Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Cư sĩ Thiều Chửu (Liên Trì)
Cư sĩ Thiều Chửu (Liên Trì) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
01/09/2010

Cư Sĩ Thiều Chửu - Nhà trí thức Phật học- Người Phật tử chân chánh

* Liên Trì.

Cư sĩ Phật tử Triều Chửu, thế danh Nguyễn Hữu Kha sinh năm 1902 tại làng Trung Tự, phường Đông Tác, Tổng Kim Liên, Hà Nội; nay thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Cư sĩ sanh ra trong một gia đình trí thức nghèo yêu nước và mến mộ đạo Phật. Sẳn có chủng tử Phật pháp trong con người Cư sĩ và gặp duyên lành là bà nội sùng kính Tam Bảo nên Cư sĩ đã sớm đến với đạo Phật. năm 19 tuổi, Cư sĩ đã tìm đến các bậc danh tăng để tham thiền học đạo. Với tư cách thông minh sẵn có, chỉ trong một thời gian ngắn Cư sĩ đã hiểu được Phật pháp và bắt đầu dịch kinh Phạt, năm Cư sĩ 26 tuổi. Từ nhũng năm 1932-1933 Cư sĩ đã cho ra đời ấn phẩm bản dịch tác phẩm “Khóa Hư Lục” của Trần Thái Tông được nhiều người khen ngợi và lấy đó làm tài liệu tu học. Những năm tiếp theo, Cư sĩ đã dịch được nhiều kinh Phật, như: kinh A-Di-Đà, kinh Địa Tạng, kinh Tứ Thập Nhị Chương, kinh Kim Cương, Bát-Nhã, Viên Giác, Pháp Hoa, Thủy Sám, Phật Học Cương Yếu, Tây Du Ký, vì sao tôi tin Phật giáo…

         Các bản dịch này thường kèm theo lời giảng của các bậc cao Tăng nổi tiếng hoặc lời chú giải và bình luận của Cư sĩ đã giúp ích rất nhiều cho người học Phật. Cư sĩ còn viết “sự tích Phật Tổ Thích Ca”, “con đường học Phật thế kỷ XX” … Đặc biệt là bộ “Hán Việt Tự Điển” do Cư sĩ biên soạn rất được nhiều người hoan nghênh đón nhận làm công cụ học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực Phật học. Năm 1934, hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập, Báo Đuốc Tuệ ra đời, Cư sĩ đã tham gia Ban Trị Sự tòa soạn và là “ một cây bút sắc sảo cảu tờ Đuốc Tuệ qua các bài nghiên cứu, khảo luận về Phật học góp phần làm sáng tỏ giáo lý đạo Phật, động viên cho phong trào chấn hưng Phật giáo ở Miền Bắc nói riêng cũng như cho cả nước nói chung trong nhiều năm. Thấm nhuần lời dạy của chư tổ “Phật pháp bất ly thế gian giác”, ngoài việc nghiên cứu, dịch kinh, viết sách, làm báo, Cư sĩ còn tham gia việc giáo dục đào tạo Tăng Ni và thanh thiếu niên nghèo học Phật và học quốc ngữ góp phần xóa nạn mù chữ trong nhân dân. Năm 1941, hội Phật giáo Bắc Kỳ giao cho Cư sĩ lập trường Phổ Quang để giáo dục Tăng Ni. Cư sĩ cũng mở một số trường học vừa làm vừa giúp các thanh niên nghèo có thể theo học, nhiều người trong số đó đã trưởng thành và tích cực tham gia kháng chiến, một số vào bộ đội và trở thành cán bộ cao cấp, một số đã hy sinh anh dũng trong kháng chiến  chống Pháp và chống Mỹ. Cư sĩ là một người thầy khả kính của Tăng Ni sinh và các thanh, thiếu niên Phật tử lúc bấy giờ.

