Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Soan gia Trinh Thien Tu (Tran Phuoc Thuan)
Soan gia Trinh Thien Tu (Tran Phuoc Thuan) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
20/07/2010

SOẠN GIẢ TRỊNH THIÊN TƯ

* Trần Phước Thuận

          Thuở nhỏ mang tên Thoại Phát sau đổi Thiên Tư, tên thường dùng là Giáo Chín. Ông sinh năm Bính Ngọ (1906) tại thôn Láng Giài (nay là ấp Láng Giài xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu), lớn lên sống ở nhiều nơi nhưng đến khi tuổi già ông lại  trở về quê hương và từ giã cõi đời cũng ở đây vào ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Tuất (11/09/1982), được thân nhân an táng tại nơi chôn nhau cắt rún. Lúc sinh thời ông vốn là một thầy giáo giỏi, một họa sĩ có tài, cũng vừa là một nhạc sĩ, một soạn giả nổi tiếng, ông còn biên soạn một số tác phẩm quan trọng về ngôn ngữ và cổ nhạc Việt Nam. Có thể nói Trịnh Thiên Tư  là một nhà nghiên cứu có tầm cỡ ở Bạc Liêu trong tiền bán thế kỷ XX.

          Cha của ông tên Trịnh Công Như, nguyên là chánh bái của đình Láng Giài (lúc đó còn có tên là đình Bình Lãng) một người có hiểu biết khá rộng về Nho học, mẹ là bà Lê Thị Thử, em ruột của Nhạc Khị - một bậc kỳ tài về cổ nhạc ở Bạc Liêu.  Bởi có điều kiện thuận tiện như thế nên ngay từ lúc thiếu thời Trịnh Thiên Tư đã sớm thụ đắc những căn bản về Nho học và cổ nhạc của cha và cậu, ngoài ra ông còn được đến trường để học tiếng Pháp.

 

         Hiện nay cũng chưa rõ ông học đến đâu, nhưng theo lời kể của những người lớn tuổi ở Láng Giài thì Trịnh Thiên Tư nói tiếng Pháp rất giỏi, ông chính thức dạy học từ năm hai mươi tuổi (1926). Ông dạy học nhiều nơi trong tỉnh Bạc Liêu, nhưng dạy lâu nhất ở trường Tiểu học Nam Tỉnh Lỵ Bạc Liêu. Năm 1961, ông được trở về quê nhà làm Hiệu trưởng trường Tiểu học Hòa Bình (cách thị xã Bạc Liêu 12km) cho đến lúc về hưu năm 1966.

          Trong những thập niên 40 - 50 trở về trước sách giáo khoa rất hiếm, nhất là loại sách về chính tả và ngữ pháp, các thầy giáo khi dạy học đa số đều tùy theo thiên kiến của mình cho nên có nhiều chỗ bất nhất; vì vậy ông đã cố gắng biên soạn một tác phẩm mang tên Định luật và Thông lệ Chính  tả - Văn phạm, một quyển sách sư phạm khá quan trọng, đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu giảng dạy lúc bấy giờ. Vợ của ông là bà Nguyễn Thị Xựng quê ở Tầm Vu (Sóc Trăng) - một phụ nữ rất đảm đang, có thể nói là một trợ thủ đắc lực của ông trong mọi hoàn cảnh, bà đã lo từ việc trong đến việc ngoài để ông an tâm dạy học và sáng tác.

