Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Tìm lại điệu hát 36 năm (Yên Khương, Huy Thông)
Tìm lại điệu hát 36 năm (Yên Khương, Huy Thông) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
15/10/2010

Tìm lại điệu hát 36 năm mới hát một lần!

* Yên Khương - Huy Thông

Ở xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, nay thuộc Hà Nội, có một điệu dân ca nghi lễ đặc biệt, theo truyền thống, phải 36 năm mới được vang lên một lần, và tất cả những người hát, theo quy định, phải là trai chưa vợ gái chưa chồng. Đó là hát Dô. Lần tổ chức lễ hội và hát Dô gần đây nhất là năm 1926, bởi lẽ chiến tranh liên miên cùng lời nguyền kiêng kỵ nên chu kỳ đó đã đứt đoạn. Bởi đứt đoạn, lại kèm theo những quy định khắt khe, nên ở Liệp Tuyết, quê hương của hát Dô hiện nay chỉ có 3 người còn hát được…

         Tương truyền, Thánh Tản Viên một lần dạo chơi ven qua sông Tích thấy đất đai màu mỡ, phì nhiêu liền gọi bà con dân làng ra dạy cách chọn giống, gieo lúa. Dạy xong, Thánh từ biệt và hẹn ngày tái ngộ bà con sau mùa lúa chín. Thế nhưng hết vụ mùa này đến vụ mùa khác, người dân Liệp Tuyết vẫn không thấy Thánh quay lại. 36 năm sau, Thánh mới trở lại và dạy bà con ca múa. Từ đó, dân làng xây đền thờ để tưởng nhớ công ơn và cứ 36 năm lại mở hội ca hát một lần gọi là hát Dô vào dịp lễ hội đình Khánh Xuân. Cũng theo lời kể, nếu ai cả gan hát vào ngày bình thường sẽ bị Thánh “vật chết” hoặc chí ít cũng mang tật vào thân...

Chuyện bà góa một nách hai con nuôi hát Dô.

Nghe phong thanh, Rằm tháng Giêng năm Kỷ Sửu này, ở Liệp Tuyết sẽ mở hội hát Dô tại đền Khánh Xuân, tôi điện thoại cho bà Nguyễn Thị Lan, Chủ nhiệm CLB hát Dô xã Liệp Tuyết, để “đặt chỗ”. Bà bảo: “Năm nay lễ hội đền Khánh Xuân không có hát Dô đâu! Đừng đến. Có đến thì xem trò khác của làng thôi”. Chúng tôi gặng hỏi lý do thì bà nói ngắn gọn: “Mình tôi thì diễn xướng sao nổi. Một mình một ngựa ra trận còn được chứ một mình diễn xướng hát Dô hầu thánh thì “phạm hèm” (điều kiêng kị, cấm kị - NV) rồi”... Tôi chưng hửng.

 

Bà Lan (người cầm xênh) đang dạy hát Dô cho các em trong CLB

Mới được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ nhân cách đây chưa lâu, bà Nguyễn Thị Lan chính là người tham gia “chèo lái” đội hát Dô Liệp Tuyết 19 năm qua. Chồng hy sinh khi còn trẻ, năm 1989, bà học được mấy câu hát, dăm ba đoạn trích để hát cho vui, không ngờ “phạm hèm” Đức Thánh mà không hề hay biết gì, cứ hát hồn nhiên cả ngày không biết chán. “Hay là tôi... hát hay quá Đức Thánh quên luận tội chăng? Hay vì tôi là một bà góa, một nách hai con nhỏ nên Thánh không nỡ “vật chết”? Chẳng biết nữa..., chỉ biết (bà Lan đọc 4 câu lục bát viết cho chính mình): Quà Thánh rơi ở giữa làng/Phúc tôi “nhặt” được phải năng giữ gìn/Hai con một nách, không tiền/Hát Dô tôi biết còn “hèm” thì... quên. Bà bảo : “Nhiều người biết tin tôi hát Dô thì sợ hãi. Có người còn nói, bà to gan lớn mật lắm, muốn Thánh Tản Viên sơn vật chết hay sao mà suốt ngày bô bô “Trúc trúc, mai mai”, “Muỗi đốt tứ tung” thế hử? Tôi chậc, kệ. Càng bị rủa thì càng hát. Càng hát thì càng bị rủa, thậm chí hát đến nỗi người làng phát... sợ, không cả dám gần gũi chỉ vì sợ thánh “vật lây” sang mình”.

