Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Vùng châu thổ sông Mê Kông tại sao bị ngập lụt (Nguyễn Văn Trường)
Vùng châu thổ sông Mê Kông tại sao bị ngập lụt (Nguyễn Văn Trường) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/12/2010

VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MÊ KÔNG TẠI SAO BỊ NGẬP LỤT

* Nguyễn Văn Trường

Năm 2000 đã ghi lại thảm hoạ lũ lụt lớn nhất trong vòng 40 năm qua ở vùng châu thổ sông Mê-kông. Bên cạnh những thông tin thời sự xung quanh sự kiện này nhiều nhà khoa học Việt Nam cũng như nhiều nhà khoa học trên thế giới rất quan tâ tìm hiểu đến nguyên nhân của nó. Dưới con mắt của nhà địa chất học, Alain Le Page đã có bài viết đăng trên tạp chí Passion Viêt Nam, số 9 tháng 7 năm 2001. Chúng tôi xin giới thiệu để bạn đọc cùng tìm hiểu này.

Sông Mê-kông bắt đầu đổ vào Việt Nam ở chặng cây số thứ bốn ngàn, vận chuyển một khối lượng nước lớn, bắt nguồn từ Tây Tạng: trung bình 14.000 m3/giây, tức là gần 500 tỷ m3 nước một năm. Trong hành trình đó, sông Mê-kông kéo theo một khối lượng rất lớn chất rắn (cát, đất sét): từ 400 đến 1000 gam/m3 trong thời kỳ lũ, và từ 100 đến 400 gam/m3 trong thời kỳ nước cạn, tức là nếu tính theo mức thấp nhất cũng khoảng 300 đến 400 triệu tấn/năm.

Ít ra cũng đã từ một triệu năm, những vật liệu này tích tụ lại, hoặc trong lòng các nhánh sông, hoặc trong biển, tại đó chúng tạo thành những bãi bùn lầy ven biển, bị nhấn chìm dưới nước thủy triều định kỳ. Những khu vực bùn lầy này dần dà bị xâm chiếm bởi một loài thực vật thân cứng, chúng mọc dày đặc và rất thích hợp với thủy triều và những biến đổi về độ mặn của nước: rừng sú vẹt. Chính rừng sú vẹt này sẽ cố định và củng cố bùn để trở thành một nền đất ổn định. Và cứ như thế, vùng châu thổ tiến dần ra biển, tạo thành một bình nguyên rất thấp. Với phương thức hình thành như vậy, mặc dù có bề ngoài như thế nào, vùng châu thổ cũng vẫn không hoàn toàn phẳng.

Những thảm họa hàng loạt

Hng năm, cứ từ tháng năm trở đi, với hậu quả của những đợt gió mùa kèm theo mưa, mực nước sông Mê-kông lại bắt đầu dâng lên đến mức báo động cao nhất vào cuối tháng chín hoặc đầu tháng mười.

Tuy nhiên, dẫn đến thảm cảnh năm 2000 là do nhiều yếu tố. Ngập lụt ở mức kỷ lục và hiệu ứng của một vùng áp thấp nhiệt đới ngoài khơi Đà Nẵng, tác động đến cả phía Nam làm cho nước đột ngột dâng lên.

Nhìn chung, mạng lưới kênh, rạch và đê điều được phát triển rất tốt từ hơn hai thế kỷ đã làm cho nước thoát đi khá nhanh, hạn chế được tương đối thiệt hại. Song, cũng không ít thảm họa đến với hàng trăm con người. Sự kiện năm 2000 không phải duy nhất chỉ quan tâm đến mực nước, mà cũng phải quan tâm đặc biệt đến hiện tượng thời gian kéo dài: lũ lụt đã đến sớm hơn khoảng 10 đến 15 ngày so với những lần lũ lụt trước vào thời điểm đầu tháng 9.

Về tự nhiên, trận lụt năm 2000 là trận lụt lớn nhất trong vòng 40 năm qua; và nó cũng gây ra tổn thất to lớn không kém những thảm họa đã xẩy ra ở vùng này. Tuy nhiên, bù lại những mất mát, vùng châu thổ sông Mê-kông từ năm 1990 lại là một vùng phát triển lớn nhất về kinh tế - dân số - của đất nước.

Nguyên nhân nguồn nước: gió mùa, áp thấp nhiệt đới... và những đứa trẻ có tính khí thất thường

Ba hiện tượng khí hậu tác động đến những biến đổi về lượng mưa tại những vùng thuộc châu Á: gió mùa, là đặc thù của miền nhiệt đới, những vùng áp thấp nhiệt đới, và có thể cả cặp El Nino/La Nina thường xuất hiện ở những vùng ven Thái Bình Dương của Nam Mỹ.

