Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Đặc điểm phép tĩnh lược trong ngữ pháp thơ Đường (Nguyễn Thị Bích Hải)
Đặc điểm phép tĩnh lược trong ngữ pháp thơ Đường (Nguyễn Thị Bích Hải) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
06/07/2010

ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÉP TỈNH LƯỢC TRONG NGỮ PHÁP THƠ ĐƯỜNG LUẬT

* Nguyễn Thị Bích Hải

Bài này khảo sát một đặc điểm của ngữ pháp thơ Đường luật (kể cả luật thi và tuyệt cú): phép tỉnh lược một số thành phần câu, chủ yếu là đại từ nhân xưng làm chủ ngữ và giới từ xác định không, thời gian.

Không kể trong ngôn ngữ giao tiếp, ngay trong ngôn ngữ văn học, sự tỉnh lược cũng là hiện tượng thường thấy. Chẳng hạn như trong văn ngôn:

Cư hữu khoảnh, ỷ trụ đàn kỳ kiếm, ca viết...
Cư hữu khoảnh, phục đàn kỳ giáp, ca viết...

(Được ít lâu [Phùng Huyên] dựa cột gõ nhịp vào thanh kiếm mà hát...
Được ít lâu lại gõ nhịp vào áo giáp mà hát...)

(Chiến quốc sách - Phùng Huyên khách Mạnh Thường Quân)

Trong thơ Trung Quốc trước Đường, hiện tượng này cũng không hiếm. Ví dụ:

Đối tửu đương ca,
    Nhân sinh kỷ hà.
(Ngồi trước chén rượu mà hát,
Cuộc đời người được là mấy)

Ở đây chủ ngữ đã bị tỉnh lược.

Trong thơ ca hành cổ phong đời Đường, ta cũng thường thấy hiện tượng này. Như trong bài Hành lộ nan của Lý Bạch, cả 12 câu không hề có chủ ngữ nhân xưng.

Nhưng chỉ trong thơ Đường luật, sự vắng mặt của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất mới trở thành đặc trưng ngữ pháp của thể loại.

Trong cuốn Thơ Đường tập I (Nxb. Văn học. H. 1987) tuyển 200 bài thơ, có 100 bài luật thi và tuyệt cú với 960 câu thơ thì chỉ có 3 lần chữ “tôi” (dư, ngã) xuất hiện với tư cách chủ ngữ. Riêng chữ “tha” (nó) thì hoàn toàn vắng mặt.

Sự tỉnh lược cũng diễn ra đối với giới từ hạn định không, thời gian (tại, ư, tự, tùng, hướng, dĩ, đương) nhất là khi danh từ chỉ không gian, thời gian đứng ở đầu câu.

Để tìm hiểu đặc điểm của phép tỉnh lược đại từ nhân xưng và giới từ, chúng ta thử phân tích một vài ví dụ:

Ba Lăng nhất vọng Động Đình thu,
Nhật kiến cô phong thủy thượng phù.
Văn đạo thần tiên bất khả tiếp,
Tâm tùy hồ thủy cộng du du.
(Trương Duyệt - Tống Lương Lục)

(Ba Lăng trông ra mùa thu hồ Động Đình,
Ngày thấy ngọn núi trơ vơ nổi trên mặt nước.
Nghe nói có thần tiên (trên đỉnh núi đó) mà không được gặp,
Lòng cứ man mác theo nước hồ mênh mông.)

Trong bài thơ 4 câu này, cả 4 câu đều có hiện tượng tỉnh lược. Ba câu trước tỉnh lược đại từ nhân xưng làm chủ ngữ và là câu không có chủ ngữ. Câu thứ tư có chủ ngữ (tâm) nhưng cũng đã được lược bớt chữ “ngã”. Như vậy cả bốn chữ “ngã” đáng ra phải có đều bị tỉnh lược.

Riêng trong hai câu đầu còn có hiện tượng tỉnh lược giới từ. Câu thứ nhất bớt đi giới từ hạn định không gian. Đáng ra phải nói: “ Từ Ba Lăng tôi nhìn ra mùa thu Động Đình”. Đã lược bớt chủ nghĩa nhân xưng, lại lược bớt cả giới từ hạn định không gian, khiến cho trên hình thức ngữ pháp, nếu không có một sự “ngầm hiểu” thì có thể xác định “Ba Lăng” (danh từ) đã giữ vai trò chủ ngữ, và câu thơ có thể được hiểu là:

Ba Lăng ngắm mùa thu hồ Động Đình

(Không gian ngắm thời gian).

Câu thứ hai lại lược bớt giới từ hạn định thời gian. Người đọc “ngầm hiểu” tác giả nói rằng “Vào ban ngày tôi nhìn thấy ngọn núi trơ vơ nổi trên mặt nước”; nhưng thực tế hình thức câu thơ lại nói “Ban ngày thấy ngọn núi...” cũng có thể hiểu là “mặt trời thấy ngọn núi...” vì chữ “nhật” có hai nghĩa, một là danh từ chỉ thời gian (ban ngày), một là danh từ chỉ thiên thể (mặt trời). Do không có giới từ hạn định nên danh từ “Nhật” đứng tự do và có thể đóng vai trò chủ ngữ.

Ban ngày thấy ngọn núi...

(Thời gian thấy không gian)

Tựa đề bài thơ là Tống Lương Lục nhưng trong bài thơ cả “tôi” và “Lương Lục” đều không xuất hiện. “Tôi” (người tiễn) và “Lương Lục” (người được tiễn) đều được ẩn đi để cho không gian ngắm thời gian và thời gian ngắm không gian, để cho “vũ”(không gian) và “trụ” (thời gian) ngắm nhìn nhau.

Tương truyền rằng trên quả núi trong hồ Động Đình có tiên ở nhưng chẳng bao giờ được gặp. Bạn về ẩn ở hồ Động Đình phải chăng cũng như tiên ấy, chẳng bao giờ được gặp, chỉ còn một vũ trụ (không thời gian) lưu luyến ngắm nhìn nhau. Cho nên đến cả con “tâm”, nó là của “tôi” đấy (hay cũng có thể là của bạn đấy) nhưng tôi không mang tư cách “sở hữu chủ” mà thả cho nó man mác theo nước hồ mênh mang. Trái tim ấy không là của riêng ai nên cũng có thể là của tất cả. “Tôi” và Lương Lục,và tất cả những ai trong cảnh sinh ly đều tan biến, chan hoà đồng nhất với vũ trụ.

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
Bình minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.
(Vương Xương Linh - Phù dung lâu tống Tân Tiệm)

(Mưa lạnh tràn sông đêm vào đất Ngô,
Ban mai tiễn khách núi Sở trơ vơ.
Bạn bè ở Lạc Dương nếu có hỏi,
[Thì thưa hộ rằng tôi] vẫn một mảnh lòng băng trong bình ngọc)

Bốn câu thơ chỉ có một câu thứ ba có chủ ngữ (thân hữu) còn ba câu 1,2,4 chủ ngữ đều ẩn.

Chủ ngữ vắng mặt mà những từ chỉ thời gian và không gian (dạ, bình minh) thì được tự do không bị giới từ hạn định, nên về ngữ pháp chúng có thể “lâm thời” giữ vai trò chủ ngữ của câu. Đề bài thơ “Phù dung lâu tống Tân Tiệm” nhưng trong bài thơ cả “tôi” (Vương Xương Linh) và Tân Tiệm đều vắng mặt, chỉ còn lại mưa đêm, núi sớm và một trái tim trong sạch trong bình ngọc giữa mưa đêm núi sớm. Con người chung thủy, tự tin và tin cậy trao trái tim cho bè bạn. Có một sự tương giao thâm thiết giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người - con người được đồng nhất với vũ trụ.

Ta thử lấy thêm một ví dụ ở thể bát cú.

Kim dạ Phu Châu nguyệt,
Khuê trung chỉ độc khan.
Dao liên tiểu nhi nữ,
Vị giải ức Trường An.
Hương vụ vân hoàn thấp,
Thanh huy ngọc tí hàn.
Hà thời ỷ hư hoảng,
Song chiếu lệ ngân can.
(Đỗ Phủ - Nguyệt dạ)

(Vầng trăng Phu Châu đêm nay,
Trong phòng khuê chỉ một mình đang ngắm.
Xa thương các con còn bé dại,
Chưa biết nhớ Trường An.
Sương móc thơm mái tóc mây đẫm ướt,
ánh trăng trong cánh tay ngọc giá lạnh.
Bao giờ tựa bên rèm cửa mỏng,
[Trăng] soi chung ngấn lệ ráo khô.)

Toàn bài có 8 câu thơ, gồm 5 câu ngữ pháp, nhưng chỉ hai câu có chủ ngữ (tóc mây đẫm ướt, tay ngọc giá lạnh) và tuyệt nhiên không có chủ ngữ nhân xưng.

Tựa đề bài thơ là Nguyệt dạ (Đêm trăng) và cả bài thơ tràn ngập trăng đêm. Một vầng “nguyệt” xuất hiện ở câu 1, xuyên suốt bài thơ, “chiếu” tận 8 câu, tạo nên một sự “nhất khí”. Vầng trăng trong sáng là nhân chứng thầm lặng cho nỗi niềm thương nhớ của hai vợ chồng trong cảnh sinh ly thời loạn lạc, và hy vọng chiếu sáng ngấn lệ ráo khô ngày sum họp.

Bài thơ không có chủ ngữ nhân xưng, chỉ có nhãn tự “ức” (nhớ) thao thức dưới vầng trăng. Mà chữ “nhớ” lại diễn ra dưới thức phủ định “Xa thương các con còn bé dại chưa biết nhớ Trường An”. Nhưng chính thức phủ định này làm nỗi nhớ càng được thể hiện sâu sắc.

Khi nỗi thương nhớ thật sâu nặng, đến mức có một sự cảm ứng về tâm hồn, người ta hiểu mình thương nhớ đang nhớ thương một mình. Đỗ thương nhớ vợ con nhưng chỉ nói thương con chưa biết nhớ (cha) lại càng chưa biết mẹ đang nhớ (cha). Chữ “nhớ” bị phủ định lại cuộn lên, thành một “nhãn tự” thao thức dưới đêm trăng. Nỗi nhớ trở thành hạt nhân, thành chủ thể và là chủ đề của bài thơ.

Những bài thơ hay nhất của Đường thi dường “vô ngã". Như trong trường hợp Nguyệt dạ có thể nói sự “vô ngã” đã đạt đến trình độ thượng thừa.

Nỗi thương nhớ vì sinh ly tử biệt trong chiến tranh là phổ biến là của tất cả mọi người. Hiệu quả thẩm mỹ của bài thơ một phần rất lớn là nhờ sự tỉnh lược chủ ngữ nhân xưng.

Ta có thể phân tích tác dụng của sự tỉnh lược chủ ngữ nhân xưng và giới từ hạn định không - thời gian ở hầu hết các bài thơ Đường luật (kể cả thơ Việt Nam làm theo thể Đường luật), vì hầu hết bài thơ nào cũng có hiện tượng này. Đây là một đặc trưng thi pháp thể loại.

Phép tỉnh lược song hành này đã đưa đến cảm nhận của người đọc một bức tranh tâm trạng mà ở đó con người được đồng nhất, hoà tan vào trong thiên nhiên, vũ trụ và khiến cho bài thơ thẩm thấu một cách tự nhiên vào trong tâm người đọc. Điều mà tác giả tỉnh lược, được người đọc tái hiện, ngầm hiểu. Cái “tôi” của nhà thơ không xuất hiện trực tiếp, nó được đặt ra ngoài ngôn ngữ (tại ngôn ngoại), chỉ có cái thần của nó thấm đượm vào tứ thơ. Theo cách diễn đạt của Lão Tử thì đây là hiện tượng “ngoại kỳ thân nhi thân tồn”.

Không có “tôi”, “nó” vì “tôi”, “nó” cơ hồ đã thống nhất. Bài thơ không chỉ là của riêng “tôi” (tác giả) mà cũng là của “anh” (người đọc). Cho nên đến lượt “tôi” (người đọc) tiếp nhận bài thơ cũng như thể đang cùng “anh” (tác giả) “đối diện đàm tâm” thì “đắc ý vong ngôn” (được ý quên lời) là tất yếu.

Phép tỉnh lược của thơ Đường luật chính là một cách “vong ngôn” để “đắc ý”, đồng nhất chủ thể với khách thể để “thi thành thảo thụ giai thiên cổ”. Có lẽ đây là một bí quyết làm nên sức hấp dẫn của thơ Đường.

Cập nhật ( 08/07/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online