Năm 1936, Cư sĩ còn được hội Phật giáo Bắc kỳ giao cho trông coi việc ti công xây dựng lại chùa Quán Sứ, nay là trụ sở của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Về công tác từ thiện xã hội, Cư sĩ là người rất có tâm và tham gia rất nhiệt tình. Năm 1936, Cư sĩ làm Tổng thư ký hội Tế sinh, hội này đã cứu tế cho rất nhiều người trong những cơn hoạn nạn như: nạn lụt năm 1937 ở hai Tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang và nạn đói khủng khiếp năm 1945…

Cuộc đời của cố Cư sĩ Phật tử Thiều Chửu, nhà tri thức Phật học đã thể hiện trọn vẹn tinh thần Đạo pháp và dân tộc, là “cuộc đời của một Phật tử chân chánh đã phát huy cao độ lý tưởng hoằng pháp lợi sinh, người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo”. Với 52 năm trụ thế trong đó hơn 30 năm hành Bồ Tát đạo cư sĩ đã ra đi để về nước Phật. song sự ra đi đó là sự ra đi của nhục thân tứ đại còn tinh thần hoằng dương Phật pháp, lợi lạc quần sanh, vô ngã vị tha, hành Bồ Tát đạo của Cư sĩ vẫn còn mãi với  người Phật tử Việt Nam. Cư sĩ là tấm gương sáng, soi đường cho Phật tử chúng ta, tấm gương phụng đạo yêu nước một truyền thống tốt đẹp cho Phật giáo Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Cư sĩ tôi xin mạo muội sơ lược đôi nét về cuộc đời của Cư sĩ chắc còn nhiều thiếu xót mong Cư sĩ hỷ xả cho. Hôm nay cố Cư sĩ đã về thế giới Niết Bàn vô chung  bất diệt để lại cho tôi bao nỗi niềm kính tiếc, mến thương vô hạn, song công đức và tấm gương sáng của Cư sĩ cũng tỏ rạng trong tôi và có lẽ cả trong những người Phật tử mai sau.

Xin trân trọng viết mấy dòng cảm niệm, thắp nén tâm hương tưởng nhớ cố Cư sĩ Thiều Chửu.

                            

Cư Sĩ Thiều Chửu Với Nền Giáo Dục Bình Dân

Trong danh mục tác phẩm (xem sưu tạp: Thiều Chửu- Nguyễn Hữu Kha- do chi Đông trì thuộc Nguyễn Đông Tác thực hiện, Hà Nội 10/2001, tr51) mà Cư sĩ Thiều Chửu để lại những công trình lớn nổi tiếng như các bộ kinh Phật (dịch), Hán Việt tự điển (biên soạn)…, chúng tôi chú ý mấy cuốn sách nhỏ, ngày nay ít được nhắc tới. Đó là:

-Cách trí phổ thông,- Hòa ký xuất bản năm 1934.

-Đạo đức phổ thông, - Hòa ký xuất bản năm 1934.

-Lịch sử phổ thông, - Hòa ký xuất bản năm 1935.

Ngoài ra, tại hộp phích thư viện quốc gia Trung ương, ở mục “Thiều Chửu” chúng tôi còn thấy một vài cuốn khác, xét theo tên thì có lẽ cùng loại, nhưng chưa được liệt kê vào danh mục như:

-Phép nuôi con,-ký hiệu: P.8920 (16); tên soạn giả đề: Nguyễn Hữu Kha, dit Tịnh Liễu, do Long Quang ở Hà nội xuất bản năm 1926 (trong danh mục, tác phẩm có niên đại xuất bản sơm nhất là năm 1930).

-Giới sát sanh, -ký hiệu: M.8941, do Hòa ký xuất bản năm 1935.

-Tấm lòng từ mẫu:-ký hiệu P.21421; tên soạn giả đề: Thiều Chửu, do Đuốt Tuệ xuất bản năm 1940. Rất tiếc rằng, khi viết các phiếu yêu cầu, thì mới chỉ tìm được cuốn đạo đức phổ thông, số ký hiệu: P.23746. Các catalô của Thư Viện Khoa Học Xã Hội Trung Ương và Thư Viện Hà Hội hoàn toàn không có đề mục “Thiều Chửu”. Tuy nhiên, cuốn sách loại nhỏ này, còn lại độc nhất ở tư viện Quốc gia Trung Ương, cũng cho thấy cái tâm lớn của  Cư sĩ Thiều Chửu và cung cấp đôi điều rất có ý nghĩa về cuộc đời và sự nghiệp của Cụ. Trước hết, xin giới thiệu qua về cuốn sách. Ấn phẩm này chỉ vừa đủ một tay sách 32 trang, giấy bản củ đã bắt đầu ròn rách nên Thư Viện không cho phép photocopy. Trang bìa trình bày như sau:

 

 

Sách tập đọc quốc ngữ

ĐẠO ĐỨC PHỔ THÔNG

(Trang minh họa: Một cậu học trò nhỏ mặc áo dài trắng cắp sách đến trường: trên đường, một phụ nữ quần áo thâm áo dài, đầu đội nón quai thao, gánh hàng đi chợ; dưới ruộng, hai nông phu đang cuốc, đập đất. )

