Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow C.Nghệ T.Tin arrow Lịch sử đường đến Vista (V-T)
Lịch sử đường đến Vista (V-T) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/10/2010

LỊCH SỬ ĐƯỜNG ĐẾN VISTA

* V-T

Thật khó mà nghi ngờ được Windows chính là một trong những sản phẩm có ảnh hưởng lớn nhất đến xã hội thông tin có thể sánh vai với Intenet, hay bản thân chiếc máy tính X86, hoặc cái máy tương thích ibm/pc). Ngay cả với những người được sử dụng máy tính từ rất lâu, ấn tượng về Windows xa xưa nhất có lẽ chỉ là Windows 3.11 vào những năm đầu của thập niên 1990. Nhưng trên thực tế, hơn 2 thập kỷ đã qua.

Bình minh

Vào năm 1983, khi mà Microsoft “chỉ” có khoảng 400 trăm nhân viên trong một tổng hành dinh “nhỏ bé”, một sản phẩm “tiền Windows” với tên gọi Interface Manager đã được trình diễn. Theo mô tả của Bill Gates thì đây là một giao điện đồ họa được phủ lên các hệ điều hành thật sự thời đó là DOS và Xenix (một phiên bản Microsoft của Unix).

Điểm nhấn của sản phẩm này là khả năng tạo tính tương thích  phần mềm cho tất cả máy tính, và cung cấp cách thức đơn giản nhất để gọi đến tất cả tính năng của một ứng dụng (qua hệ thống menu đặt ở máy mỗi cửa sổ). Cũng theo lời Gates: “Đây không chỉ đơn thuần là một giao điện đồ họa mà nó cho phép nhiều ứng dụng có thể chạy đồng thời, chia sẽ màn hình và trao đổi dữ liệu”. Đây cũng là thời điểm bắt đầu cho hệ điều hành đồ họa dành cho máy MAC (MAC OS).

Windows 1.0 – Vạn sự khởi đầu nan

Tháng 11/1983. Microsoft 1.0 và sản phẩm này sẽ có mặt trên thị trường vào quý 1 năm 1984, khởi đầu cho một đặc tính nổi bật của Windows và Microsoft: “Đến hẹn lại khất”. Windows 1.2 chính thức được ra mắt người dùng cuối tại triển lãm Comdex vào tháng 11/1985 với yêu cầu cấu hình máy tối thiểu “256-512 KB bộ nhớ, một ổ đĩa cứng, và hệ điều hành MS-DÓ 3.0 hay hơn được cài sẵn”, vượt xa cấu hình mà Microsoft hứa hẹn và vượt ngưỡng của hầu hết máy tính thời điểm đó.

Phiên bản đầu tiên của Windows được tích hợp khá nhiều công cụ và tiện ích mà phần lớn chúng vẫn còn quen thuộc đến ngày nay: Calculator, Clock, Windows Write (tiền thân của WordPad), Windows Paint, Cotrol Panel… Với việc không thể xếp chồng các cửa sổ lên nhau, Windows 1.0 trong có vẻ như một ứng dụng chạy trên MS-DOS. Sự xuất hiện của chuột trong điều khiển máy thật tuyệt vời, nhưng còn xa để Windows 1.0 trở thành một sản phẩm “đinh”.

Windows 2.0 – khi Windows mới là cửa sổ

Sau một khởi đầu có phần khá lộn xộn, Microsoft đã không ngừng cải tiến Windows 2.0 vào tháng 12/1987. Điểm đáng chú ý nhất của phiên bản này là vấn đề cửa sổ chồng nhau đã được giải quyết, và sự xuất hiện của các biểu tượng (icon) đúng nghĩa nhờ vào các thỏa thuận bản quyền với Apple (sử dụng một số công nghệ trong MAC SO). Tuy nhiên thành công lớn nhất của hệ điều hành này lại không nằm ở bản thân nó mà là sự xuất hiện các ứng dụng tiền thân của bộ Microsoft Ofce, mà khởi đầu là Excel. Bên cạnh đó, chương trình dàn trang điện tử mạnh nhất thời điểm đó là PageMaker. Một điều khá thú vị mà ít người biết đến là không chỉ PageMakar, mà cả Excel vốn được phát triển ban đầu để chạy trên các máy MAC.

