nhật mỗi ngày chứ không liên quan gì đến đức tin tôn giáo. Điều này không có gì sai, càng không phải là yếu tố dẫn đến tình trạng ly thân hay ly dị như một số luận điệu tuyên truyền đã nói vì không được ơn trên ban phép ân sủng. Một bằng chứng hùng hồn là rất nhiều các cụ không qua việc làm phép hay rửa tội vẫn sống hạnh phúc tới ngày nhắm mắt lìa đời và một khía cạnh ngược lại là một số người được trang bị đầy đủ các nghi tiết cho việc kết hôn nhưng vẫn không có hạnh phúc lâu dài. Qua đó, chúng ta có thể nói hạnh phúc hay đổ dỡ không hoàn toàn là do có tham gia các nghi thức hay không mà nằm ở quan niệm hành xử với nhau của hai vợ chồng. Nếu hai vợ chồng biết tương kính nhau ngày nào cũng như ngày mới cưới nhau; biết thương yêu, nhường nhịn nhau; không bảo thủ luôn cho mình là đúng cũng không quá buôn thả hay thụ động, mặc cảm, tự ty để rồi cuộc sống chỉ mang điện tích một chiều và hai cái đầu chỉ có một cái hoạt động còn cái kia không phải hư.

Thứ hai là quan niệm đề cập tôn giáo bình đẳng. Nghĩa là nếu chúng ta được đề nghị thay đổi đức tin tôn giáo, phải học kinh thánh và làm lễ tại nhà thờ thì ngược lại chúng ta cũng đề nghị tương tự anh hay chị hôn phối nên thay đổi đức tin theo Phật giáo, học kinh Phật và làm lễ tại nhà chùa. Phương án này có vẻ khôi hài, kỳ quái nhưng nghiệm kỹ nó có tác dụng hạn chế tâm ngạo mạn tự cao với một số tôn giáo luôn cho rằng chỉ có tôn giáo mình là hay nhất, chỉ có người của tôn giáo khác phục tùng mình mà không hề có chiều hướng ngược lại.

Nếu có ý thứ ba trong bài viết này thì tôi sẽ bảo: dĩ hòa di quý. Hai bên xuôi gia ngồi lại với nhau thông qua điều lệ và thõa thuận nhưng mọi việc trở nên căng thẳng không nhân nhượng thì tốt nhất anh hay chị nên về cưới tốn giáo ấy cho con anh là xong, riêng con tôi đơn thuần chỉ muốn đến với nhau với những gì chúng nó quan tâm như tình cảm chẳng hạn chứ không hề mang sắc thái tôn giáo nên cũng không cần đề cập như quan niệm thứ nhất vừa trình bày phần trên.

Như vừa nêu trên là hai ý trong mục tiếng nói của sự bình đẳng tôn giáo. Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhắc đến tiếng nói cuối cùng của pháp luật. Như mọi người chúng ta đều thống nhất nhau là sông và làm việc theo pháp luật, vậy pháp luật được ứng dụng trong tình huống này là gì? Xin thưa, quy định của pháp luật là công dân được quyền tự do tín ngưỡng theo hay không theo bất kỳ tôn giáo nào. Như thế thì bất kỳ hình thức nào có tính o ép, gán gượng đều vi phạm pháp luật. Chiếu theo đó thì từ lâu đã có một vài tôn giáo đã vi phạm điều này nhưng họ chưa từng bị kiểm điểm hay bị phê phán. Sự im lặng này của pháp luật có thể là do từ lâu ta chấp nhận yêu cầu của họ để có được hôn nhân xem như là một quy định mới, một điều kiến mới để có hôn nhân với tín hữu thiên chúa. Thứ nữa là không chấp nhận thì thôi, kiện tụng làm gì. Đã không có người đề nghị xét xử thì làm sao có người đại diện pháp luật xét xử. Cho nên, từ lâu vẫn diễn ra viễn cảnh nhức nhối mà những nhà truyền giáo của giáo hội thỉnh thoảng phải nuốt lệ chia tay người đệ tử thân tín của mình.

Tuy nhiên, cũng không hiếm những ý nghĩ lạc quan cho rằng biết đâu trong cái rũi có cái mai kiểu như câu chuyện Tái ông thất mã. Điều hy vọng của những vị này là biết đâu một ngày nào đó con ngựa thất lạc bấy lâu sẽ dẫn thêm một con ngựa nữa về nhà. Thậm chí, biết đâu đó lại là nhân tố kiết xuất cấy vào một môi trường mới nhằm thực hiện một nhiệm vụ thiêng liêng nào đó của Phật giáo như câu nói: nếu không vào hang hùm sao bắt được cọp con. Nói chúng, đó cũng là một cách nhìn đáng ghi nhận xong cũng nên thận trọng vì khả năng thành công là không cao. Ở đây chúng ta cần là một giải pháp an toàn, khả năng thành công cao chứ không phải là bài toán quá khó để rồi phải hẹn lại mùa thi sau.

Các liệu pháp như vừa trình bày chỉ là một vài nổ lực của một vài cá nhân trên đoạn đường vô cùng của nghiệp lực. Có thể chúng ta gặt hái thành công với một lý do đơn giản vì họ có nhân duyên và nhân duyên sâu dầy trong Phật pháp như trong lời nguyện hằng đêm chúng ta vẫn cầu: nội ma bất khởi, ngoại chướng vô xâm rồi là nguyện cho đệ tử bồ đề tâm kiên cố, chí tu học vững bền sớm xa khỏi nguồn mê, chóng quay về bờ giác và một lời nguyện khác trong nhóm những quyển kinh do Thầy Nhật Từ biên soạn: “ Nguyện cho đệ tử đời đời thường làm bà con Phật pháp, quyến thuộc từ bi, hộ trì Tam bảo ở mãi thế gian”.

Và cũng có thể, những Phật tử này theo tiến trình nhân quả luân hồi họ phải đi môt thời gian dài trong ngôi nhà Phật pháp rồi họ phải quá cảnh nơi một phi trường tôn giáo khác cũng nên. Trong không gian vô cùng, thời gian vô tận, mỗi người chúng ta là chủ nhân của nghiệp và rồi mỗi chúng ta sẽ là kẻ thừa tự nghiệp của chính mình. Với biệt nghiệp không có duyên như thế chúng ta cũng không nên quá thất vọng vì bả thân Phật Ngài cũng chỉ nói ta chỉ giáo hóa những chúng sanh có duyên với ta. Mọi chuyện nên tùy duyên không trụ chấp như hình ảnh con nhạn qua bờ đầm, hình nhạn chìm trong nước, nhạn không có ý lưu dấu, và nước cũng chẳng muốn có tâm lưu ảnh làm gì: “ nhạn quá trường không, ảnh trầm hàn thủy, nhạn vô lưu tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm”. Đây chính là tư tưởng chủ đạo của Phật và cũng là của tất cả Như Lai sứ giả chúng ta.

 

Cập nhật ( 19/06/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online