1934

In tại nhà in Đuốc Tuệ

 73, phố Richaud, 73

Hà Nội

Thiện tín                                                          Kính tống

 

 

Mặt sau của trnag bìa in “Mấy lời nói đầu” của chính người làm sách, nguyên văn như sau (những câu cữ gạch chân do chúng tôi muốn nhấn mạnh, V.T.K): “nay tràng hương học đã khắp toàn kỳ, sốngười biết chữ cũng đã tiến nhiều. Biết chữ tất phải có sách đọc. Sách giáo khoa của Chính Phủ và Sách Hội Truyền Bá Quốc Ngữ cũng đã nhiều lắm. Nhưng thiết nghĩ ở xã hội ta thì sách tập đọc càng nhiều càng hay. Vì thế nên Thiện Tín chúng tôi thâu nhặt các bài ca dao tục ngữ, các bài văn khuyến giới của các hiền nhân Quân tử cổ kim, chia ra từng mục, cho tiện những người mới học, dễ đọc, dễ hiểu, và góp kẻ nhiều người ít, in ra một số nhiều để cống hiến các người mới tập đọc.

Sách này tặng không và không giữ bản quyền, mong rằng các bậc hiếu Thiện phát tâm in thêm cho nhiều, lại mong các bậc tác giả các bài mà chúng tôi đã thâu nhặt vào trong quyển sách này cũng hoan hỷ cả cho, thật là công đức vô lượng.

 

Thiều Chửu cẩn trí.

Thật khiêm tốn kiệm lời! mà cũng thật sâu sắc, đầy đủ: cả lý do biên soạn và đối tượng phục vụ cả mục đích giáo dục và phương thức làm sách.

Mặt trong của bìa sau có lời kính cáo của các soạn giả cho biết loại sách này sẽ tiếp tục biên soạn và xuất bản. Cuối trang in “Phương danh của các vị đã cúng in sách này”: các Thiện tín cúng 5 đồng, một sốnhà giàu có cúng nhiều hơn, công đức lớn nhất 40 đồng là của bà Nguyễn Sơn Hà (phu nhân của nhà Tư sản yêu nước ở Hải Phòng).

Nội dung sách như chính soạn giả đã viết, tập hợp những bài thơ ngắn, chủ yếu thể lục bát, sắp xếp thành 4 phần:

Phần thứ nhất- sửa mình.

1.     Chăm học.

2.     Phải tiếc thì giờ.

3.     Sửa đổi.

4.     tu nhân (tức tu dưỡng lòng nhân ái,-V.T.K).

5.     Trọng nghĩa.

6.     Lễ phép.

7.     Trau dồi trí khôn.

8.     Tin cẩn thật thà.

9.     Liêm khiết.

Phần thứ hai- Đối với gia đình.

1.     Hiếu thuận cha mẹ.

2.     Phụng thờ ông bà tổ tiên.

3.     Kính yêu anh em, chị em.

4.     Vợ chồng hòa thuận.

5.     Thương kẻ tôi đòi.

Phần thứ ba- Đối với xã hội.

1.     Kính trọng thầy.

2.     Đạo bạn bè.

3.     Tình làng xóm.

4.     Nghĩa vụ làm người.

Phần thứ tư- Mấy điều răn cấm.

1.     Răn uống rượu.

2.     Răn trai gái trăng hoa.

3.     Răn nghiện ngập.

4.     Răn cơ bạc.

5.     Răn kiện tụng.

6.     Răn ma chay ăn uống.

7.     Răn tranh giành ngôi thứ

8.     Răn tính ỷ lại.

9.     Răn tính lười biếng.

Mặc dù, soạn giả viết ông chỉ “thâu nhặt” các bài có sẵn, nhưng rõ ràng trong việc này Thiều Chửu đã mượn phép “thuật nhi bất tác” (thuật lại chứ không sáng tác) của cổ nhân để cập nhật một số chuẩn mực đạo lý cổ truyền và phát biểu quan niệm của mình. Phân tích qua văn bản có thể thấy soạn gỉa đã lòng vào các câu ca dao xưa nhiều câu chữ mang hơi hướng của đương thời bấy giờ và khẩu khí của chính Cư sĩ Phật gia.

