Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Mối quan hệ giữa mẫu Liễu Hạnh và Nội Đạo tràng (TS. Đỗ Lan Phương)
Mối quan hệ giữa mẫu Liễu Hạnh và Nội Đạo tràng (TS. Đỗ Lan Phương) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/07/2010

MỐI QUAN HỆ GIỮA MẪU LIỄU HẠNH VÀ NỘI ĐẠO TRÀNG

*  TS. Đỗ Lan Phương

Viện Nghiên cứu văn hóa

 Cùng thăng trầm với bao biến động xã hội – chính trị của các chặng đường lịch sử Việt Nam, tục thờ thánh Liễu Hạnh đã được ghi nhận là một tôn giáo bản địa, trở thành Đạo Mẫu với nhiều yếu tố ảnh hưởng từ Đạo giáo và Phật giáo. Cho đến nay, chúng ta không thể thống kê được hết những nơi thờ thánh Mẫu, cả ở chùa và các đền/phủ thờ riêng thuộc cộng đồng hay tư gia, suốt theo chiều dọc đất nước từ Bắc vào Nam. Trên con đường chinh phục và chiếm ngự toàn bộ đời sống tâm linh Việt, thánh Mẫu đã chinh phục từng vùng sự đa dạng các hình thức tín ngưỡng ở đó đáng kể nhất là cuộc “đấu tranh” trong chính dòng phái đạo giáo phù thủy mà từ đó Đạo Mẫu được hình thành. Đó là cuộc đấu tranh với nhóm phái Đạo giáo phù thủy ở Thanh Hóa đã từng được khẳng định vị thế trước triều đình hậu Lê và thường được gọi là Nội Đạo Tràng (với ý nhấn mạnh việc hình thành cơ sở chính đào tạo các đạo sĩ phù thủy ở Thanh Hóa, chứng tỏ sự phát triển của nó). Truyền thuyết về cuộc chiến giữa Mẫu Liễu với các thánh Nội Đạo ở Thanh Hóa vào thế kỷ XVII cũng là sự báo hiệu cho xu hướng thần tiên dần xâm nhập phái phù thủy của Nội Đạo – Đạo giáo Việt Nam trong thời kỳ này, là dấu mốc quan trọng hình thành Đạo Mẫu.

         1. Sự ra đời của Nội Đạo Tràng và sự xuất hiện Mẫu Liễu diễn ra như thế nào Theo sách Tang thương ngẫu lục do Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án viết vào khoảng năm 1786 (in vào 1796), Nội Đạo Tràng ra đời vào khoảng nữa đầu thế kỷ XVII. Câu chuyện nội Đạo Tràng do Phạm Đình Hổ kể lại là về công tích của các pháp sư Đạo giáo ở Quảng Xương (Thanh Hóa) đã dùng thuật bùa chú phù thủy để chữa bệnh lạ cho vua Lê Thần Tông (11 – 1643). Các pháp sư này đã được triều đình nhà Lê ban thưởng, ghi nhận và cho lập cơ sở hành đạo, tuyển môn sinh và phát triển ở đất Thanh Hóa cũng như trên toàn đất Bắc Việt Nam. Cùng với sách này, các tư liệu điền dã đã giúp làm sáng tỏ câu chuyện xưa. Người khởi xướng phái phù thủy ở Thanh Hóa là pháp sư Trần Ngọc Lành (trên sách trên thì tên gọi là Trần Lộc và một số viết sau sách viết sau này gọi là Trần Toàn). Trên điện thờ, Ngài có pháp danh là Thượng không Phật là tại quê hương, người dân thường gọi là Phật tổ. Dòng phái này bắt đầu phát triển qua các môn đồ thuộc nội tộc của Ngài là ba người con trai và một người cháu trai. Ở điện thờ, bốn vị này đã được phong Tả tôn thánh, Hữu tôn thánh, tiền quan thánh). Dòng phái này tiếp tục được mở rộng qua các môn đồ ngoại tộc và có tới hàng ngàn môn sinh ở đất Thanh Hóa (tại các huyện Quảng Xương, Hoàng Hóa, Bá Thước, cẩm Thủy, Thạch Thành, Mường Lát) (1) ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương. Sự tồn tại và phát triển một thời của dòng phái này đã được ghi lại ở một số sách khác đời trước, nhưng có thể thấy cụ thể qua sự bố trí điện thờ tại chùa Mậu Xương còn tồn tại tới ngày nay, đây là nơi hóa của các thánh (làng Mậu Xương, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa). Hình thức bố trí điện thờ theo bố trí của Tam bảo chùa: hàng trên cùng là Thượng Không Phật (Tổ sư/Phật tổ Trần Ngọc Lành), hàng thứ hai là Tứ thánh – bốn thánh thuộc nội tộc (trực hệ) của Thượng Không Phật (là Tả, Hữu tôn thánh Tiền, Hậu quan thánh) và hàng thứ hai có hai Á thánh với pháp danh là Tự Pháp nên (người Hải Dương). Dấu tích của sự phát triển Nội Đạo Tràng cũng có thể tìm thấy ở chùa Từ Minh (xã Hoàng Long, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa), nơi đây chính là cơ sở “đào tạo” của Nội Đạo (2).