Gần như ngay lập tức, Microsoft đã nhận thấy tầm quan trọng của các ứng dụng văn phòng chạy trên Windows để mở rộng phát triển các ứng dụng cơ bản khác của bộ Microsoft Ofice sau này là PowerPoint, Word và cả Access. Đây cũng là thời điểm bùng nổ những thưa kiện dai dẳng và mang tính chất lịch sử giữa Apple với Microsoft. Một cột mốc đáng nhớ khác cũng diễn ra đồng thời là sự ra mắt một trong những bộ xử lí nổi tiếng nhất, Intel 386. Windows 2.03 lập tức được cập nhật để tận dụng những công nghệ tiên tiến của bộ xử lý này.

Windows 3.x – Thấy là có

Windows 3.0 là bước tiến vĩ đại đầu tiên trong lịch sử của Windows. Phiên bản này chính thức ra mắt vào tháng năm 5/1990 với những tính năng cực kỳ quan trọng như File Manager (nay là Windows Explorer) và Program Manager (nay là menu Start). Các cải tiếng về đồ họa, đặc biệt là chế độ màu 16 bít (65 ngàn màu) đã đặt Windows trở thành đối thủ ngang tầm với MAC OS. Một nâng cấp khó được biết bởi người dùng cuối nhưng rất có ý nghĩa là khả năng khai thác được các vùng bộ nhớ lớn hơn 640 KB, thêm nữa là khả năng quản lý là bộ nhớ đã khá hoàn hảo.

Sự thành công của Windows 3.0 thật sự vượt ngoài mọi tưởng tượng khi có đến 10 triệu phiên bản của hệ điều hành này được tiêu thụ chỉ trong hai năm. Từ đó đặt hệ điều hành trở thành trọng tâm phát triển của Microsoft, đưa hãng này vào những bước tiến vĩ đại trên con đường trở thành công ty lớn nhất thế giới (cho đến hiện nay). Sự ra đời của Windows 3.0 còn là điểm kết thúc cuộc hôn nhân hơn 10 năm giữa Windows giữa Microsoft và IBM. Cũng là lần đầu tiên trong lịch sử chứng kiến sự phát triển rầm rộ những ứng dụng được viết cho người dùng cuối. Mặc dù Windows 2.03 đã bắt đầu thích với bộ xử lý Intel 386, và Windows 3.0 vẫn có thể chạy trên chip Intel 186, nhưng Windows 3.0 và Intel 386 là bộ đôi tuyệt vời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp máy tính cá nhân.

Vào tháng 10/1991, Microsoft giới thiệu Windows 3.0a với các tính năng đa phương tiện (mul-timedia), sau đó vài tháng (4/1992) là Windows 3.1 được nhấn vào tính ổn định và dễ dùng, bên cạnh đó là sự xuất hiện của font chữ TrueType.

Một cột mốc đáng nhớ khác, các nhà sản xuất máy tính lớn IBM và Compaq đã quyết định cài đặt sẵn hệ điều hành này cho các máy bộ của mình.

Windows 3X và Windows For Workgroups 3.11

Vào tháng 10/1992, Windows for Workgroups 3.1 ra đời như dấu hiệu cho thấy kỉ nguyên máy tính mạng đã bắt đầu: chia sẻ file và máy in, trình duyệt e-mail Microsoft Mail (sau cải tiến thành Outlook Express). Tuy nhiên đây không phải là một phiên bản ổn định mà gần như lập tức bị thay thế bởi Windows for Workgroups 3.11. Mạng ngang hàng, domain, bảo mật mạng cấp người dùng cuối, dịch vụ truy cập từ xa… cũng dần phổ biến từ đây. Trước đó, mạng được điều khiển trực tiếp từ nền MS-DOS qua ứng dụng MS LanMan hoặc các chương trình từ Novell… Một khác biệt cơ bản giữa Windows 3.1 và Windows for Workgoups 3.11 là việc hổ trợ giao thức TCP/IP ngay trong lõi hệ điều hành.