Thế rồi chuyện bà góa “to gan lớn mật” dám “xới tung làng” tìm con hát (những người hát Dô nữ - PV) khi chưa tới kỳ mở hội đã lọt đến tai ba vị tiền bối hát Dô từ lâu mai danh ẩn tích. Cụ ông Tạ Văn Lai, người đầu tiên dạy hát Dô cho bà Lan chính là ông cái (người cầm xênh duy nhất là nam giới - PV) của hội hát Dô cuối cùng ở Liệp Tuyết năm 1926. Hai con hát cùng tham gia hội hát Dô cuối cùng với cụ Lai tiếp tục dạy hát Dô cho bà Lan là cụ bà Đàm Thị Điều và cụ bà Kiều Thị Nhuận. Hiện cả ba cụ kể tên trên đã quy tiên hết cả. 36 làn điệu hát Dô, bà Lan học từ cụ Đàm Thị Điều trong 4 ngày, 3 đêm thì xong. Nhưng sau đó 3 hôm thì cụ Điều bị cảm và qua đời. Bà Lan vẫn còn nhớ thời khắc kẻ ở người đi giữa hai thầy trò: “Trước khi đi cụ dặn tôi là không được mang hát Dô ra khỏi làng, cụ nói: Ta gặp Thánh Tản Viên rồi, ngài nói giao lại việc này cho con nên hãy hầu ngài cho chu đáo. Đó là món quà Thánh, không phải ai cũng dám nhận đâu. Nó là dấu tích lịch sử - văn hóa của Lập Hạ (Liệp Tuyết) mình đó”.

Và chuyện “lão khùng” thôn Bái Nội hát Dô… trong mộng

 

Ông Nguyễn Tiến Kiên (thôn Bái Nội) 62 tuổi, học hát Dô từ cụ Thông (ở xã Tuyết Nghĩa, đã mất năm 1996) thì lại bị hát Dô ám ảnh trong cả những giấc mơ. Sau khi học thuộc 36 làn điệu hát Dô, ông quay sang truyền dạy cho các bạn trẻ trong 5 thôn thuộc xã Liệp Tuyết. Vì từng được đào tạo về nhạc nên những gì ông học cũng như sau này truyền dạy lại cho học trò đều hết sức bài bản và kỹ lưỡng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà “dẫu có cạy mồm cũng không nói”, hiện nay, ông Kiên cũng đã rút về “ở ẩn”.

 

“Tôi bỏ cuộc vì rằng hát Dô bây giờ có phần lệch với tinh thần hát Dô thời xưa tôi được biết. Ngày xưa, khi vào hội, cái (người cầm xênh) trong mặc áo trắng, ngoài mặc áo the đen, quần trắng và đầu thì quấn khăn lượt. Ngày nay, cái có thể tay đeo đồng hồ, chân đi giày da cũng chẳng sao. Xưa, các bạn nàng mặc áo năm thân, trong mặc áo vàng và ngoài cùng mặc áo the. Đội hình hát Dô cổ truyền chỉ 18 đến 20 người và không được lẻ, nhưng nay thì lên đến 40 người cũng chẳng hề hấn gì. Đồ trang sức phải có khi hát Dô gồm: cổ đeo hạt vàng, tay đeo nhẫn hoa làm bằng hoa giấy, túi múi cam. Trong túi múi cam đó đựng có thể là kinh, tràng, trầu cau hoặc gương lược... Ngày nay, những thứ đồ trang sức đó, tôi để ý, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Cứ thế, đặc trưng thuần túy của hát Dô theo đó nhạt đi mất rồi” - ông Kiên nói.

 

Một lý do khác khá tế nhị là vì ông tự ái với những lời bàn tán của người dân xung quanh. “Người ta gọi tôi là “Kiên khùng”, lão già ngớ ngẩn, chưa thấy quan tài chưa biết chết là gì, dám thách thức với lời nguyền của Thánh, cả gan “phối hợp cùng cán bộ văn hóa huyện” hát và dạy hát Dô khi “chưa được sự cho phép của Thánh”. Vì thế, tôi hay mộng mị. Có khi tỉnh mộng, miệng còn đương hát “Hỡi bạn nàng ta... Ơ.. hỡi bạn nàng ta...” khiến bà nhà tôi cũng tã mồ hôi trán chẳng hiểu có chuyện gì đang xảy ra nữa”.

 

Hàng ngày ông Kiên không đi đâu, chỉ loanh quanh ở nhà, ôm lấy cái điếu cày với một rương sắt tây toàn những... khuông nhạc được ông kẻ lại bằng bút chì, trên những tờ giấy xám xịt như vỏ bao xi măng, cùng với đó là 36 làn điệu hát Dô cổ. Ngoài ra, ông Kiên còn sở hữu cuốn Dân ca Hà Sơn Bình, không rõ của ai vì đã mất bìa, màu giấy ố vàng, gáy sách khâu chỉ xộc xệch. Trong cuốn sách ấy có phần nói đến lịch sử, nguồn gốc ra đời hát Dô Liệp Tuyết và có hẳn phần phụ lục in lại những bài hát Dô cổ. Tuy không đủ 36 làn điệu như bà Lan được cụ Điều tặng lại nhưng chừng ấy vốn liếng cũng đủ cho ông hàng ngày “lên cơn hát Dô” cho bà nhà nghe.

Cập nhật ( 15/10/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online