          Tuy là một thầy giáo nhưng Trịnh Thiên Tư  rất say mê cổ nhạc, ông đã bỏ ra nhiều thì giờ để học tập cộng với sự dạy bảo tận tình của Nhạc Khị nên chẳng bao lâu ông đã trở nên một nhạc sĩ nổi tiếng ở Bạc Liêu; có điều ông học nhạc không phải chỉ với mục đích ca hay đờn giỏi mà còn phải am hiểu tường tận về nhạc lý, về cấu trúc điệu thức của bộ môn nghệ thuật truyền thống này, phải viết thành văn bản để làm tài tiệu nghiên cứu và giảng dạy cổ nhạc. Bởi nghĩ thế nên ông cố công học tập, sưu tầm và biên soạn; cuối cùng cũng hoàn thành được một tác phẩm lớn mang tên Ca nhạc cổ điển (1). Đây là tác phẩm đầu tiên trình bày một số lớn  bài bản cổ nhạc Nam bộ và ghi chép khá đầy đủ các bản mới sáng tác của các nhạc sĩ Bạc Liêu; trong đó còn chỉ rõ cách ghi dấu nhạc bằng chữ Latin - một phát kiến rất quan trọng của Trịnh Thiên Tư. Theo cách này thì dấu nhạc Là tương ứng với (À), Tồn với (Ờ), Hò với (O), Xự với (Ư), Xang với (A), Xê với (Ê), Cống với (Ô), Liu với (I),Ú với (U) , Phan với (Ă) và Oan với (N). Mỗi nguyên âm đều có dấu thanh (sắc, huyền, nặng, hỏi hoặc không dấu) để chỉ rõ giọng trầm bổng. Nếu các chữ nhạc cùng tên nhưng khác bậc với nhau sẽ dùng các ký hiệu chữ xiên, chữ thường, chữ đậm để minh họa, ví du : chữ Xang bậc thấp là “ a ” , Xang bậc trung là “ a “ và Xang bậc cao là “ a “. Dấu  =  là nhịp ngoại và dấu ( -) là nhịp song lang ngoại. Chữ hòa lớn như A, B… là nhịp nội và chữ hòa lớn trong ngoặc đơn như (A) , (B)… là nhịp song lang. Ngoài ra còn nhiều ký hiệu khác để cấu kết thành một bản nhạc. Đối với bản Vọng cổ, Trịnh Thiên Tư còn nêu ra cách đặt lời ca và cách sử dụng nhạc bản. (Sách này hoàn thành rất sớm nhưng mãi đến năm 1962 mới có điều kiện xuất bản, hiện nay còn được lưu trữ tại Thư viện Bạc Liêu).

          Đối với Nhạc Khị thì các môn sinh đều phải sáng tác bài bản mới, Trịnh Thiên Tư cũng không ngoại lệ, ông đã theo bước các bậc đờn anh là Sáu Lầu, Ba Chột… tiếp tục cho ra đời năm nhạc phẩm, đặc biệt là năm bản này có cả nhạc lẫn lời, gồm : Hận tình (1928), Đông mai (1929), Thu cúc (1929), Xuân lan (1930) và Hạ liên (1930). Tiếp theo ông đã sáng tác một loạt lời ca cho các nhạc bản truyền thống và các nhạc bản mới sáng tác của thầy và các nhạc sĩ đồng môn của ông, số lượng tác phẩm loại này rất lớn, có đến vài trăm bài đa số là những bài ca lịch sử rất hay, điển hình như : Thỉ tổ Hồng Bàng (Lưu thủy trường), Thục An Dương Vương (Phú lục), Nhà Triệu nước Nam (Bình bán chấn), Hai Bà Trưng (Xuân tình), Tiền Lý Nam Đế (Tây thi), Hậu Lý Nam Đế (Cổ bản), Đinh Tiên Hoàng (Xàng xê), Họ Khúc dấy nghiệp (Ngũ đối thượng), Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng (Ngũ đối hạ), Nhà Tiền Lê (Long đăng và Long ngâm), Nhà Lý (Vạn giá), Nhà Trần (Tiểu khúc), Lê Lợi khởi nghĩa (Nam xuân), Huyền Trân công chúa (Nam ai), Triệu Ẩu khởi nghĩa (Đảo ngũ cung),  Các vua chống thực dân (Ngự giá đăng lâu), Phan Đình Phùng (Ái tử kê), Sầu chinh phụ  (Hoài tình), Chinh phu thán (Liêu giang), Dặn dò đệ tử (Phước châu) Tiếng chuông tảo mộ (Hứng trung thinh) … Ngoài ra ông còn sáng tác 4 kịch bản cải lương cho các đoàn cải lương Nam bộ, đó là các vở : Sĩ Long bội ước, Tiếng súng bên mồ, Miền sơn cước, Cô Kim Xuyến.