Sau khi đã chiếm được cảm tình khá lớn từ người dùng cá nhân hay gia đình, Microsofo đã tập trung hơn đến môi trường doanh nghiệp, nhóm người dùng vốn rất khó tính về độ ổn định cũng như đòi hỏi cao về một tính năng. Windows NT chính thức được giới thiệu vào ngày 27/7/1993 nhưng lập tức được nhận số phiên bản là 3.1 và có giao diện gần như y hệt so với Windows 3.1. Tuy nhiên, đây là một dự án hoàn toàn độc lập của Microsoft từ những năm 1980 trong việc tạo nên một hệ điều hành được xây dựng mới hoàn toàn. NT là viết tắt của New Technology và được chạy hoàn toàn trên nền tảng 32 bit. Một chút lưu ý là mặc dù ngay từ Windows 2.x đã có khả năng chạy trên bộ xử lý 32 bit Intel 386 nhưng nó vẫn là một hệ điều hành 16 bit.

Với Windows NT, cũng lần đầu xuất hiện bộ đôi hệ điều hành dành cho máy trạm (Windows NT Morkstation) độc lập với phiên bản cho máy chủ (Windows NT Server). Khó khăn lớn nhất khi tiếp cận Windows NT là có quá ít phần cứng cũng như phần mềm có thể chạy trên nó, một rủi ro hiển hiện cho sản phẩm hướng vào thị trường còn khá nhỏ bé lại mang kiến trúc “đi trước thời đại”.

Vào năm 1994, Microsoft đưa bản nâng cấp đáng kể đầu tiên cho Windows NT với phiên bản 3.5. Bổ sung đáng kể nhất là việc hổ trợ tiêu chuẩn đồ họa OpenGL, bên cạnh đó là khả năng tương thích tốt hơn với các mạng cục bộ Netware, bao gồm cả các máy chủ file và in ấn. Giao diện thân thiện hơn cùng việc tương thích hệ thống trên file dài (đến 255 kí tự thay vì chỉ 8 kí tự) cũng rất hấp dẫn.

Windows - Phổ thông hóa Windows

Windows NT là một hệ điều hành đúng nghĩa (không cần MS-DOS chạy nền) và mạnh mẽ trên nền 32-bit, tuy nhiên như đã đề cập, nó vượt quá khả năng đáp ứng phần cứng ở thời gian đó khiến Windows NT không thể tiến vào môi trường máy tính cá nhân và gia đình. Windows 95 (ra mắt chính thức vào tháng 8/1995) như một bước tiến lịch sử khi đáp ứng nốt yêu cầu để tạo nên một hệ điều hành cho mọi người: đòi hỏi tài nguyên, tương thích ngược với MS-DOS và Windows 3.1, phù hợp với đáp ứng phần cứng hiện tại, phải là một hệ điều hành 32-bit để tận dụng năng lực bộ xử lí.

Windows 95 là bước tiến lớn thứ 2 trong lịch sử hệ điều hành Windows khi lần đầu tiên hệ điều hành này thoát ly với MS-DOS với khái niệm hệ điều hành nền (lúc này Windows và Windows NT vẫn được xem là 2 dòng hệ điều hành độc lập). Yêu cầu cấu hình cho Windows 95 lúc này là: bộ xử lí 386, bộ nhớ 4 MB, ổ cứng còn trống 40 MB, và hầu hết máy tính đang sử dụng đều đễ dàng đáp ứng yêu cầu này. Windows 95 cũng đưa vào đó nhiều thành phần giao điện vẫn còn được phổ biến đến hiện nay như: khả năng kéo/thả, menu Start…

Windows 95 còn mang đến nhiều tính năng hấp dẫn (dù còn sơ khai) như: giải trí đa phương tiện đơn giản trong cấu hình, sử dụng Internet và mạng máy tính, “cắm và chạy” cho các thiết bị phần cứng, và khởi đầu trong việc hội tụ với tính toán di động.

Sự thành công của Windows 95 có thể xem là “vô tiền khoáng hậu” với hơn một triệu bản được tiêu thụ chỉ trong 4 ngày đầu tiên thật khó tưởng tượng việc người ta chen nhau để mua một phần mềm, cho dù đó là phần mềm cơ bản như hệ điều hành. Windows 95 được xem là phân định thắng bại giữa Microsoft và IBM trong lĩnh vực hệ điều hành phổ thông, nhưng Microsoft lại được đón nhận một đối thủ mới là trình duyệt Web Netscape Navigator. Windows 95 cũng đưa ra (nhưng chưa tích hợp vào lõi hệ điều hành) một trình duyệt Web, chính là khuyên bản đầu tiên của Internet Explorer, quá yếu khi so với Netscape Navigator mà lại trả phí sử dụng. Cuộc chiến trình duyệt tất nhiên đã ngũ từ nhiều năm trước, nhưng đó là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Windows 95 có một bản nâng cấp khá quan trọng có tên Windows 95B hay Windows 95 Service Pvk 2 với việc hổ trợ chuẩn kết nối USB.