          Qua sách Tang thương ngẫu lục, ta còn thấy hành trạng uy danh của phái Đạo phù thủy ở Thanh Hóa đã được ghi lại bằng truyền thuyết về các pháp sư Quảng Xương có thuật trị các ác thần trên núi, dưới biển. Họ đã trị được chín trong mười hai ác thần tại “mười hai cửa bể ở miền tây nam… thường làm cho nước bốc cao lên như núi, chốc lại tan đi. Thuyền bè gặp phải, không tài nào sống sót được” (3). Họ cũng là những thầy pháp “trông coi” sự yên bình cho vùng núi Sòng) do đó, khi Liễu Hạnh vào đây trấn áp dân, các pháp sư nầy đã được phái tới để đánh). Chính vì tiếng tăm trị ác trên non dưới biển đó đã tạo cho các pháp sư dòng phái này danh tiếng toàn tài nên họ đã được vào cung chữa bệnh cho vua. Cũng từ đây, quy mô của phái Đạo phù thủy Thanh Hóa đã vượt qua khỏi phạm vi  địa phương, được cung đình bảo trợ và trở thành một nhóm phái Đạo phù thủy mang tính “Quốc gia »

          Sự xuất hiện của mẫu Liễu Hạnh hay nhóm phái Đạo phù thủy mà thánh chủ la Liễu Hạnh trên đất Bắc được phản ánh qua cuốn sách được xem là xưa nhất: Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), đã được dẫn trong công trình nghiên cứu về Tứ bất tử của hai tác giả Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh (4). Cùng với sách này có Vân Hương Thánh Mẫu, tam vị đạ từ tôn,(tên khác là Hương, tam vị thánh mẫu – giáng bút chơn kinh; tài liệu inneo, không rõ nơi xuất bản) được xem như Ngọc phả của Mẫu ở đền Sòng.

Theo đó, chúng ta được biết sự xuất hiện của thánh Mẫu Liễu Hạnh sau nhiều lần giáng sinh của tiên nữ Quỳnh Hoa – Giáng Tiên ở Ý Yên, Vụ Bản Nam Định) vào những năm 1434 – 1473, 1557 – 1577 và những lần hiển linh của Bà ở Bỉm Sơn và Thạch Thành (Thanh Hóa) trước năm 1635 (5). Như vậy, khởi thủy của việc làm mới hay chuyển hướng của một nhóm phái Đạo phù thủy ở đất Bắc Việt Nam là từ giữa thế kỷ XV và quá trình này kéo dài hơn một thế kỷ thì thánh Mẫu Liễu Hạnh mới được khẳng định vị trí trong sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng của người Việt ở đất Bắc, với sự kiện xây dựng đền Sòng vào năm 1635 được ghi trong ngọc phả của đền.

Trong các nghiên công trình nghiên cứu về Mẫu Liễu, cơ sở thờ Bà ở Thanh Hóa còn ít được quan tâm, nó chỉ được điểm tên khi nói về chuỗi các đền, phủ lớn thờ Mẫu Liễu nổi tiếng “linh thiêng” ở Việt Nam, như Phủ Dầy (Nam Định) - Phủ Tây Hồ (Hà Nội) - Phủ Sòng và Phủ Các (Thanh Hóa)… Như đã đề cập ở trên, tại đền Sòng (Bỉm Sơn, Thanh Hóa) còn lưu giữ cuốn vân Hương Thánh Mẫu, tam vị đại từ tôn,  trong đó thuật lại các lần giáng sinh, hiển linh của mẫu trên đất Nam Định, Thanh Hóa và cuộc chiến của Mẫu với Tam thánh của Nội Đạo Tràng mà mong các cuốn sách cổ hay cá tài liệu nghiên cứu sau này gọi đó là cuộc “Sùng sơn đại chuyến “tiêu diêu” của bà để lại nhiều huyền tích, nhiều chuyện ly kỳ. Chúng được xem như một cách hiểu về nguồn gốc thờ Mẫu Liễu ở Thanh Hóa và sự phối thờ thánh Mẫu với các vị thần bản thổ, với các thánh Nội Đạo Tràng. Hơn nữa, đây cũng là nguồn tài liệu nói về dấu mốc của quá trình hình thành Đạo Mẫu.

2. Mối quan hệ giữa Mẫu Liễu và Nội Đạo tràng phản ánh sự xung đột trong các nhóm phái của Đạo giáo phù thủy ở Việt Nam, là quá trình chuyển hóa để hình thành một dòng Đạo mới. Như các tài liệu đã dẫn trên, những lần “sinh - hóa - sinh” tại đất Nam Định của Liễu Hạnh trong hơn một thế kỷ đã cho thấy sự “đấu tranh” trong chính nhóm phái Đạo giáo phù thủy này, với khuynh hướng dung nạp thêm các yếu tố thần tiên (như huyền tích về thân thế Liễu Hạnh,…) và phản ánh nhu cầu “kiểm nghiệm” ở ngoài vùng đất phát sinh của nó. Cuộc “Nam tiến” vào đất Thanh của Liễu Hạnh và cuộc chiến với Tam thánh nội Đạo Tràng đã là một minh chứng và cũng đồng thời phản ánh sự xung đột trong các nhóm phái Đạo giáo phù thủy ở Việt Nam lúc đó. Theo truyền thuyết, “cuộc chiến” này diễn ra là vì Liễu Hạnh đã gây tai họa cho những người dân Thanh Hóa, chuyện được tâu lên nhà vua và Tam thánh của Nội Đạo Tràng đã được cử đến để diệt trừ. Cuộc thánh chiến này là một sự “cân tài, cân sức” giữa những đạo giữa những đạo sĩ phù thủy. Phép  “lục trí thần thông” của Liễu Hạnh đã bị phép thuật “thượng không” của Tam thánh hóa giải, Liễu Hạnh thua và bị bắt giải về triều đình. Nhưng điều kỳ lạ ở đây là dù bị thua nhưng sau đó, ở Thanh Hóa đã có tới 48 đền, phủ thờ Bà (được “thống kê” vào thời Lê Cảnh Trị, 1663 – 1671) (6), có lẽ cũng không kém so với Nam Định – nơi sinh thành của thánh Mẫu.

Cũng theo Vân hương Thánh Mẫu, tam vị đại từ tôn thấy, nguyên nhân Mẫu Liễu thua các pháp sư Nội Đạo Tràng là bởi lúc đó bà chưa được thụ pháp của nhà Phật. Như thế, cuộc chiến Sòng Sơn đã phản ánh một khía cạnh khác của dòng phái đạo giáo phù thủy Việt Nam từ thế kỷ XVII trở đi là, dù được bắt đầu phát triển trở lại nhưng nếu muốn tồn tại, phái này phải “núp bóng” Phật giáo. Điều này cũng được thấy rõ qua tên gọi các nơi thờ tự của Nội Đạo Tràng đều gắn với chữ “chùa..”. Tuy nhiên, đây chỉ là biểu hiện bên ngoài của hướng phát triển của dòng phái này. Thực chất, những gì ẩn chứa bên trong sự hành đạo của thánh Liễu mới là xu hướng chính của nó, được thể hiện trong những truyền thuyết về những chuyến du hành, những chuyến “tiêu diêu” của thánh Liễu khắp đất Việt, từ Lạng Sơn, Cao Bằng về Hà Nội, vào Thanh Hóa (mà sau này các nơi Bà đến đều có đền thờ: ở mười huyện). Theo truyền thuyết, những nơi này đều là những danh thắng, những nơi sơn thủy hữu tình và Bà thường thích gặp gỡ với những “tao nhân mặc khách”, thích xướng họa thơ phú,… tất cả những biểu hiện này đều chỉ ra phong cách của những đạo sĩ thần tiên.

Trở lại với hiện tượng sau sự kiện “Sòng Sơn đại chiến” hay sau sự xung đột giữa Mẫu Liễu với Nội Đạo Tràng đã từng có hàng ngàn môn sinh ở các tỉnh như Thanh Hóa. Nghệ An, Hà Tỉnh, Hà Nội, Hưng Yên và Hải Dương, có hẳn trường dạy hành đạo ở các nơi này, vậy tại sao sau cuộc chiến Sòng Sơn, nhóm phái này chiến thắng mà lại không tiếp tục phát triển được để rồi sau đó dần thu hẹp lãnh địa. Không gian các tỉnh Bắc Việt Nam đã dần trở thành không gian của các đền, phủ thờ Mẫu Liễu. Nếu lần theo dấu vết trong thống kê Thần tích, thần sắc sẽ thấy rõ hiện tượng này. Tìm hiểu lý do, ta có thể thấy là từ những căn nguyên lịch sử, xã hội chính trị mà qua bộc lộ sự không thích ứng của phái Đạo phù thủy thời bấy giờ. Đây cũng là lý do để nhóm Nội Đạo Tràng (ở Thanh hóa) dần mất đi tầm ảnh hưởng so với nhóm Đạo giáo có thánh chủ là Liễu Hạnh (ở Nam Định) đang dần tăng lên.

Từ các nguồn sử liệu, chúng ta điều biết, khi xảy ra loạn phân tranh của hai tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh trên đất Bắc Việt Nam từ thế kỷ XVI rồi sau đó là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, sự mất ổn định cả về chính trị lẫn kinh tế đã đưa lại vô vàn khó khăn và tạo nên sự mất ổn định cho cuộc sống của người dân, cho từng thân phận. Sự phân hóa và rối loạn trong xã hội với những oan trái, bất công, những gánh nặng của cuộc sống đã vượt ra ngoài sức gánh vác của con người. Trong hoàn cảnh đó giúp họ có thể vượt qua được chính là niềm tin về quyền năng độ thế của các thần thánh hay một lực lượng siêu nhiên nào đó. Lúc này, dù tiếng tăm, pháp thuật “cao tay” của các pháp sư Nội Đạo Tràng cũng chỉ giải quyết được (về mặt tâm linh) các vấn đề bệnh tật, thiên tai, dịch nạn (như Tang thương ngẫu lục đã chép),  còn giải quyết các vấn đề lớn của xã hội thì “nội lực” của họ lại không đạt tới được. Cùng lúc này, trong đời sống tâm linh của người dân, niềm tin về quyền năng của Mẫu Liễu bắt đầu tăng thêm do có thêm sự ủng hộ của Phật giáo (được phản ánh trong truyền thuyết về sự thụ pháp của Phật giáo của Mẫu Liễu Hạnh sau cuộc chiến Sòng Sơn). Theo tinh thần Phật giáo, Mẫu Liễu có thể thấu hiểu nỗi khổ của người dân với tấm lòng Bao dung, độ lượng và nhân từ. Quyền năng của Bà dường như ngang cùng Phật Bà Quan Âm, có thể cứu khổ cứu nạn cho dân. Rõ ràng, để cầu ước cho cuộc sống mới tốt hơn thì một thần tượng văn hóa mới cần được ra đời để đáp ứng điều đó, sự ngưỡng mộ Liễu Hạnh đã phát xuất từ chính mong mỏi này của họ. Đồng thời hình tượng về vị thánh mới này lại rất phù hợp với ước vọng vốn ẩn sâu trong tiềm thức của người Việt về quyền năng vô hạn của các nữ thần. Tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ mẹ vốn có từ trước, đã là một sức mạnh ẩn tàng cho các sáng tạo thần tượng, lúc này có dịp bộc lộ và thực hành trong đời sống tâm linh. Chính vì thế mà ngay từ cuối cuộc chiến Sòng Sơn, dù cho có sự nghiêm khắc của các pháp sư, nhưng Liễu Hạnh vẫn không bị diệt trừ mà lại được Phật Quan Âm cứu giúp, truyền thêm đạo pháp để cứu dân giúp đời và rồi sau đó đền thờ bà mọc lên khắp nơi. Từ sự thất bại của nữ thánh Liễu Hạnh trước các nam thánh Nội Đạo Tràng lại đem đến một chiến thắng mới cho Bà chính vì những điều trên. Liễu Hạnh đã trở thành thánh Mẫu và điều này còn cho thấy sức mạnh tính nữ trong văn hóa tâm linh Việt.

Thêm vào đó, ở điện thờ của Đạo giáo Việt Nam lúc đó còn khuyết một cung như kiểu cung Tây Vương Mẫu trong điện thờ của Đạo giáo Trung Quốc (vốn có nhiều ảnh hưởng tới ququá trình hình thành Đạo giáo Việt Nam). Ở đó vị nữ thánh chủ này có quyền hạn có thể xem như vô biên, tuy đứng sau Ngọc hoàng thượng đế nhưng đôi lúc Tây Vương Mẫu được phép hành xử như một nữ vương cao nhất thế kỷ XVI, sự xuất hiện của Liễu Hạnh và những thử thách mà Bà phải trải qua, thậm chí là việc Bà “tác oai tác quái” ở xứ Thanh cũng có thể được xem như một quãng đời thử thách để Bà có thể thấu hiểu được nổi khổ của những người bị hành hạ. Thử thách cam go nhất và sau cùng là cuộc chiến ở Sòng Sơn. Vượt qua tất cả, thánh Liễu đã trở thành hình tượng mới, cao nhất trong đời sống tâm linh của người Việt, trở thành nữ thánh chủ của một cung quan trọng trong điện thờ Đạo giáo Việt, làm cho nó hoàn chỉnh. Trong thế giới tâm linh Việt, Liễu Hạnh đã như một Vương Mẫu có quyền năng bao trùm toàn cõi nhân gian. Bà cai quản từ núi cao xuống sông sâu và đến các vùng đồng bằng. Bà có thể thấu hiểu mọi cuộc đời và mọi số phận. Bà có các bộ tướng là những ông Hoàng, bà Chúa, các cô, các cậu có diện mạo và hành trạng rất gần gũi với đời thường nhưng lại có phép tiên có thể hỗ trợ Bà cứu giúp nhân gian, từ tìm sinh kế, học hành, làm ăn buôn bán, cầu sự phú quý giàu sang, cho đến xe kết tình duyên, chữa bệnh, hóa giải mọi điều phải trái trong gia đình cũng như ngoài xã hội… Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã chẳng khác gì một Vương Mẫu trong điện thờ Đạo giáo. Bà đã có một quyền năng vượt trội hơn cả Tây Vương Mẫu khi hành trạng của Bà gần gũi với cuộc đời trần thế. Với tứ - tam phủ, Bà đã cai quản tất cả miền thế giới sinh tồn của con người. Chính vì thế cho đến nay, dòng Đạo này đã phát triển và nhanh chóng lan rộng đến vậy.

Thế giới quyền năng của Mẫu Liễu đã cho thấy ưu thế của yếu tố thần tiên trong xu hướng phát triển Đạo giáo Việt Nam từ thế kỷ XVI – XVII trở đi. Nó đã được dung hợp trong một nhóm phái Đạo giáo phù thủy. Sự thích ứng này đã làm cho tín ngưỡng thờ thánh mẫu Liễu Hạnh định hình rồi phát triển và trở thành một dòng Đạo mới. Đó còn là một “tiêu chuẩn” để sau này thánh Mẫu được chọn là một trong tứ bất tử của tín ngưỡng Việt.

 3. Mối quan hệ giữa Mẫu Liễu và Nội Đạo Tràng còn là sự phản chiến đời sống xã hội, đời sống tư tưởng và tình cảm của người Việt thế kỷ XVII. Đó là những xung đột về xã hội - chính trị được phản ánh qua truyền thuyết về cuộc chiến Sòng Sơn giữa các nam thánh Nội Đạo Tràng với nữ thánh Liễu Hạnh, là sự phản kháng của xã hội đối với triều đình bất tài, không thể đem lại cuộc sống yên lành, hạnh phúc cho người dân. Đây cũng là sự phản kháng, sự đã kích tập đoàn thống trị của chúa Trịnh, được thể hiện sự thất bại của viên quan Trịnh Hoàng Thúc do chúa Trịnh cử đi đánh đánh Liễu Hạnh trên đèo Ba Giội (Bỉm Sơn), đã được kể trong bản phả Vân Hương thánh Mẫu, tam vị đại từ tôn của phủ Sòng. Và nếu theo cách nói ngày nay thì cuộc chiến Sòng Sơn hay sự đối kháng giữa các nam pháp sư - tiên nữ Liễu Hạnh và chiến thắng cuối cùng của Bà (được Phật Quan Âm cứu rồi truyền tiếp đạo pháp, được dựng đền thờ, làm một nữ thần ở vị trí tột đỉnh - Thánh Mẫu) cũng là một hình thức đấu tranh cho sự bình đẳng giới trong “lãnh địa” thần quyền. Dường như, dòng đạo này dần trở thành Đạo của những người phụ nữ. Theo họ, nó có thể đem lại quyền lực cho phụ nữ (dù chỉ ở thế giới tinh thần) và số lượng các nữ “tín đồ” của Đạo mẫu ngày một tăng đã nói lên điều đó.

Qua cuộc thánh chiến Sòng Sơn ta còn thấy sự bao dung, độ lượng, sự dung hòa trong văn hóa Việt được thể hiện trong đời sống văn hóa tâm linh. Đó là sự phối thờ mẫu Liễu với Tam thánh của Nội Đạo Tràng ở nhiều điện thờ Mẫu Liễu cũng như trong hậu cung thờ tam thánh của ngôi chùa tổ Nội Đạo Tràng ở Thanh Hóa. Người dân ở đây đã đặt ban thờ Mẫu Liễu  bên trái ban thờ tổ Nội Đạo Tràng trong hậu cung chùa Mậu Xương (Quảng Lưu, Quảng Xương). Cũng với tinh thần trên, trong hệ thống di tích ở Phủ Các (xã Thành Vân, huyện Thạch Thành) có ngôi đền Quan Giám sát đứng đối diện qua suối Cá thần và vuông góc với đền Mẫu chính là nơi thờ Tam thánh của Nội Đạo Tràng, trên ban thờ là ba chiếc ngai và ba pho tượng thánh. Thầy cúng và nhiều người cao tuổi ở Mậu Xương, An Đông (Quảng Xương) kể rằng, ở điện thờ của Phủ Sòng (Bỉm Sơn) một trong ngũ vị tôn ông cũng là thánh của Nội Đạo Tràng, ngài làm quan Giám sát. Tôi không xác định được điều này vì không còn ai nhớ điện thờ của phủ Sòng cũ. Nó bị phá tan từ sau năm 1945, đến 1998 mới bắt đầu được xây lại và điện thờ đã được bố trí giống với ở Phủ dầy. Dù vậy, tôi vẫn tin lời các cụ ở Quảng Xương bởi qua so sánh với điện thờ ở Phố Cát, điện thờ ở Phủ Sòng chắc cũng vậy. Tuy là hai nơi nhưng là một, Phủ Ngoài (Phủ Cát) thuộc hệ thống thờ tự. Cả hai Phủ đều tổ chức cùng ngày hội Mẫu, theo lệ xưa là từ 15 đến 28 tháng Hai (âm lịch) nhưng nay chỉ còn trong các ngày 26 – 28 tháng 2. Hai phủ cách nhau 35km, đều nằm trên trục đường “thiên lý” quan trọng là xứ Thanh, nó nối mạch giao thông và giao thương với đất Bắc cung như với đất Nam. Đồng thời đây cũng là con đường của hành trình Liễu Hạnh vào Thanh Hóa (như Ngọc phả đã thuật về những lần hiển linh của Bà trên đèo Ba Giội, Phố Cát…). Ngoài ra, chúng ta còn có thể đi sâu nghiên cứu thần điện (mở rộng) của hai phủ Sòng Sơn và Phố Cát để thấy những khác biệt, nó đã tạo thêm sự hấp dẫn của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu. Chẳng hạn, Phủ Sòng mang nhiều yếu tố “thủy/thoải” hơn khi được biết thần chủ bản đền là Cô Chín giếng, cùng sự phối thờ với thần biển Đại Càn quốc gia Nam Hải và Bát Hải đại vương (xưa có miếu thờ ở thôn Cẩm La, thành phố Bỉm Sơn). Phủ Cát lại nghiêng về yếu tố “thượng ngàn” hơn vì thần chủ bản đền là bà Chúa Mường (thần Rừng, cũng có miếu thờ riêng ở xã Thành Vân, huyện Thạch Thành). Các tín đồ cứ truyền tin cho nhau rằng, phải đi cả hai nơi mới là hoàn thiện cuộc lễ mặc dù họ vẫn nói với nhau hai nơi này là một. Chính những khác biệt này đã tạo ra sự thu hút để các tín đồ đến với Mẫu Sòng – Phố Cát.

Tóm lại, mối quan hệ giữa Mẫu Liễu với Nội Đạo Tràng và: và cuộc chiến Sòng Sơn” là dấu mốc đầu tiên cho chặng đường thứ hai của quá trình hình thành Đạo Mẫu, bắt đầu từ thế kỷ XVII.

Chú thích

1. Xem theo Bùi Quang Thanh (2004), “Bước đầu khảo sát thực trạng Nội Đạo Tràng vùng Quảng Xương – Thanh Hóa”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.

2. Bùi Quang Thanh, Tlđd…

3. Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án (1972), Tang thương ngẫu lục (Dựa theo bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Giới thiệu và chú thích: Trương Chính), Nxb. Văn học , tr.76.

4. Vũ Ngọc Khánh – Ngô Đức Thịnh (1991) Tứ bất tử,  Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 101 – 106.

5. Theo Vân Hương Thánh Mẫu, tam vị đại từ tôn, tlđd…

6. Theo Thanh Hóa chư thần, Bản chép tay chữ Hán, thư viện Hán Nôm, tờ 78 A-B (Nguyễn Xuân Diện dịch): Liễu hạnh công chúa, Thượng đẳng thần, sinh nhất nữ (khi giáng ở Nam Định).Vào đời Lê Cảnh Trị, được tu sửa điện thờ, được phong là Mã vàng công chúa. Sau có công phù chúa Trịnh dẹp giặc, được phong là Chế thắng Hòa diệu đại vương. Các đền/miếu thờ ở các ấp thôn/làng, xã: Huyện Tống Sơn (Hà trung nay, có một xã): Cổ Khối, Cự, Phùng Thiện, Quy Nhân, Văn Phú, Tích Vĩnh, Ngọc Lâu, Mậu Xuân, Bái Vãi, Nam Sơn, Xa Liễn, và Vạn Tiền; huyện Đông Sơn (ba giáp, ấp): Nam Phố, Đông Lý; Huyện Nông Cống (một xã): Xuân Hòa; huyện Vĩnh Lộc (bốn thôn): Biển Hiệu, Thanh bằng, Đông Trung, và thôn Hưng; Huyện Hậu Lộc (14 làng, xã): Phong mẫu, Phú Thọ, Vũ Xã, Du Xuyên, Xuyết Tân, Lại Xá, Hậu Đại, Hào Môn, Yêm, Hà Vị, Khánh Trạch, Thanh Luyện, Mỹ Điền, và Sơn Châu; huyện Thạch Thành (sáu xã): Phố Cát, Mỹ Tân, Đồng Trang, Ngọc Trạo, Tây Xưới, và Tế Hộ;  huyện Thạch Thành (bốn xã): Phương Bái, huyện Mỹ Hóa (Hoằng Hóa nay, có một xã): Đại Điền.

          Theo thống kê của Viện Viễn Đông bác cổ năm 1938, sau viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản Thần tích, thần sắc,  năm 1996 (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội), tra cứu về tỉnh Nam Định chỉ có 48 đền, miếu thờ Mẫu Liễu. Như vậy, đền, miếu thờ Liễu Hạnh còn ít hơn Thanh Hóa (?). Chắc rằng, con số này không chính xác bởi, năm 1938 không phải các làng xã đều kê khai đầy đủ các thần linh được thờ ở địa phương mình…

Xem thêm bài viết của Nguyễn Xuân Năm: “Di tích thờ mẫu ở Nam Định” (tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy, được tổ chức tại Hà Nội, năm 2001; Tài liệu của viện nghiên Cứu văn hóa dân gian,..). Lúc này, tác giả có thống kê là: Nam Định có 280 đền, miếu thờ Mẫu Liễu.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với Đạo Giáo, Nxb. Văn học, Hà Nội.

2. Phạm Đình Hổ (1972),  Tang thương ngẫu lục, bản dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội.

3. Vũ Ngọc Khánh - Ngô Đức Thịnh (1991), Tứ bất tử, Nxb. Văn học, Hà Nội.

4. Phạm Quỳnh Phương (2002), “Di tích đền Phố Cát” trong Thông báo văn hóa dân gian 2001, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.

5. Bùi Quang Thanh (2004), “Bước đầu khảo sát Nội Đạo Tràng vùng Quản Xương - Thanh Hóa”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật,  Hà Nội.

6. Ngô Đức Thịnh (1996), Đạo Mẫu, tập I, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

7. Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2001), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

8. Tạ Chí Trường (2006), Thần, người và đất Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

9. Thanh Hóa chư thần, tài liệu chữ Hán (bản chép tay), ký hiệu VHv.1290, Thư viện Việt Hán Nôm, Hà Nội.

10. Viện Thông tin khoa học xã hội (1996), Thần tích, thần sắc, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Cập nhật ( 18/07/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online