       Như vậy Trịnh Thiên Tư  đã có những đóng góp rất tích cực vào phong trào đờn ca tài tử ở Bạc Liêu và nền cổ nhạc Nam bộ, nhưng có lẽ công lao lớn nhất của ông không phải là những sáng tác đó, mà chính là việc đề xướng và thực hiện chuyển đổi bản Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 sang nhịp 4. Đối với việc làm nầy có người nói do ông Tư Chơi cũng có người nói do ông Mộng Vân… nhưng không có ai đưa ra bằng chứng cụ thể nào; thực ra chính Trịnh Thiên Tư mới là người đầu tiên đã thực hiện việc làm tốt đẹp này, ông đã hoàn thành bản Dạ cổ hoài lang nhịp 4 sau khi bản Dạ cổ hoài lang nhịp 2 (của nhạc sĩ Cao Văn Lầu) ra đời khoảng vài năm; với bản nhạc mới này ông đã được thầy và các bạn học hoan nghinh nhiệt liệt, sau đó được sử dụng rộng rãi trên sân khấu cải lương Nam bộ. Nhạc bản nhịp 4 của Trịnh Thiên Tư sau đó đã được nhiều soạn giả đặt lời ca để phục vụ đờn ca tài tử hoặc trong các kịch bản cải lương, Tư Chơi và Mông Vân là hai người đầu tiên đã thực hiện việc biên soạn này, vì vậy có một số người lầm tưởng hai ông là người đầu tiên chuyển đổi bản Dạ cổ hoài lang sang nhịp 4, thật ra việc biên soạn lời ca cho một bản có sẵn và việc chuyển đổi cấu trúc của một bản nhạc nào đó là hai việc làm khác nhau. Năm Nghĩa cũng đã căn cứ vào bản nhịp 4 để chế tác thành nhịp 8 với bài ca nổi tiếng Văng vẳng tiếng chuông chùa (sau khi vô dĩa đã đổi thành Vì tiền lỗi đạo). Bản nhịp 4 này (có cả chữ nhạc) đã in trong sách Ca nhạc cổ điển và hiện còn tồn tại đến nay.

          Trịnh Thiên Tư còn là người đầu tiên đề xuất các bản Dạ cổ hoài lang đã được mở sang nhịp 4, nhịp 8 nên mang tên Vọng cổ, trong lễ giổ tổ cổ nhạc ngày 12 tháng 8 năm Ất Hợi (1935) tổ chức tại Bạc Liêu ông đã công bố lời đề nghị này và đã được sự tán thành cũa nhạc sĩ Cao Văn Lầu va đa số nghệ sĩ hiện diện. Kể từ đó đến nay cái tên Vọng cổ được mọi người dùng để gọi các bản biến thể của Dạ cổ hoài lang nhịp 2 sang nhịp 4, 8, 16, 32, và 64. (Vì vậy, bản Dạ cổ hoài lang nhịp 4 in trong sách Ca nhạc cổ điển từ trang 177 đến 179 được tác giả mạnh dạn ghi tên là Vọng cổ nguyên thủy, ông Cao Văn Lầu đã đồng ý với tên gọi đó và đã viết lới giới thiệu cho sách này).

          Năm 1958, Trịnh Thiên Tư lập đoàn ảo thuật Đại Nam đi lưu diễn khắp nơi, ông vốn là một ảo thuật gia có tài lại giỏi về tổ chức và quảng cáo nên đoàn đi đến đâu cũng được doanh thu cao; nhưng có lẽ cái nghề rày đây mai đó không thích hợp với một thầy giáo như ông, nên chỉ đến năm 1960 ông đã giải tán đoàn hát về sống ở Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Tại đây ông đã sống với nghề họa và điêu khắc, nhất là những tranh tượng mỹ thuật trang trí cho các đoàn hát thì ông làm rất khéo. Một thời gian sau, ông lại mở thêm một xưởng gạch bông mang tên Thiên Tư; đây là một xưởng gạch nhỏ nhưng cũng khá có uy tín lúc bấy giờ. Trịnh Thiên Tư có hai người con là Trịnh Thiên Tài và Trịnh Kim Hoàn, nhưng chỉ có Thiên Tài là thừa kế được sự  nghiệp nghệ thuật của ông, anh đã trở thành một nghệ si điêu khăc và trang trí sân khấu rất giỏi. Thấy con trai có đủ khả năng gánh vác trọng trách gia đình, nên đầu năm 1980 ông đã giao toàn bộ sản nghiệp cho con để trở về sống ở Cầu Số 2 (xã Vĩnh Mỹ, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu ; chỉ cach Láng Giài độ 5 cây số).