Windows NT Workstation 4.0: đơn giản hóa chuyên nghiệp

Không hoành tráng như Windows 95 nhưng Windows NT Workstation 4.0 (ra mắt vào tháng 8/1996) xứng đáng là một sản phẩm tuyệt vời cho hệ máy trộm chuyên nghiệp khi đảm bảo được các yếu tố sau: dễ dùng, quản lí đơn giản, tương thích mạng mạnh mẽ, các công cụ trực quan cho việc quản trị và phát triển mạng cục bộ. Windows NT Workstation 4.0 tất nhiên cũng kịp kế thừa điểm mạnh nhất ở Windows 95 là giao diện cũng như khả năng tương tác tốt hơn, an toàn hơn khi tham gia mạng toàn cầu. Đây cũng là phiên bản cuối cùng của Windows NT để chỉ còn một hệ điều hành Windows duy nhất (tên Windows NT vẫn còn được dùng nhưng chỉ để đánh mã lõi hệ điều hành).

Windows 9X - Tiến vào kỷ nguyên đa phương tiện

Windows 98 được ra mắt vào tháng 6/1998 với việc tích hợp phiên bản đủ mạnh của trình duyệt Internet Explorer vào lõi hệ điều hành. Windows 98 được xem là một bước nâng cấp, chủ yếu về độ tin cậy và dễ dùng hơn so với Windows 95. Yêu cầu cấu hình cho Windows 98 cũng cao hơn hẳn Windows 95  nhưng phù hợp với sự phát triển của công nghiệp phần cứng: bộ xử lí 486 hoặc Pentium, 16 MB bộ nhớ, ổ cứng trống 120 MB. Với Windows 98, cuộc chiến trình duyệt dần đi vào kết thúc khi Internet Explorer ngày càng tỏ ra quá mạnh, và quan trọng nhất là sẵn có miễn phí, giúp nó trở thành một hệ điều hành cực kỳ quan trọng khiến người dùng nâng cấp lên Windows 98.

Windows 98 Second Edition là một nâng cấp quan trọng của Windows 98 với phiên bản Internet Explorer 5.0 và hỗ trợ kết nối Internet trong mạng cục bộ, bên cạnh đó là cửa hàng tá lỗi tích lũy từ thời Windows 95 cũng như mang đến khả năng tương thích phần cứng cực kỳ tốt.

Windows 98 Second Edition là một nâng cấp quan trọngcủa Windows 98 với phiên bản Internet Explorer 5.0 và hỗ trợ chia sẻ kết nối Internet trong mạng cục bộ, bên cạnh đó là sửa hàng tá lỗi tích lũy từ thời  95 cũng như mang đến khả năng tương thích phần cứng cực kỳ tốt.

 Windows 98 SE còn tích hợp Windows Media Player 6.1 với việc hỗ trợ định dạng nhạc số MP3 cũng như hổ trợ rất tốt các định dạng file đa phương tiện phổ biến lúc đó như: WAV, MIDI, MPG, ASF/ASX, Quicktime Movie…

Windows Millennium Edittion (Windowsme) - Giao thời

Đây là “lấp chỗ trống” nên bên trong cái giao điện hào nhoáng của nó là một nền tảng nổi tiếng nhiều lỗi nhất trong các phiên bản Windows. Được tích hợp với Windows. ME là trình duyệt  Internet Explorer 5.5, kẻ chính thức đoạt thế độc quyền trong lĩnh vực trình duyệt Web khi cho Netscape Navigator đo ván đề thị phần. Tính năng Windows Restore, Windows Auto Udate, Windows Media Player 7 cùng một vài ứng dụng Windows 98 SE thì việc chuyển sang Windows ME có thể là một sai lầm.

Windows 2000 Professional - Hợp nhất Windows

          Windows 2000 được ra mắt vào tháng 2/2000 có ý nghĩa hơn cả một đợt nâng cấp “đến hẹn lại lên” khi nó đánh dấu sự thống nhất giữa Windows và Windows NT, hay chính xác hơn, Windows đến thời Windows 9x đã hoàn thành sứ mạng lịch sự, và các hệ Windows sau này sẽ được xây dựng toàn bộ trên nền Windows NT. Windows 2000 Professional được xây dựng trên nền tảng của Windows NT Workstation 4.0 nhưng với các bổ sung quan trọng để mang đến tính ổn định, dễ dùng, tương tác tốt với internet, hỗ trợ các hệ tính toán di động (PDA, điện thoại di động…), nhận diện phần cứng theo kiểu “cắm và chạy”, tương thích tốt với một thiết bị mạng hữu tuyến, hỗ trợ thiết bị SUB, IEEE 1494, hồng ngoại… Nói cách khác, Windows 2000 Professional là Windows NT Workstation 4.0 với tất cả điểm hấp dẫn của Windows 98 SE, qua đó thích hợp cả cho môi trường doanh nghiệp lẫn sử dụng cá nhân. Còn nhiều bổ sung quan trọng khác nữa cho Windows 2000 nhưng thuộc về các phiên bản dành cho máy chủ.

          Yêu cầu cấu hình còn cao, chưa thật sự mạnh mẽ về giải trí đa phương tiện và tương thích ngược với các ứng dụng trên nền 9x vẫn còn kém là yếu tố khiến Windows 2000 Professional là bước thống nhất mang tính kỷ thuật hơn là được chấp nhận rộng rãi bởi người dùng.

Windows - Cuộc cách mạng mang tên chuyên nghiệp

          Vào ngày 25/10/2001. Microsoft chính thức ra mắt Windows XP, hệ điều hành thành công nhất của đại gia này tính đến thời điểm hiện tại, nó cũng là hệ điều hành tồn tại lâu nhất trên thị trường cho đến khi Windows Vista xuất hiện (gần 6 năm). Windows XP được sự hợp nhất của Windows trên khía cạnh thương mại khi nó xứng đáng là hệ điều hành NT đầu tiên thích hợp cho người dùng cá nhân và gia đình. Với các tính Năng cơ bản này được phủ lên một giao diện hoàn toàn mới, đảm bảo người dùng ít kinh nghiệm cũng có thể dễ dàng tiếp cận. Đây cũng là lần đầu tiên chứng kiến sự phân kì mạnh mẽ của một “đời” hệ điều hành:

 

Windows XP Home và Windows XP Prefessional Là hai phiên bản nguyên thủy với định hướng thị trường thể hiện rất rõ trên tên của chúng.

 

Windows XP 64-bit Edition:  Là Windows XP Professional chạy được trên bộ xử lí Inel Itanium 64 bit.

 

Windows XP Media Center Edition: Là Windows XP Professionnal được bổ xung các tính năng giải trí đặc biệt để biến máy tính thành trung tâm giải trí số của gia đình.

 

Windows XP Tablet Edition:  Là phiên bản Windows XP được thiết kế đặc biệt để sử dụng cho màn hình cảm ứng và cách thức nhập liệu qua bút trỏ.

 

Windows XP Professional x64 Edition: Một phiên bản 64 bít khác của Windows XP Professional, dùng cho các máy dùng bộ xử lí 64 bít tương thích x86 (Pentium D, Athlon 64…)

 

Windows XP Starter Edition: Phiên bản Windows XP được thiết kế riêng cho một số quốc gia có thu nhập đầu người còn thấp. Hạn chế của Starter Edition là khá nhiều: mở tối đa ba chương trình hoặc ba cửa sổ, không hỗ trợ bất kỳ hình thức nào trừ Internet, giới hạn độ phân giải màn hình… Nhưng ưu điểm nổi bật của nó là giá cực rẻ và thường được bản địa hóa.

          Sau XP chính là Windows Vista, một sản phẩm được “thai nghén” khá lâu và kỳ vọng sẽ là một cuộc cách mạng tiếp theo như những gì Windows 95 và Windows XP đã làm được.

 

Tham khảo:

Nội dung:

Windows History Desktop (www.microsoft.com)

XP & Vista (PC Magazine)

Xikipedia

(http://en.wikipedia.org/wiki/History_of _Microsoft_ Windows)

 

A History of Microsoft Windows

(http://blog.wired.com)

Windows 1.0 to  XP (www.infosatellite.com)

 

Cập nhật ( 06/12/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !