Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Lễ Hộ quốc an dân (Nguyễn Đại Đồng)
Lễ Hộ quốc an dân (Nguyễn Đại Đồng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/07/2010

LỄ HỘ QUỐC AN DÂN

* Nguyễn Đại Đồng

Lễ Hộ quốc gốc tích từ đâu và có từ bao giờ?

Theo chỗ chúng tôi biết, lễ hộ quốc đã có hơn ngàn năm nay. Hồi đó rất thịnh hành ở Ấn Độ. Các nhà tu hành thường thiết lập để cầu nguyện cho quốc gia. Nghi thức lễ này do tụng kinh “Hộ quốc Bát nhã ba la mật đa”, gọi tắt là kinh Hộ Quốc, nhà in Đuốc tuệ Giáo Hội Tăng già Bắc Việt xuất bản năm 1952 với tên kinh Nhân Vương Hộ Quốc (Phẩm Hộ Quốc, Kinh Phật dạy cầu hòa bình).

Trước hết kinh Hộ Quốc do đức Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) 1 đem từ Ấn Độ vào Trung Hoa; dịch từ Phạn văn ra Hán văn.

Hồi Nam Bắc Triều, thế kỷ thứ 5, vua Minh Đế nhà Nam tề, vua Hiến Minh nhà Bắc Ngụy đã nhiều lần thiết lập lễ Hộ Quốc.

Đến thế kỷ thứ 8 triều vua Đại Tông nhà Đường, ngài Tam Tạng Bất Không đem diễn dịch lại, thì kinh Hộ Quốc mới phổ thông truyền bá.

Từ đời nhà Đường về sau, sử sách ghi chép về ngày quốc độ rất nhiều, không kể xiết.

Lễ hộ Quốc ở Việt Nam thời phong kiến:

Nước ta tuy đã được ân trạch của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni gần 2000 năm nay, nhưng mãi đến triều Lý mới thấy chép rõ ngày Hộ quốc được tổ chức long trọng. Đại Việt sử ký toàn thư chép 2:

Bính Thìn, Thái Ninh năm thứ 5 (1076), mùa xuân tháng 3, Tống sai Quảng Nam Tuyên vũ sứ Quách Quỳ làm Chiêu thảo sử, Triệu Tiết làm phó đem quân hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp xâm lược nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt dẫn quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt (sông Cầu) thắng lớn.

Đầu tháng 2 năm Đinh Tỵ (1077), niên đại Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 2 Quách Quỳ chấp nhận đề nghị hòa đàm của Lý Thường Kiệt và rút quân. Ngay sau đó, Lý Nhân Tông ra lệnh thiết lập một lễ lớn ở ngay điện Thiên An gọi là Hộ Quốc hội hay hội Nhân Vương. Hội tụng kinh Nhân Vương để cầu trừ tai nạn cho nhà nước.

Hơn 70 năm sau, vào mùa Hạ tháng tư năm Kỷ Tỵ (1149), Đại Định năm thứ 10, vua Lý Anh Tông mở hội Nhân Vương ở trước sân rồng Long Trì ra lệnh đại xá người có tội.

Sách sử từ thời Lê trở đi không thấy chép về lễ này nữa, phải chăng lúc đó Nho giáo đã lấn át Phật giáo nên triều đình không tổ chức lễ Hộ quốc?

Như vậy, lễ Hộ quốc thời phong kiến ở nước ta do triều đình tổ chức với nội dung tụng kinh Nhân Vương cầu trừ tai nạn cho quốc gia, đại xá tội nhân cả nước.

Lễ Hộ quốc ở Việt Nam thời dân chủ cộng hòa:

Cách mạng tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á đã mở vận hội mới cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, không đầy một tháng sau ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của quân Anh đã tiến đánh Nam Bộ. Nhà nước cách mạng non trẻ đứng trước tình cảnh thù trong giặc ngoài hết sức cam go. Phật giáo đã có những hoạt động tích cực ủng hộ chính quyền cách mạng.

Tháng 11 năm 1945, đại biểu Tăng già các tỉnh Bắc Bộ cùng đại biểu 3 hội: Phật giáo Cứu quốc, một Ủy ban chấp hành TGPG Việt Nam. (24) Ủy ban có nhiệm vụ liên hiệp hết thảy các sơn môn, các hội Phật cùng chung chủ nghĩa “Từ bi cứu khổ” của Đức Phật Thích Ca để thực hiện việc:

1. Hoằng dương Phật pháp và phụng sự Tổ quốc;

2. Cứu khổ cứu nạn.

Danh sách các vị trong Ủy ban:

Chánh Chủ tịch: Thích Mật Ứng, chùa Quảng Bá, Hà Nội; Phó Chủ tịch: Tố Liên, chùa  Quán Sứ,  Hà Nội;

Thư ký: Mật Chiếu, chùa  Phổ Giác, Hà Nội;

Tài chính: Thanh Phước, chùa Dư Hàng, Hải Phòng;

Giám sát: Thái Hòa, chùa Hương Hải, Hải Dương; Thanh Kinh, chùa  Hương Sơn, Hà Đông;

Trưởng ban Nội, Ngoại vụ: sư ông Vĩnh Quang, chùa  Phổ Giác,  Hà Nội;

Phó ban Nội, Ngoại vụ: sư ông Vĩnh Quang, chùa  Phổ Giác, Hà Nội;

Phó ban Nội, Ngoại vụ: sư ông Tâm Chính, chùa  Quán Sứ;

Cư sĩ tham dự: Văn Quang Thùy, Lê Ngọc Tiến.

trụ sở Ủy ban đặt tại chùa Quán Sứ. 73 phố Quán Sứ, Hà Nội.

Ngày 6.11, Ủy ban TGPG Việt Nam đề nghị các Phật tử và những người thờ Phật lập bàn thờ ở nhà hoặc đến chùa lễ Phật để cầu nguyện cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc. Đúng 8 giờ sáng tất cả các chùa khu vực Hà Nội đều thỉnh chuông trong 15 phút.

Ngày 14.8 (16.7 âm lịch). 1946 tại chùa Sùng Nghiêm (Nưa) huyện Phúc Thọ, Sơn Tây tổ chức lễ cầu nguyện cho Hồ Chủ Tịch và phái đoàn Việt Nam đi dự cuộc đàm phán tại phongtennơblô bên Pháp được dũng mãnh tinh tiến, mọi sự thắng lợi. Toàn thể các giới trong hạt Phúc Thọ tới dự lễ và nghị quyết:

Triệt để ủng hộ Hồ Chủ Tịch và phái đoàn Việt Nam

Tuyệt đối vâng theo mệnh lệnh của chính phủ.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Tinh thần Phật giáo muôn năm!

Hồ Chủ Tịch muôn năm!

Đó là nguyên ủy và tôn chỉ đại lễ ngày hôm nay, Phật giáo Nam Định chúng tôi thiển nghĩ ngày 2/9/1945 ngày kỷ niệm độc lập của Tổ quốc, là ngày đã đánh dấu nước nhà đi vào con đường mới.

Thể theo di chúc của Phật và trước tinh thần hiện thời ngày kỷ niệm độc lập năm nay chúng tôi có tổ chức 3 ngày lễ Hộ quốc, kể từ ngày 31/8 cho đến hết ngày 2/9/1946. Bây giờ đây là buổi khai lễ, sau đó đại chúng sẽ lên đàn tụng kinh, đàn ấy sẽ tiếp tục trong ba ngày để cầu nguyện cho tổ quốc và sẽ chấm hết bằng cuộc mua quà bánh vào thăm anh em binh sĩ bị nạn cùng lập đàn phóng sinh, lên đàn bố thí để giúp đỡ cho một số anh em đồng bào đói khát.

Chúng tôi thiết nghĩ: đức Phật có nói: “nhất thiết duy tâm tạo”, đạo Nho cũng nói: “Thiên lý tại nhân tâm”, thì phàm ở đời việc gì cũng vậy, thành hay bại, mất hay còn, cũng là do lòng người mà ra cả. Sự cầu nguyện về tin tưởng về tín đồ của Phật giáo cũng thế, sự cầu nguyện ấy nếu chúng ta biết làm một cách chân thành, thì đó chính là một sức mạnh không thể tưởng tượng ở ngoài giúp chúng ta nỗ lực tinh tiến để đạt lấy kết quả trong các công trình khó khăn.

Tin tưởng sự cầu nguyện đó cũng là tự tin ở ta, nghĩa là chúng ta tự làm lấy đạt lấy kết quả sau một ý nguyện đã được tự phô bày biểu lộ thành kính tự đáy lòng.

Hơn nữa, Phật tổ là đấng phúc trí vẹn toàn, tự bi lượng cả tất nhiến thế nào.

Ngài cũng thấu tới tâm thành của chúng ta mà hộ trì chúng ta, an ủi chúng ta. Chính Ngài đã khuyên răn và kích thích chúng ta bừng những lời vàng, hiện còn ghi đầy trong các kinh điển.

Đó chính là Phật đã ủng hộ chúng ta, đưa kết quả tốt đẹp lại cho chúng ta vậy.

Chúng tôi, xin theo gương dĩ vãng cầu nguyện cho Tổ Quốc. Đứng trước Phật đài, chúng tôi xin thành thực kính dâng mấy điều cầu nguyện:

1. Cầu nguyện cho Tổ quốc được hoàn toàn độc lập.

2. Cầu nguyện cho chính phủ luôn luôn tinh tiến và sáng suốt để lãnh đạo quần chúng.

3. Cầu nguyện cho quốc dân đồng bào cùng ai nấy nhận thấy bổn phận và trách nhiệm của mình trong lúc này để cùng tiến tới mục đích chung là dành lấy độc lập hoàn toàn.

4. Cầu nguyện cho quốc dân đồng bào thoát được những tai nạn xâm lăng, dịch lệ, đói kém, tiến tới đường vinh quang hạnh phúc.

Trước khi bắt đầu buổi lễ, xin quốc dân đồng bào cùng chúng tôi tung hô muôn năm các khẩu hiệu:

1. Việt Nam hoàn toàn Độc lập muôn năm!

2. Thế giới hòa bình muôn năm!

3. Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1946, nhân kỷ niệm Ngày Độc lập, CHPG Nam Định tổ chức 3 ngày lễ Hộ Quốc tại chùa Hội Quán. Chúc từ của Hội do sư Như Như trụ trì chùa Hội Quán Phật giáo lúc này.

1 Ngài Cưu Ma La Thập tên đầy đủ là Cưu Ma La Thập Bà, gọi tắt là La Thập, Trung Quốc dịch là Đông Thọ, người nước Thiên Trúc, sống vào khoảng 344 - 413. Ngài bi Lã Quang tướng nước Tần bắt khi mang quân đánh nước Quy Tư, đưa về Lương Châu. Về sau, vua Hậu Tần là Diêu Hưng sang đánh Lương Châu, Ngài được đưa về Trường An, Diêu Hưng đón tiếp theo lễ Quốc sư, mời sư vào ở gác Tây Minh và vườn Tiêu Dao để dịch kinh sách Phật. Ngài dịch được hơn 380 quyển.

2  Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản lần thứ 2, năm 2004.

 

Cập nhật ( 18/07/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online