          Thực ra, không phải ông muốn tìm nơi an dưỡng tuổi già mà là muốn có một nơi thanh tịnh để viết lại toàn bộ sở đắc của mình về cổ nhạc, nên từ lúc về đây ông đã khởi sự biên soạn quyển Cổ nhạc Việt Nam. Theo lời ông Trần Hưng Cơ (cháu gọi Trịnh Thiên Tư bằng cậu) thì bộ sách được hình thành vào khoảng năm 1983, bản thảo là một tập giấy đánh máy dày độ 1.000 trang (hiện nay do Trịnh Thiên Tài cất giữ) trong đó chia ra rất nhiều chương mục nói về mọi vấn đề của cổ nhạc Việt Nam. Tiếc thay sách chưa được in thì tác giả đã từ giã cõi đời, mang theo bao niềm ao ước về bên kia thế giới. Cũng theo lời ông Cơ thì trước khi chết Trịnh Thiên Tư đã để lại di chúc, trong đó ngoài những điều dặn bảo con cháu trong phạm vi gia tộc, ông còn nhấn mạnh một điều, đó là “…nên tạo mọi điều kiện để quyển Cổ nhạc Việt  Nam được xuất bản”. Soạn giả Trịnh Thiên Tư quả là một con người kỳ tài – một nhà văn hóa lớn ở Bạc Liêu - có khả năng ở nhiều phương diện. Không những ông là người đặt tên cho bản Vọng cổ, cũng là người đầu tiên chuyển đổi bản Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 sang nhịp 4 – mở đầu cho sự phát triển bản Vọng cổ. Ngoài ra ông còn biên soạn hàng trăm tác phẩm nghệ thuật khác, trong đó có những công trình nghiên cứu rất cần thiết cho nền cổ nhạc Việt Nam.

 

Chú thích :

(1) Ca nhạc cổ điển: Tác phẩm này đã được tác giả khởi thảo từ những năm 50, nhưng đến năm 1962 mới xuất bản được. Nội dung sách chia làm bảy phần :

* Phần I (trang 3 – 9) : Phần mở đầu.

- Lời giới thiệu của ông Cao Văn Lầu

- Chân dung ông Cao Văn Lầu

- Lời nói đầu

* Phần II (trang 10 – 25) : Trần Thuyết. Phần này gồm nhiều mục nhỏ :              - Chữ nhạc

- Cách thử dây đờn

                        - Cách lên dây đờn

                        - Âm điệu của nhạc loại

                        - So sánh phím nhạc và chữ nhạc khác nhau trong mỗi cách lên dây

                        - Nhận xét sơ lược về căn bản và mạch lạc các bản Bắc và Nam

                        - Những ký hiệu trong bản nhạc

* Phần III (trang 26 – 53) : Sáu bản Bắc, gồm : Lưu thủy, Phú lục, Bình bán, Xuân tình, Tây thi, Cổ bản.

* Phần IV (trang 54 – 95) : Bảy bản Bắc lớn, gồm : Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá, Xàng xê. 

* Phần V : Ba bản nam (trang 96 – 121): Nam ai, Nam xuân, Đảo ngũ cung.

* Phần VI (trang 122 – 126) : Luận về nhạc ký cổ điển mới sáng chế.

* Phần VII (trang 127 – 163) : Bốn bản Oán : Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang nam, Phụng cầu.

* Phần VIII (trang 164 – 176) : Hai bản Oán cận đại : Văn thiên tường, Trường tương tư.

* Phần IX (trang 177 – 234) : Bài ca Vọng cổ :

                        - Bài Vọng cổ lịch sử (dạ cổ hoài lang nhịp 4)

                        - Cách đặt lời ca Vọng cổ

                        - Giải thích lời ca Vọng cổ

            - Cách sử dụng bản nhạc Vọng cổ (các loại Vọng cổ nhịp 32, nhịp 64)

* Phần X (trang 235 – 2640)           : Nhạc cổ điển cải tiến

* Phần XI (trang 265 – 354)            : Cổ nhạc canh tân, gồm 41 bản vắn.

* Phần XII (trang 355 – 356)           : Cách soạn lời ca

* Phần XIII (trang 357 – 362)          : Mục lục

 

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !