Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow TÌM HIỂU VỀ Ý NGHĨA VU LAN BỒN (Thích Nữ Diệu Thuận)
TÌM HIỂU VỀ Ý NGHĨA VU LAN BỒN (Thích Nữ Diệu Thuận) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
13/08/2008

TÌM HIỂU VỀ Ý NGHĨA VU LAN BỒN

Mỗi năm tháng 7 về, lại nhắc chúng ta nhớ đến Lễ Vu Lan, nhớ đến Mùa Báo Hiếu.  Từ câu chuyện cứu Mẹ của Ngài Mục Kiền Liên mà Phật Giáo có truyền thống báo hiếu đối với Ông Bà, Cha Mẹ, Tổ Tiên….Những người con, nhất là những người Phật Tử nhớ đến công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và muốn làm cái gì tốt đẹp đễ bày tỏ một phần lòng biết ơn của mình dành các đấng sinh thành. Nói vậy không có nghĩa là phải đợi tới Mùa Vu Lan tháng 7 chúng ta mới nhớ đến  công ơn cha mẹ mà sự nhớ ơn đó luôn ở trong ta không giới hạn thời gian. Vu Lan chỉ là một thời điểm chung để chúng ta cùng nhắc nhở nhau về ý nghĩa cao đẹp của sự biết ơn và bày tỏ lòng biết ơn đó.

Theo truyền sử Trung quốc để lại thì Thượng Nguơn Thắng Hội (Rằm tháng Giêng) là ngày Vua Nghiêu thay Trời ban phước lành cho nhân sanh (Thiên Quan Tứ Phước); Trung Nguơn Thắng Hội (Rằm tháng Bảy) là ngày Vua Thuấn thay Trời xá tội cho các vong hồn nơi Ðịa phủ (Ðịa Quan xá tội) và sau cùng là Hạ Nguơn Thắng Hội (Rằm tháng Mười) là ngày Vua Hạ Võ thay Trời giải bớt tai ách cho nhân sanh (Thủy Quan Giải ách).

Trước hết, căn cứ trên niên lịch thì mỗi năm có Tam Nguơn Tứ Quý là :

THƯỢNG NGUƠN:  Rằm tháng Giêng .

TRUNG NGUƠN: Rằm tháng Bảy .

HẠ NGUƠN: Rằm tháng Mười.

Và 4 mùa là : Xuân, Hạ, Thu, Ðông .

Trong đó, Rằm Trung Nguơn ở khoảng giữa năm, vượt qua tiết Hạ chí cực dương nóng bức để đi lần vào khí âm nhu mát mẻ đến Ðông chí cực lạnh. Trước khi thời tiết giao hòa như vậy, là thời kỳ thuận lợi cho mọi sự tiếp xúc triển khai hoạt động, cả về sinh hoạt đồng áng cũng như sinh hoạt tinh thần, như giao cảm với tinh thần vũ trụ hay với các đẳng linh hồn ngoài thế giới v.v... Ðó là truyền thống tín ngưỡng từ xưa của đồng bào ta theo quan niệm phong hòa võ thuận, rất phù hợp với mọi cuộc sinh hoạt cả hai mặt tâm linh cũng như vật chất. Hơn nữa, dựa trên ý niệm Tam Nguơn Tứ quý nói trên thì ngày Rằm tháng Bảy hôm nay còn được gọi là Trung Nguơn  Ðịa Quan xá tội nữa.

Bỡi vì, theo sử liệu thì Ðịa Quan Xá Tội là từ ngữ tôn vinh một Ðấng Thánh Quân đại hiếu thời Thượng cổ là Vua Thuấn mà ngày Rằm tháng Bảy là ngày  sinh của Ngài. Ðặc biệt nhất là lòng chí hiếu với Cha mẹ của Vua Thuấn đã cảm động đến lòng Trời. Về sau, vì cảm kích lòng hiếu hạnh quá lớn lao ấy mà sử sách mới tôn vinh Vua Thuấn là " Ðiạ Quan Tội".  Ấy là hàm ý vọng cầu nơi Ngài dùng cái đức cao cả sánh cùng Trời Ðất đó, hiệp sức với hiếu thảo của chứng nhân cùng phát huy nguyện lực cầu rổi tiên linh quá vãng còn đương đọa lạc trầm luân chóng được siêu thăng tịnh độ .

Rằm Trung Nguơn lại còn là ngày lễ Vu Lan Bồn theo quan niệm của Phật giáo. Lễ Vu Lan chính thức được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật Giáo Đại Thừa "Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn", do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, tức khoảng năm 750-801 sau Công Nguyên và được truyền từ Trung Hoa vào Việt Nam, không rõ từ năm nào.

Kinh Vu Lan kể rằng: sau khi đắc quả A La Hán, Bồ Tát Mục Kiền Liên muốn độ mẹ là bà Thanh Ðề, bèn dùng thần thông kiếm tìm mẫu thân, thì thấy bà đang ở cõi ngạ quỷ vô cùng đói khổ. Ngài đem cơm đến dâng mẹ, nhưng mẹ ngài vừa đưa tay bốc cơm thì cơm biến thành than hồng, nên không ăn được.  Ngài vô cùng thương xót mà không biết làm sao cứu, bèn trở về thưa với Phật, xin ngài từ bi chỉ dạy phương pháp cứu độ mẹ.  Phật dạy rằng vào ngày trăng tròn tháng bảy, tức là ngày lễ Tự Tứ của chư Tăng, sau ba tháng an cư kết hạ thanh tịnh, hãy sắm lễ vật và thỉnh chúng Tăng để cúng dường, nhờ sự cầu nguyện của chúng Tăng thì mẹ Ngài sẽ được cứu thoát.  Ngài Mục Kiền Liên tuân theo lời Phật dạy, và mẹ ngài, bà Thanh Ðề đã được sanh về cõi trời.

Chữ Vu Lan, vốn phiên âm từ tiếng Sanscrit Ullambana, Hán dịch là giải đảo huyền, có nghĩa là "cứu nạn treo ngược". Giải có nghĩa là gỡ ra cho khỏi vướng mắc, cởi trói buộc, giải mê lầm.  Ðảo là ngược, cũng có nghĩa bóng là những hành động điên đảo gây nên do sự thấy biết sai lầm, như việc phải cho là quấy và việc quấy cho là phải; do đó tạo nghiệp dẫn đến cảnh khổ.   Huyền là treo.  Ðảo huyền là treo ngược, đầu trở xuống đất, chân đưa lên trời.  Hợp từ "giải đảo huyền" nghĩa là cởi trói cho người bị treo ngược, gỡ cho họ khỏi gông cùm xiềng xích, khỏi khổ đau ách nạn.  Sâu xa, giải đảo huyền còn có nghĩa là giải thoát khỏi tất cả những mối phiền não, những dây luyến ái đã từng trói buộc cái tâm đi luân hồi, giải thoát khỏi sự trói buộc cuả tâm tham, tâm sân và tâm si.

Hình ảnh bà Thanh Ðề chụp ngay bát cơm khi ngài Mục Kiền liên dâng lên, nói lên cái tâm mê muội tham lam của con người và hình ảnh khi bà vừa đưa tay bốc cơm thì cơm hoá thành than hồng cháy đỏ, bụng đói mà không sao ăn được, nói lên cảnh giới địa ngục. Thật ra ba cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh hay còn gọi là tam ác đạo, có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong con người chúng ta.  Bất cứ lúc nào chúng ta nổi giận là lửa địa ngục sân hận bừng cháy.  Bất cứ khi nào chúng ta thèm khát vật dục, chúng ta trở thành loài thú chạy theo dục tình.   Địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh là những nơi thọ quả báo của những chúng sanh tạo nhân tham lam, sân hận và si mê. Mỗi người trong chúng ta đều có thể, ít hoặc nhiều bị ba thứ độc hại này khống chế và sai sử, thường sống trong những toan tính tranh danh đoạt lợi, buông mình theo thất tình lục dục, tâm trí chìm đắm   trong những nỗi buồn vui lo sợ, ăn không ngon, ngủ không yên, nhiều khi sống như sống trong ác mộng; tự biến cuộc đời thành địa ngục, triền miên phiền não đau khổ.  Ðó là nguyên nhân dẫn đi luân hồi trong ba đường ác.

Kinh nói rằng Bồ Tát Mục Kiền Liên đắc quả vị A La Hán, đạt được tâm bất sinh, nên nghĩ đến sự báo đền ân đức cha mẹ.  Chúng ta cũng cần nhớ rằng kinh Phật thường có vô lượng nghĩa, để khế hợp với vô lượng tâm chúng sanh.  Ðức Phật đại từ đại bi, sau khi giác ngộ, Ngài trực nhận ra rằng tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh, mà chỉ vì bị tam độc tham sân si lôi kéo mà bị dẫn đi trong luân hồi. Ngài muốn trải ruộng phước cho chúng sinh trồng xuống cây bố thí, đó là cánh cửa đầu tiên để cho chúng sinh tập hạnh xả bỏ, bớt đắm nhiễm vào của cải, bớt tham, cho nên Ngài dùng phương tiện thiện xảo dạy chúng sinh thực hiện pháp cúng dường chư Tăng, vừa tạo duyên lành cho Phật tử gieo nhân thiện, vừa dạy cư sĩ thực hiện nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo, ngõ hầu chư Tăng ni có được đầy đủ vật dụng cần thiết mà an tâm tu hành cho tới giác ngộ, để tiếp tục trao truyền ngọn đèn chánh pháp, độ thoát cho hết thảy chúng sanh. Trong ý nghĩa đó thì bà Mẹ ở đây không phải là bà Thanh Ðề, bởi vì một vị thánh Tăng không còn tâm thương yêu bình thường mà chỉ là tâm đại bi với con mắt không phân biệt; thấy tất cả chúng sinh đều là quyến thuộc của nhau đã chết đi sống lại nhiều đời.  Ngài không có tâm riêng rẽ, chỉ nghĩ đến tình riêng mà cứu độ riêng mẫu thân của mình.  Mẹ ở đây chỉ cho cái vọng tâm, tức cái tâm sinh diệt, nguồn gốc sinh ra tất cả cảnh giới điên đảo mê lầm.

Nhà Phật có bài kệ:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám

Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu

Tôi tiêu, tâm tịnh, thảy đều không.

Ấy mới thật là chân sám hối.

Kinh nói rằng sau khi cúng dường chư tăng và được chư Tăng chú nguyện thì bà Thanh Ðề thoát khỏi địa ngục, sinh về cõi trời.  Theo tinh thần của bài kệ trên, thì do tâm lực thanh tịnh của chư Tăng huân tập trong ba tháng an cư kết hạ đã chuyển hóa tâm của bà Thanh Ðề, khiến cho bà thấu rõ tội ác của mình trong quá khứ, nổi niệm sám hối, thì ngay đó địa ngục tan rã, vì nhà Phật quan niệm nhất thiết duy tâm tạo, cái tâm vô thường đã chuyển thì tất cả đều chuyển theo tâm. 

Tâm bà Thanh Ðề cũng có thể là tâm mẹ quá khứ của chúng ta và cũng có thể là tâm tham sân si của chính mình.  Một khi tâm chuyển là cảnh giới địa ngục của chính mình tan rã, tức thì cảnh giới an lạc hiện tiền.  Tuy nhiên, điều quan trọng là chính tâm của bà Thanh Ðề hay tâm của chính chúng ta phải tự nỗ lực chuyển hóa việc làm xấu ác của chính mình, phải tự thức tỉnh, sám hối những điều ác đã gây ra.   Nếu không tự thức tỉnh, không tự chuyển hoá tâm cho thanh tịnh, thì oai lực của chư Tăng cũng không thể nào cảm ứng để mà giải cứu được. 

Bên Trung Hoa, và miền Nam Việt Nam, trong dịp lễ hội Vu Lan, ngoài việc tụng kinh, thiết lễ cúng dường trai tăng tại các tự viện còn có tập tục cúng cô hồn tại tư gia, cơ sở thương mại và tại cơ quan tư lập theo truyền tụng rằng, ngày này cửa địa ngục rộng mở phóng thích ngạ quỷ, nên dân chúng giết các thú vật làm cỗ, cúng cho chúng với hy vọng được chúng phù hộ cho ăn nên làm ra, buôn may bán đắt. Tập tục này có tính cách mê tín dị đoan và hoàn toàn xa lạ với Phật Giáo, vì thế người Phật tử không nên bắt chước, phước đâu không thấy, chỉ thấy tạo thêm nghiệp sát hại sinh linh và chắc chắn một ngày nào đó sẽ trả quả mà thôi.  Thay vào đó người Phật tử nên ăn chay suốt tháng Bảy để báo hiếu cha mẹ ông bà đã quá vãng tuân theo lời đức Phật dạy: "Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ, và sẽ là Phật trong tương lai". 

Chúng ta cũng điều biết: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”. Muốn được đắc đạo như Phật, trước hết phải hiếu thảo với song thân. Thật vậy, là những người con, không ai là không biết cái thân ta là do cha mẹ sinh ra, nuôi nấng, và dạy dổ…Từ lúc bé thơ cho đến tuổi trưởng thành, cha mẹ đã tốn không biết bao nhiêu là công sức, khổ nhọc để cho ta nên người. Cha mẹ đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt trong cuộc sống để cho ta hưởng trọn được những gì tốt đẹp nhất trong đời. Lòng hy sinh của cha mẹ cho con không bờ bến, dù chúng ta có đền đáp bao nhiêu cũng không xứng với lòng thương yêu vô lượng đó của cha me. Cho nên chữ hiếu là một đức tính quan trọng không thể thiếu cho những người nguyện đi theo bước chân giải thoát của Đức Phật. Chữ hiếu trong Đạo Phật cũng không chỉ có cha mẹ trong đời nầy mà còn bao gồm cả cửu huyền thất tổ, nghĩa là cha mẹ nhiều đời trong hằng hà sa số kiếp. Như vậy, ngoài sự trả hiếu cho cha mẹ hiện tiền, ta còn phải trả hiếu cho cha mẹ trong nghìn muôn kiếp trước. Hiếu hạnh của Đạo Phật là lòng đại từ, đại bi tinh tấn không ngừng nghĩ. Trả hiếu cho cha mẹ còn đồng nghĩa với sự thương cứu chúng sinh, còn đồng nghĩa với sự quên mình mà cứu người nữa.

Thích Nữ Diệu Thuận

Cập nhật ( 14/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online