Chẳng hạn, câu ca dao xưa về “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, được Cư sĩ mào đầu bằng hai câu:

 Cùng chung một giống một loài

Cùng chung một nước, cùng người một phương

                      (Nhiễu điều…)

Câu mào đầu ấy chỉ có thể xuất hiện sau những bài ca của Đông Kinh Nghĩa Thục (1909), như:

Trời sanh ra một giống ta,

Non sông riêng một nước nhà Việt Nam

Kể năm hơn bốn nghìn năm

Ông cha một họ, anh em một nhà.

                      (Trích bài hát hợp đàn).

Khi ĐKNT bị cấm (1909) thì tinh thần yêu nước thương nòi ấy tức khắc nhập hồn vào Kinh Đạo Nam (1920), do Vân Hương Thánh Mẫu, tức Bà Chúa Liễu, “giáng bút”:

Hỡi đồng bào hai mươi mấy triệu

Sinh trưởng cùng một nẻo giang sơn,

Kể năm những bốn nghìn hơn,

Nước non chung hợp một đoàn từ xa.

                      (Trích Kinh Đạo Nam).

Những bài kinh “giáng bút” như vậy của chư vị thần thánh Việt Nam, các phả thiện thờ vị anh hùng cứu quốc Trần Hưng Đạo, từng đem rao giảng, với sự tham gia của Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền và nhiều văn thân yêu nước khác tai Hoằng Thiện kính đàn (theo văn bia vẫn còn trên tường, lập từ 1903) trong Đền Ngọc Sơn Hà Nội và nhiều Thiện đàn khác ở Nam Định, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương v.v..., thậm chí ở chùa Nhã Nam tít tận xứ Nam Kỳ (xem: Nghiêm Hà-Việt Hồng, Xưa và Nay, 7/1996).

Đến khi bọn Tây thực dân cấm nốt Kinh Đạo Nam, thì vẫn linh hồn ấy lại ẩn hiện trong lời lẽ ôn hòa của kinh tâm pháp, do Đức Thánh Trần, Phạm Điện Súy, Phùng Tướng Công v.v... “giáng” các đệ tử khắc in và giảng tại Ngọc Sơn  cho đến tận cáchmạng tháng tám năm 1945:

  Cùng non nước, cùng hình dáng ấy

  Cùng giống nòi tự bấy nhiêu nhiêu lâu

  Cùng chung khí huyết một bầu

  Tiên-Long ta vẫn trước sau ghi truyền.

                      (Trích kinh tâm pháp)

Khẩu khí của soạn giả là người cửa Phật bộc lộ rõ nhất ở phần thứ tư- mấy điều răn cấm vốn cũng đã có trong các sách luân lý trước đó, như trong kinh tâm pháp, chẳng hạn (xem: Vũ Thế Khôi, Xưa và Nay, 8/1996), nhưng cũng đã được Thiều Chửu chí ít là viết lại theo quan điểm của người theo đạo Phật. Xin đơn cử một vài ví dụ:

Bài IV. 2.- Răn trai gái trăng hoa

Sắc kia có chớ nên gần,

Ngẫm cơ trời đất xoay vần mà kinh!

Kìa kẻ nọ vắng tanh hương lửa,

Lại người này trả nợ trăng hoa

Hư thân hại nết người ta,

Cái chơi vô ích hóa ra hại mình...

Bài IV.3.- Răn nghiện ngập

Độc nào hơn thuốc phiện này

Còn đua với chúng ắt gầy đến thân,

Vui bè bạn mỗi lần vài khối,

Bỗng xui nên nông nỗi khó chừa

Nợ đời sớm trả vay trưa

Của hao mòn của, người nhơ bẩn người.

Dễ dàng nhận qua từ ngữ, dấu ấn của những giáo lý luân hồi, nhân quả. Điều này chẳng có gì lạ, bởi vì Thiều Chửu cho rằng trong nhiều mặt tư tưởng Phật gia tiến bộ hơn tư tưởng nho gia. Trong “mấy lời thâm cảm đôi khi dịch xong bản kinh lễ 6 phương” răn dạy về các cách đối đãi với nhau giữa 1/ Con cái-cha, 2/Thầy-trò, 3/ Vợ-chồng, 4/ Bè bạn họ hàng, 5/ Chủ- tớ, 6/ Sa môn trí thức-chúng dân, Cư sĩ Thiều Chửu khẳng định: “mấy ngàn năm cổ xưa, sao mà văn minh đến thế? So với nền luân lý của nhà nho không có trái nhau chút nào, mà về phần tinh thần lại thuần túy hơn”. Và Cụ chỉ ra một ưu việt cụ thể của tư tưởng Phật gia: “còn một lẽ nữa: nhà nho vẫn thiên trọng về bên đàn ông, coi đàn bà rất khinh đã không dạy dỗ, lại cứ trách hoài, mà có dạy chăng nữa, cũng chỉ những lối thổi nấu tương cà, làm tôi làm mọi. Chồng đối với vợ, oai quyền như cha, năm lẽ bẩy hầu, tha hồ túng tứ, không có ái tình chân chính chút nào cả. Phật thì dạy người ta một vợ một chồng mới có hạnh phúc; vợ đối với chồng phải giữ trinh tiết, đã đành rồi; chồng đối với vợ, cũng cấm không được chia lòng yêu cho ai để vợ phải hờn giận...”

Cuốn sách nhỏ gợi chúng ta đôi điều cần ngẫm nghĩ. Trước hết là về truyền thống văn hóa yêu nước thương nòi của những dòng họ ông đồ. Thiều Chửu xuất thân trong một gia đình văn hóa lớn, có những nhà giáo nổi tiếng như Cụ Nghè Đông Tát Nguyễn Văn Lý (1795-1868) từng cùng một số danh sư khác như các Tiến sĩ  Vũ Tông Phan (1800-1851) và Lê Duy Trung (1795-1863), Phó Bảng Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) mở các tư thục dạy học tại các phường thôn và sáng lập Đền Ngọc Sơn (1841) làm trung tâm giáo hóa sĩ dân (Vũ Thế Khôi- (chủ biên)- Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long, - trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội (2001). Cư sĩ lại có thân phụ là cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (1879-1946), thành viên của một trung tâm khai sáng tiếp theo- Đông Kinh Nghĩa Thục, nên mấy cuốn sách nhỏ của Cụ không phải là hiện tượng tùy hứng cá nhân mà chính là sự tiếp nối truyền thống hoạt động khai sáng của bộ phận tri thức Đạo nho và Đạo Phật Việt Nam sống giữa làng xã và hành xử theo tinh thần “nghĩa vụ của người quân tử lag lo cho dân”, “trung với dân” như Hội Trưởng Hướng Thiện Đền Ngọc Sơn Vũ Tông Phan đã nêu năm 1841 trên Bia trùng tu miếu Hỏa thần,  vẫn còn gắn trên tường miếu ở 30 phố Hàng Điếu, “làm quân tử trong làng, thầy đồ trong xã” như lời kêu gọi của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Lý ông nội của Thiều Chửu, khắc năm 1848 trên bia ở đền thờ Tiên Hiền huyện Thọ Xương, hiện vẫn còn tại ngõ Văn Chỉ-Bạch Mai.

Năm 1969, trong một cuộc thảo luận nội bộ về vấn đề cải cách giáo dục, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, một nhà văn hóa lớn đã nêu vấn đề về vai trò to lớn của các ông đồ trong văn hóa làng xã; Ông nói: “mặt khác, chúng ta cần nghiên cứu vai trò của giáo dục trong lịch sử Việt Nam. Chúng ta cần đi sâu để hiểu biết vai trò của “ông Đồ” trong xã hội phong kiến Việt Nam. Có thể nói xã hội phong kiến Việt Nam mấy nghìn năm giữ được rường mối, trong đó vai trò của ông Đồ rất lớn. Thường thì nhà trường của chế độ phong kiến rất phản khoa học, nhưng nhà trường phong kiến Việt Nam chưa hẳn như thế. Bởi vì vai trò của ông Đồ Việt Nam trong công cuộc chống ngoại xâm cũng rất lớn. Muốn thắng kẻ thù không thể là phản khoa học. Ta có khoa học mới thắng được kẻ thù bất kể từ đâu tới...” (Vũ Đình Hòe-pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa-thông tin và Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 2001, tr. 312). Đã hơn 30 năm trôi qua nhưng vấn đề nhà văn hóa Nguyễn Văn Huyên nêu ra, dường như vẫn còn bỏ ngỏ đó.

Hai là vấn đề kế thừa đạo lý cổ truyền. Có thể thấy rằng sự sắp xếp của cư sĩ Thiều Chửu trong cuốn sách nhỏ về đạo đức phổ thông vẫn tuân theo cái quan niệm:

Tu thân->tề gia->trị quốc->bình thiên hạ”, tức đi từ chỗ bản thân phải học làm người, học làm thành viên trong cái tế bào cơ bản của xã hội là gia đình đã, rồi mới có thể nói đến làm công dân tốt trong xã hội và tham gia lãnh đạo quốc gia. Một quan niệm tuy cũ, thậm chí một thời bị gán cho cái nhãn “tư tưởng Nho giáo lỗi thời, hủ lậu” (!), tuy nhiên ngày nay, khi được chứng kiến những tệ nạn xã hội nhan nhản quanh ta, kể cả sự tha hóa của không ít các “ông quan cách mạng” (chữ của Hồ Chủ Tịch) và đám vợ con ăn theo, thì mới thấy tính đúng đắn và độ sâu sắc của cái quy trình giáo dục hợp lẽ tự nhiên trên đây, chứ không phải chỉ vì theo quan điểm Nho giáo; Nho giáo, một triết thuyết tiên tiến của thời xưa, chỉ khái quát hóa nó mà thôi! Đâu phải là ngẫu nhiên ngày 15/02/1965, thiếu 5 ngày đầy 3 tháng trước khi đặt bút viết DI CHÚC, Chủ Tịch Hồ Chí Minh về Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi, ngồi xổm, dương kính đưa ngón tay lần từng chữ trên bia thờ của một kẻ sĩ từng khẳng định đạo lí nhân nghĩa cổ truyền  (có đoạn ghi không rõ...) 19/05 năm Khúc Phụ... (Bác Hồ viết di chúc,-hồi kí của Vũ Kỳ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999):

Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ,

Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa.

Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?

Lấp loáng bia xưa chút ánh tà.

            (Đặng Thai Mai dịch)

Và cuối cùng, về truyền bá quốc ngữ và giáo dục bình dân thì có thể nói rằng ông Đồ quốc ngữ Thiều Chửu và đồng bối của ông, với việc mở các lớp dạy chữ khai sáng dân nghèo và làm cho họ những cuốn sách nhỏ tặng không hoặc bán rẻ, đã đóng vai trò những người đi tiên phong trong việc thực thi sứ mạng này, 12 năm trước khi Hội Truyền ba Quốc ngữ được chính thức thành lập (1938) và ngót 20 năm trước ngày ngành “bình dân học vụ” của Chính phủ Nhân dân lâm thời ra đời (1945). Chính nhờ những chủ trương cá nhân (vâng, chúng tôi xin mạnh dạn dùng từ “chủ trương” mà lâu nay ta quen dùng khi nói về Đảng và Nhà nước) và kinh nghiệm thực tế của họ mà ngay từ khi mời thành lập, ngành học bình dân của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã được triển khai thuận lợi và trình bày khá thấu đáo, cụ thể trong cả một chuyên luận hơn 200 trang, nhan đề- Một nền giáo dục bình dân .(Vũ Đình Hòe-NXB Đại La,1946). Trong phần “các môn trong chương trình lớp học bình dân cho người lớn” (chương V) sách nhỏ mà Tịnh Liễu Nguyễn Hữu Kha và các Thiện tín của ông đã bắt đầu từ năm 1926 với cuốn sách nhỏ Phép nuôi con; xin so sánh danh mục sách nhỏ của Thiều Chửu mà chúng tôi đã nêu ở đầu tham luận này với 5 “món” sua đây do vị Bộ trưởng Quốc gia giáo dục đầu tiên đề nghị đưa vào dạy tại các lớp cao đẳng (có đoạn ghi không rõ...)

2) Vệ sinh.

3) Địa dư.

4) Sử ký.

5) Công dân giáo dục.

Thật đáng buồn khi mới vài chục năm sau cái chết oan khấu của cư sĩ Thiều Chửu, một vị PTS giáo dục học đời nay, trên một tờ báo của ngành, lại khuyên chúng ta đi học tập kinh nghiệm của Liên Hiệp Quốc trong việc làm sách mở mang dân trí để chống nạn  tái mù chữ! Bởi lẽ Hồ Chủ Tịch, với lời đề nghị cư sĩ Thiều Chửu giữ chứ Bộ trưởng (Quốc gia giáo dục hoặc Cứu tế xã hội) trong Chính phủ Cách mạng đầu tiên, hiển nhiên thừa nhận công lao tiên phong của Thiều Chửu trong lĩnh vực mở mang dân trí và dân sinh./.

*Tác giả sách cũng là Chủ nhiệm báo Thanh nghị và với tư cách Phó hội trưởng Truyền Bá Quốc Ngữ, cùng công tác việc Hội với Cư sĩ Thiều Chửu, cho biết ông Quản lý Đuốc tuệ từng giúp đỡ giấy kinh cho báo Thanh Nghị.

 

Cập nhật ( 01/09/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online