Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Việt sữ diễn nghĩa tứ tự ca (Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Vĩnh)
Việt sữ diễn nghĩa tứ tự ca (Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Vĩnh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/07/2010

VIỆT SỬ DIỄN NGHĨA TỨ TỰ CA

* Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hữu Vinh phiên âm

1. Người nước Nam ta, Phải coi sử Việt, Cùng đầu đến đuôi, Chuyện chi cho biết.
5. Từ họ Hồng Bàng, Làm Kinh Dương Vương, Vốn dòng Viêm đế, Phong tại nam phương.
9. Con là Lạc Long, Cháu là Hùng Vương, Từ ấy hiệu nước, Gọi là Văn Lang.
13. Truyền mười tám đời, Đều xưng Hùng Vương, Đặng hai nghìn sáu, Hăm hai năm trường.
17. Thục An Dương Vương, Diệt nước Văn Lang, Xưng rằng Âu Lạc, Nối họ Hồng Bàng.
21. Vua Thục lúc ấy, xây đắp Loa thành, xây lên bổ xuống, ai nấy đều kinh
25. Vua Thục khấn vái, Thiên địa thần linh, Bỗng thấy một người, Kim Quy hiện hình.
29. Nói cùng vua Thục, Sự tích đành rành, Trong núi Thất Diệu, Nhiều loài yêu tinh.
33. Oan hồn uất kết, Nên nỗi hoành hành, Xin phải trừ đi, Mới xây đặng thành.
37. Vua Thục nghe theo, Nửa tháng thành rồi, Khi ấy Kim Quy, Từ biệt xin lui.

41. Vua Thục nói lại, Nhờ ông đến đây, Trăm điều an ổn, Còn ngại chút này.
45. Thành trì nhà nước, Nay đã vững vàng, Mai sau có giặc, Lấy chi dẹp loàn.
49. Kim Quy nghe nói, Cho một móng chân, Nhắn đem làm ná, Linh động khôn ngần.
53. Bắn ra một phát, Giết giặc muôn thằng, Gọi là thần nỏ, Ai địch cho bằng.
57. Tần nghe cõi Nam, Rất nhiều châu ngọc, Bèn sai Triệu Đà, Đem quân đánh Thục.
61. Thục có thần nỏ, Ðà địch đâu qua, Quân Triệu cùng khốn, Ðà xin giảng hòa.
65. Cho con Trọng Thủy, Ðến hỏi Mỵ Châu, Trọng Thủy khôn khéo, Thục vuơng gả cho.
69. Trọng Thủy thừa cơ, Coi máy thần nỏ, Mỵ Châu tin chàng, Cho chàng coi ngó.
73. Không hay Trọng Thủy, Rắp sẵn mưu gian, Coi qua ngó lại, Ðổi móng rùa vàng.
77. Nói cùng Mỵ Châu, Về thăm cha mẹ, Lòng toan đánh Thục, Mưu sâu tình tệ.
81. Giả đò yêu dấu, Nghĩ trước suy sau, Một mai ly loạn, Biết nàng ở đâu.
85. Mỗi người mỗi xứ, Ruột héo lòng đau, Vợ chồng cách trở, Ðời nào thấy nhau.
89. Mỵ Châu thưa rằng, Thiếp có nệm lông, Đem theo bên mình, Há dám tiếc công.
93. Thiếp đi đường nào, Bỏ ra đường ấy, Chàng đã có lòng, Trước sau cũng thấy.
97. Trọng Thủy về đến, Quân Triệu kéo sang, Vua Thục cười nói, Triệu Ðà cả gan.
101. Không hay thần nỏ, Máy đã mất đi, Ðem quân ra đánh, Thua chạy tức thì.
105. Vua Thục chẳng biết, Rể xảo con ngu, Tin dùng Trọng Thủy, Yêu dấu Mỵ Châu.
109. Ðến chừng nguy hiểm, Cầu cứu Kim Quy, Kim Quy ra nói, Giặc tại cô này.
113. Mỵ Châu than thở, Trọng Thủy gian khi, Thục Vương biết đặng, Tuốt gươm giết ngay.
117. Quân Triệu thừa thắng, Kéo đến liền ngày, Vua Thục thua chạy, Bèn diệt Thục đi
121. Triệu Võ đế Ðà, Gồm nước Âu Lạc, Truyền đặng năm đời, Triệu suy Hán diệt.
125. Người Hán từ ấy, Quận huyện nước ta, Sai quan qua trị, Tô Ðịng gian tà.
129. Người xứ An Minh, Trưng Trắc Trưng Nhị, Tuy rằng nữ nhi, Thiệt là tài trí.
133. Phục thù khởi nghĩa, Đuổi Tô Định về, Giao Châu một cõi, Thâu phục sơn khê.
137. Hán sai Mã Viện, Kéo thẳng binh qua, Ðánh cùng Trưng Vương, Lại lấy đất ta.
141. Trưng Vương em chị, Tuẫn nạn một nhà, Xưa nay trung nghĩa, Tiếng lành đồn. xa.
145. Mã Viện đánh rồi, Bèn dựng đồng trụ, Lấy đất Nam giao, Giới hạn tới đó.
149. Ðến sau Sĩ Nhiếp, Qua trấn Giao Châu, Mở mang văn vận, Từ ấy làm đầu.
153. Thương dân dạy vẽ, Lễ nghĩa văn chương, Dân đều yêu kính, Tôn rằng Sĩ vương.
157. Nam giao bờ cõi, Từ Hán đến Lương, Thuộc vào Trung Quốc, Biết mấy năm trường.
161. Người nước Nam ta, Có ông Lý Bí (Bôn), Sinh xứ Thái Bình, Ða tài đa trí.
165. Lương sai Bá Tiên, Ðánh cùng Lý Bí, Tô Lịch Gia Ninh, Lương đều hơn Lý.
169. Lý đòi Quang Phục, Giao cho binh quyền, Lui về Liêu Ðộng, Tỵ nạn một phen.
173. Ông Triệu Quang Phục, Ðặng móng rồng vàng, Ðánh đâu hơn đó, Xưng Triệu. Việt Vương.

177. Sau Lý Phật Tử, Đánh Triệu không xong, Cho con làm rể, Trộm lấy móng rồng.
181. Quân Lý kéo đến, Cùng Triệu giao phong, Triệu vương thua chạy, Nhảy xuống. biển đông.

185. Phật Tử diệt Triệu, Ðô tại Phong Châu, Tùy sai Lưu Phương, Họa phúc dỗ cùng.
189. Vua tôi Phật Tử, Ðều ra chịu đầu, Nam giao bờ cõi, Về Tuỳ tóm thâu.
193. Đến Đường Cao Tôn, Cải hiệu An Nam, Đặt quan đô hộ, Lắm kẻ bạo tham.
197. Truyền tới Ðức Tôn, Ðô hộ Chánh Bình, Gian ngoan hà khắc, Tàn hại sanh linh.
201. Người xứ Ðường Lâm, Tên là Phùng Hưng, Gia tư hào phú, Trí dũng ai bằng.
205. Dấy binh vây thành, Giết tên Chánh Bình, Thu phục Xích huyện,Tế độ thương sinh.
209. Giàu sang dáy (nháy) mắt, Giấc bướm mơ màng, Phùng An truy tôn, Bố Cái Ðại Vương.
213. Phùng An nối nghiệp, Nghe theo Triệu Xương, Nói điều lợi hại, Từ ấy đầu Ðường.
217. Ðường Chiêu Tuyên đế, Hồng Châu Khúc Hạo, Tự xưng Tiết Ðộ, Nam Hán thông hiếu.

221. Ðường Lâm Ngô Quyền, Thừa khi đương loạn, Dấy binh phục thù, Giết tên Công Tiện.

225. Nam Hán Lưu Cung, Sai con Hoằng Tháo, Từ sông Bạch Ðằng, đem binh đến cứu.
229. Ngô Quyền phá Hán, Tự xưng Ngô Vương, Ở ngôi sáu năm, Một giấc hoàng lương.
233. Di chúc em vợ, tên là Tam Kha, Tam Kha tiếm vị, Xương Ngập trốn xa.
237. Khá khen Xương Văn, Đánh đuổi Tam Kha, Bèn rước anh về, Cùng trị nước nhà.
241. Xương Văn ra đánh, Đường Nguyễn Thái Bình, Nửa đêm trúng tên, Hoăng tại trong doanh.

245. Từ ấy phiên trấn, Chiếm cứ phân vân, Trước sau mười hai, Ðều xưng sứ quân.
249. Ông Ðinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư.
253. Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt, Đô đóng Trường An.
257. Ðinh Hoàng bị thí, Ðinh Toàn nối lên, Chỉn có hai đời, Ðặng mười ba năm.
261. Tướng quân Lê Hoàng, Tư thông Dương thị, Quân Tống sang xâm, Lê Hoàng tức vị.

265. Lê đặng nối Ðinh, Bởi vì Dương hậu, Bất nghĩa bất trung, Muôn năm còn xấu.
269. Ðại Hành băng tồ, Trung Tôn tức vị, Mới đặng ba ngày, Ngọa Triều nghịch thí.
273. Ngọa Triều gian xảo, Tàn bạo tính thành, Ðao sơn kiếm thụ, Bày đặt nghiêm. Hình.

277. Thí nghịch soán đoạt, Lên ngôi bốn năm, Say mê tửu sắc, Bịnh nặng chết liền.
281. Con là Lê Sạ, Tuổi nhỏ tài hèn, Các quan bèn rước, Công Uẩn tôn lên.
285. Lý tổ tức vị, Kiến nguyên Thuận Thiên, Suốt mười tám năm, Ngoài lặng trong Yên.
289. Thái Tôn thủ thành, Hữu đễ rất hiền, Anh em phản nghịch, ân pháp vẹn toàn.
293. Ðến đời Anh Tôn, Phụ Chánh Hiến Thành, Một lòng trung nghĩa, Chẳng khác Khổng Minh.

297. Truyền đến Huệ Tôn, Không có con trai, Con gái Chiêu Hoàng, Thừa thống nối ngôi.
301. Có tên Trần Cảnh, Lịch sự lạ dường, Vào hầu Chiêu Hoàng, Chiêu Hoàng rất thương.
305. Thủ Ðộ bày mưu, Chiêu Hoàng nhường vị, Trần Cảnh lên ngôi, Trần bèn nối Lý.
309. Thái Tôn Thánh Tôn, Truyền đến Nhân Tôn, Ba đời thịnh trị, Phẳng lặng ngoài trong .
313. Nguyên sai đại tướng, Tên là Thoát Hoan, Ðến hãm kinh thành, Từ xứ Bắc Giang.
317. Tôn thần trung nghĩa, Hưng Ðạo Ðại Vương, Bạch Ðằng một trận, Phá giặc tan hoang.
321. Từ Trần Thái Tôn, Ðến Trần Thiếu Ðế, Thiếu Ðế thơ ngây, Quý Ly soán vị.
325. Trần mười hai vua, Trăm bảy dư niên, Hậu Trần hai vua, Bảy năm mất liền.
329. Quý Ly soán Trần, Nước hiệu Ðại Ngu, Truyền ngôi Hán Thương, Gìn giữ cơ đồ.

333. Cha con Quý Ly, Lên ngôi sáu năm, Ðánh cùng Trương Phụ, Ðều bị sinh cầm.
337. An Nam một cõi, Từ ấy về Minh, Quan Minh tham bạo, Dân bất liêu sinh.
341. Lam Sơn Lê Lợi, Bèn dấy nghĩa binh, Thương hại dân ta, Ðánh đuổi quan Minh.
345. Gian nguy trăm trận, Thu phục hai kinh, Mười năm bình định, Bốn bể trừng thanh.
349. Thái Tôn nối trị, Tánh vốn thông minh, Hiềm vì mê sắc, Nên nỗi thương sinh.
353. Nhân Tôn xung ấu, Thái hậu thuỳ liêm, Nghi Dân làm loạn, Vào thành nửa đêm.
357. Nhân Tôn ngộ hại, Nghi Dân tiếm lên, Triều đình tôi cũ, Giết hại liền liền.
361. Lê Xí Ðinh Liệt, Xướng nghĩa phế ngay, Bèn rước Gia Vương, Tôn lên liền ngày.
365. Thánh Tôn tức vị, Gìn giữ mối giềng, Ở ngôi trí trị, Ba tám năm trường.
369. Sử xưng minh chủ, Tài đức khác thường, Ví cùng Trung Quốc, Võ đế Văn. Hoàng.
373. Hiến Tôn Túc Tôn, Truyền đến Quỷ Vương, Tin dùng ngoại thích, Tàn hại trung lương.
377. Ông Nguyễn Văn Lang, Cùng ông Giản Tu, Ðem quân tam phủ, Ra đánh đông đô.
381. Quỷ Vương tự vẫn, Trư Vương nối lên, Ở ngôi tám năm, Duy Sản thí liền.
385. Chiêu Tôn tức vị, Ðăng Dung lộng quyền, Lòng toan soán đoạt, Chiêu Tôn ưu phiền.
389. Nửa đêm xa giá, Qua xứ Sơn Tây, Ðăng Dung không kể, Chẳng rước vua về.
393. Lập hoàng đệ Xuân, Tại tỉnh Hải Dương, Chiêu Tôn về kinh, Ðăng Dung cướp ngang.
397. Chiêu Tôn thua chạy, Trịnh Tuy cứu giá, Nghe gièm giết hại, Trịnh Tuy tướng tá.
401. Trịnh Tuy hờn giận, Hộ giá vào Thanh, Ðăng Dung bèn rước, Hoàng đệ về kinh.
405. Chiêu Tôn bị bắt, Ðăng Dung thí ngay, Truyền cho hoàng đệ, Thiền vị tức thì.
409. Họ Mạc soán Lê, Qua cáo Minh liền, Dâng vàng dâng đất, Minh cho chức quyền.
413. Ðăng Dung lên ngôi, Mới đặng ba năm, Cho con Ðăng Doanh, Tức vị cải nguyên.
417. Truyền con với cháu, Mạc Hải Mạc Nguyên, Ðến chắt Mậu Hợp, Năm đời mất liền.
421. Ðức triệu tổ ta, Trước làm quan Lê, Thấy Mạc tiếm thiết, Lo sợ trăm bề.
425. Ðánh Mạc chưa đặng, Lánh vào Ai Lao, Vua Lào Xạ Ðẩu, Cho ở Sầm Châu.
429. Chiêu binh mãi mã, Tìm kiếm dòng Lê, Gặp được Trang Tôn, Xa giá rước về.
433. Biết ông Trang Tôn, Là con Chiêu Tôn, Ngài bèn lập lên, Lập rồi tiến công.
437. Ngài thấy Trịnh Kiểm, Thao lược tinh thông, Gả con Ngọc Bảo, Cho làm tiên phong.
441. Ðánh cùng họ Mạc, Tại xứ Lôi Dương, Quân ta xung đột, Quân Mạc tan hoang.
445. Gần xa khen ngợi, Hào kiệt văn phong, Kinh lược Thanh Nghệ, Theo ngọn cờ hồng.
449. Quân đến Tây đô, Tướng Mạc ra đầu, Tên là Chấp Nhất, Kế hiểm mưu sâu.
453. Thấy ngài trí dũng, Liệu địch không qua, Đặt bày yến tiệc, Bỏ độc vào trà.
457. Rước mời gắn bó, Triệu tổ chẳng ngờ, Nửa đêm về doanh, Tướng tinh phút lờ.
461. Phù Lê diệt Mạc, Công nghiệp gần thành, Trang Tôn nghe tin, Thương tiếc hãi kinh.
465. Giao cho Trịnh Kiểm, Tiết chế các doanh, Ðô soái tướng tá, Ðánh cùng mạc binh.
469. Con thứ hai ngài, Là đức Thái Tổ, Công tuy đã nhiều, Tuổi còn đương nhỏ.
473. Nối theo chí trước, Phò Lê rất trung, Trịnh Kiểm nghi kỵ, Lo sợ khôn cùng.
477. Nói cùng Ngọc Bảo, Vào trấn phía trong, Ô Châu ác địa, Thiệt cũng cam lòng.
481. Trịnh Kiểm nghĩ rằng, Ô Châu một chỗ, Tâu cho vào trấn, Trước sau cũng khổ.
485. Thái tổ thấy chỉ, Lãnh thuyền kéo vô, Đến nơi Quảng Trị, Gây dựng cơ đồ.
489. Muôn năm đế nghiệp, Từ ấy mà ra, Thần truyền thánh kế, Mở mang nước ta.
493. Mới đặng chín đời, Ðến đời Hiếu Ðịnh, Ngoại thích Phúc Loan, Chuyên quyền loạn chánh.

497. Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Ở đất Bình Ðịnh, Bèn cùng Tập Ðình, Dẫn binh ra đánh.
501. Trịnh sai Ngũ Phúc, Cùng kéo binh vô, Kể tội Phúc Loan, Xin phải nên tru.
505. Các quan vâng chỉ, Ðem nạp Phúc Loan, Ai hayNgũ Phúc, Nói khác mưu gian.
509. Lại đưa thư rằng, Anh em Nguyễn Nhạc, Chiếm cứ Quy Nhơn, Tung hoành bạo ngược.
513. Xin đem quân Trịnh, Giúp với quan quân, Ðồng lòng hết sức, Trừ giặc cứu dân.
517. Ngũ Phúc gian kế, Duệ Tôn chưa nghe, Quân Trịnh xông tới, Quân ta lui về.
521. Ðánh nhau mấy trận, Quan quân đều thua, Ngài vào Quảng Nam, Bèn mất kinh đô.
525. Gặp quân Nguyễn Nhạc, Ðến từ Bình Ðịnh, Trước sau đều giặc, Duệ Tôn nam hạnh.
529. Lập hoàng tôn Dương, Xưng rằng Ðông cung, Trấn tỉnh Quảng Nam, Xem xét ngoài trong.

533. Nhạc sai Tập Ðình, Ðem quân đến đánh, Bèn rước Ðông cung, Ðem về Bình Ðịnh.
537. Nửa đêm Ðông cung, Ði theo thương thuyền, Chạy vào Gia Ðịnh, Năm ngày đến liền.

541. Trịnh Hoàng Ngũ Phúc, Kéo thẳng binh vô, Ðành cùng Nguyễn Nhạc, Quân Nhạc đều thua.

545. Nhạc bèn khiến sứ, Tới yết Trịnh Doanh, Xin cùng Ngũ Phúc, Tình nguyện đầu thành.
549. Trịnh cho Nguyễn Nhạc, Làm chức Tướng quân, Lại sai Bùi Ðạt, Vào trấn Phú Xuân.
553. Duệ Tôn lúc ấy, Gặp hoàng tôn Dương, Bèn thiền vị cho, Xưng Tân Chánh Vương.
557. Nhạc sai Huệ Lữ, Vào đánh Sài Gòn, Quân giặc tàn bạo, Quân ta hao mòn.
561. Vương qua Hương Ðôi, Ngài tới Long Xuyên, Giặc bèn đuổi theo, Ðều tuẫn nạn liền.
565. Ðức Cao hoàng ta, Ði theo Duệ Tôn, Gian nguy lắm lúc, Lao khổ khôn cùng.
569. Duệ Tôn vẫn biết, Tài đức hơn người, Phục cơ nghiệp cũ, Thường nói cùng ngài.
573. Gặp cơn quốc biến, Còn đương thiếu niên, Nguyên soái nhiếp chính, Các tướng tôn lên.

577. Năm thứ Mậu Tuất, Ngài nhiếp quốc chính, Thu phục Sài Gòn, Trú tất Gia Ðịnh.
581. Năm ấy tháng năm, Nguyễn Huệ vào đánh, Quân ta đều thua, Bèn mất Gia Định..
585. Ðến năm Kỷ Hợi, Mùa xuân tháng ba, Quan quân thu phục, Gia định về ta.
589. Canh Tý nguyên niên, Ngài tức vương vị, Dùng Lê Cảng Hưng, Niên hiệu Giáp Tý.
593. Năm Dần tháng hai, Nguyễn Huệ nhập khấu, Ngài ra Phú Quốc, Côn Lôn các đảo.
597. Bèn sai Ða Lăng, Bảo hộ Ðông cung, Qua xin Ðại Pháp, Ðem binh giúp cùng.
601 Đại Pháp lúc ấy, Nhiều việc chưa cho, Nên ông Đa Lăng, Rất đỗi sợ lo.
605. Bèn đem Ðông Cung, Trở về Ấn Ðộ, Mời anh em bạn, Hai ông quan võ.
609. Tên là Ða Du, Lại với Ni Ê, Hai chiếc tàu binh, Một đoàn kéo về.
613. Ngài thấy Ðông cung, Cùng ông Ða Lăng, Ða Du Ni Ê, Mừng rỡ khôn ngần.
617. Lúc trước Ða Lăng, Có tiến mấy ông, Ðều người Ðại Pháp, Trung nghĩa khôn cùng.
621. Buổi ấy lấy đặng, Hạ du Gia định, Sai ông Ni Ê, Giữ gìn mấy tỉnh.
625. Lại sai Ða Du, Qua tiểu Lữ Tống, Cùng xứ Áo Môn, Mua tàu mua súng.
629. Ông Tào Mạn Hoè, Thiệt là trung liệt, Ðánh cùng Nguyễn Huệ, Trận tiền tử tiết.
633. Sắc cho Mạn Hoè, Thờ vào Hiển Trung, Giám Mu.c Ða Lăng, Tấn tước quận công.
637. Lúc ấy theo ngài, Các quan Ðại Pháp, Ai có công lao, Ơn đền nghĩa đáp.
641. Kể từ bôn ba, Chốc đã mười thu, Tháng giêng năm Thìn, Ngài tại Thổ Chu.
645. Qua Xiêm cầu viện, Vua Xiêm viện cho, Về đánh Tây Sơn, Quân Xiêm cũng thua.
649. Ngài lại qua Xiêm, Ở Vọng Các thành, Truyền cùng các tướng, Ðồn điền mộ binh.
653. Năm Ngọ Nguyễn Huệ, Ra đánh Bắc Kỳ, Phá tan quân Trịnh, Yết kiến vua Lê.
657. Hiển Tôn run sợ, Thụ bệnh băng tồ, Huệ lập Chiêu Thống, Rồi kéo binh vô.
661. Nguyễn Nhạc xưng đế, Chiếm cứ Bình Ðịnh, Nguyễn Huệ truyền hịch, Dẫn binh vào đánh.

665. Nhạc than cùng Huệ, Thịt xáo nồi da, Huệ thấy khốn cùng, Mới cho giảng hòa.
669. Ðương khi Huệ Nhạc, Anh em đánh nhau, Ông Tống Phước Ðạm, Ðến Xiêm gửi tấu.

673. Gia Ðịnh sơ phòng, Xin Ngài về đánh, Tháng tám năm Thân, Thu phục Gia Ðịnh.
677. Huệ nghe Nguyễn Chỉnh, Ở đất Bắc Kỳ, Giả làm trung nghĩa, Diệt Trịnh phò Lê.
681. Sai Vũ Văn Nhậm, Ðem binh ra đánh, Lấy thành Thăng long, Giết tên Nguyễn Chỉnh.
685. Lạ thay Nguyễn Huệ, Lại ra Long Biên, Văn Nhậm tới hầu, Truyền đem chém liền.
689. Nguyễn Huệ lúc ấy, Lấy hết Bắc kỳ, Giết rồi Văn Nhậm, Đòi các quan Lê.
693. Truyền cho Tiến Tôn, Đều dâng một biểu, Ông Nguyễn Huy Trạc, Uống thuốc chẳng chịu.

697. Huệ thấy Huy Trạc, rất nỗi kinh nghi, Quyền lập Duy Cẩn, Ðem quân trở về.
701. Giao Ngô văn Sở, Gìn giữ Bắc thành, Lê hậu qua Tàu, Cáo cùng đại Thanh.
705. Thanh sai Sĩ Nghị, Suất Mãn Hán binh, Phục Lê trừ tặc, Tế độ sanh linh.
709. Sĩ Nghị mới đến, Tuyên phong Lê hoàng, Sửa sang rường mối, Sắp đặt quân. Quan.
713. Nguyễn Huệ nghe báo, Dâng thư xin hàng, Sĩ Nghị tin lấy, Sơ suất phòng gian.
717. Giáo cờ xếch xác, Ðêm khuya canh tàn, Nguyễn Huệ biết đặng, đốc suất quân quan.
721. Kiến nguyên tức vị, Thẳng ra một đường, Ðến lũy Ngọc Hồi, Tàu chẳng cho sang.
725. Ðánh cùng quân Tàu, Phá Tàu tan hoang, Quân Tàu thua chạy, Lui về Nam quan.
729. Nguyễn Huệ khiến sứ, Qua Tàu tạ tội, Xin cho chức quyền, Giữ gìn bờ cõi.
733. Thanh biết gian khi, Nghĩ đánh chẳng đặng,Chi bằng cho đi, Ắt tiêu bên hấn.
737. Lê chúa đến Thanh, Lại xin viện binh, Càn Long không cho, Băng tại Yên kinh.
741. Năm Tý năm Sửu, Huệ Nhạc chết liền, Quan quân thu phục, Bình Ðịnh Phú Yên.
745..Giữ thành Bình Ðịnh, Tướng giặc ra đầu, Ngài sai Võ Tánh, Lại với Tùng Chu.
749. Hai người ra sức, Gìn giữ thành này, Dũng Diệu tướng giặc, Ðem quân đến vây.
753. Ngài truyền Võ Tánh, Bỏ thành ra ngoài, Võ Tánh dâng sớ, Tâu mật cùng ngài.
757. Ðây nhiều quân giặc, Ngoài Huế không hư, Xin phải thừa cơ, Ra lấy kinh sư.
761. Năm Dậu tháng năm, Ngài suất đại binh, Vào cửa Tư Hiền, Khắc phục cựu kinh.
765. Sai Lê Văn Duyệt, Cứu viện Võ Tánh, Dẫn binh gấp vào, Giải vây Bình Ðịnh.
769. Bình Ðịnh thành hãm, Tiêu tức mới biết, Tôn Tánh Tùng Châu, Tiến huyên tử tiết.
773. Các quan đều xin, Tức vị kiến nguyên, Ngài truyền chỉ rằng, Giặc còn chưa yên.
777. Rồi đến năm sau, Thân chinh Bắc thành, Sinh cầm Quang Toản, Tặc đảng tận bình.
781. Kể từ Nguyễn Huệ, Vào đánh Đồng Nai, Mất đi phục lại, Biết mấy mươi hồi.
785. Phục thù báo oán, Chí quyết chẳng sai, Phương chi thánh đức, Văn võ gồm tài.
789. Điềm lành sự lạ, Hiển hiện hoài hoài, Sấu ngăn thuyền lại, Trâu lội qua vời.
793. Gió to nước ngặt, Ngoài đảo giữa khơi, Gian nan lắm lúc, Nguy hiểm đòi nơi.
797. Dẹp yên nghịch tặc, Ba mươi năm trời, Nhất thống Nam Việt, Bờ cõi trong ngoài.
801. Truyền con cháu chắt, Biết mấy muôn đời, Cho hay lịch số, Trời hiệp theo người.
805. Coi trong sử Việt, Chuyện lớn kể ra, Chấp chỉnh lời quê, Làm diễn nghĩa ca.

 

Ðây là bài ca viết về một quảng dài lịch sử hơn mấy nghìn năm, từ thời vua Ðế Minh là cháu Viêm Ðế Thần Nông thứ ba cho đến khoảng thời gian đức Thế Tổ của triều đình nhà ta lên ngôi. Nay chọn những chuyện lớn viết thành diễn ca cho đàn bà con trẻ biết được đôi điều, càng nhiều càng tốt, để khỏi làm trò cười cho thiên hạ vì không biết chuyện tổ tiên. Dù rằng đã gắng công cố sức sửa sai, thêm bớt nhưng sợ vẫn còn nhiều sai lầm, sơ sót. Mong người đọc lượng thứ cho.

Kính trình lên để xem xét.

Thái Tử Thiếu Bảo Hiệp Tá Ðại Học Sĩ quản lĩnh Học bộ Thượng Thư kiêm Lễ bộ Sự Vụ Quốc Sử Quán Tổng Tài kiêm Quốc Tử Giám sung Cơ Mật Viện đại thần Khánh Mỹ Tử Tín Trai Hồ Tướng công.

PHÊ:

Lời văn đơn giản nhưng đầy đủ chi tiết, đây là một việc làm có công lớn đối với lịch sử nước Việt của bậc vương giả.

Tháng giêng năm Khải Ðịnh thứ sáu.

Hồng Nhung, tự Tiêu Khanh, Tuy Lý Quận Công nhậm chức Hữu Tham Tri bộ Lễ, sung chức Tả Tôn Khanh của Tôn Nhân Phủ.

Hồng Thiết, tự Lục Khanh, con thứ 18 của Tuy Lý Vương, Công Bộ Thị Lang, kiêm chức Nghị viên của hội Vệ Sinh.


Cùng diễn dịch

Cập nhật ( 17/07/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online