Gió mùa: từ tháng Mười một đến tháng Tư, có những luồng gió A-li-giê mang theo hơi ẩm từ phía Tây Bắc thổi qua lục địa châu Á. Song cả mặt đất và mặt đại dương đồng thời được hâm nóng bằng những tia nắng gay gắt ngay từ lúc mới mọc lên ở bán cầu Bắc. Những khối đá hấp thụ và giải phóng nhiệt lượng nhanh hơn nhiều so với nước. Đến cuối mùa khô, vào tháng Tư, mặt trời ở điểm cao nhất tại bán cầu Bắc; như vậy lục địa nóng hơn đại dương tiếp giáp, nó sẽ làm nóng không khí khô bên trên, không khí bốc lên cao và được chuyển đổi ở tầm thấp bằng không khí rất ẩm thổi từ đại dương tới. Đến lượt không khí ẩm bốc lên cao, nguội đi và nước được chứa trong không khí dưới dạng hơi nước cô lại và thành mưa lớn. Khi rơi xuống, nước mưa làm mặt đất nguội dần. Vùng nóng lùi dần vào phía trong lục địa đồng thời không khí ẩm từ đại dương tiến dần theo cho đến giữa lục địa. Sau vài tháng, đất đã nguội hẳn, hơn nữa, khi đó mặt trời đã di chuyển một chút xuống phía chân trời (mùa đông đã đến !): mùa mưa chấm dứt và những luồng gió A-li-giê lại xuất hiện.

Những vùng áp thấp nhiệt đới: được hình thành một cách khó biết trước trên các trung tâm đại dương. Đó là những vùng hình tròn, đường kính khoảng từ 30 đến hơn 100 cây số, ở đó không khí nóng bốc lên cao và được thay thế ngay ở tầm thấp bởi không khí ẩm di chuyển đến dưới dạng gió xoáy, do đó qua các hình ảnh vệ tinh có những hình xoáy điển hình cuộn theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ trên bán cầu Bắc. Những vùng áp thấp di chuyển trong vài tuần, với tốc độ từ 20 đến 30 cây số/giờ nhưng luôn luôn hướng về phía Tây trước khi tan đi. Những vùng áp thấp tại phía Tây Thái Bình Dương thường được hình thành ở phía Đông Philippin, chỉ ít trong số đó vượt qua được quần đảo rào chắn này. Khi tới gần bờ biển Trung Quốc hoặc Việt Nam, chúng đổi hướng về hướng Bắc hoặc hướng Nam. Năm 2000, bờ biển Việt Nam chỉ bị 3 cơn bão lớn (tốc độ gió vùng áp thấp vượt trên 118 cây số/giờ): 2 cơn bão đầu tiên như quen lối đi vào bờ biển giữa Huế và Đà Nẵng (vùng bị hứng chịu nhiều nhất) trước khi di chuyển lên phía Bắc và tan đi tại vùng Hải Phòng. Chỉ duy nhất vùng áp thấp Rumbia di chuyển vòng quanh mũi Cà Mau trước khi tiêu tan vào tháng 12 tại Vịnh Thái Lan. Những vùng áp thấp nhiệt đới thường khởi đầu vào tháng 11, khi nước đã rút vơi đi một phần. Nhưng với năm 2000, nước chỉ mới bắt đầu chớm rút.

El Nino và La Nina: cặp hiện tượng thiên nhiên quái quỷ 

Vào thời gian bình thường, những luồng gió A-li-giê thổi về phía Tây, và đẩy những lớp nước nóng trên bề mặt Thái Bình Dương di chuyển từ Nam Mỹ tới Inđônêxia. Tuy nhiên, có nhiều năm người ta không xác định rõ nguyên nhân vì sao hiện tượng này diễn ra không bình thường. Trên các bờ biển Mỹ, hiện tượng thường diễn ra những cơn mưa to như trút nước, và giảm sút một khối sinh vật (vì những lớp nước không được làm nguội đi). Đó chính là hiện tượng mà các ngư dân, những nạn nhân đầu tiên đã gọi là El Nino vì hiện tượng này xảy ra vào thời điểm Lễ Giáng Sinh. Người ta nhận thấy hậu quả sau đó một thời gian ngắn là hạn hán nặng tại Đông Nam Á (đó là nguyên nhân những đám cháy rừng tại Inđônêxia năm 1997). Thường thường, một hoặc hai năm sau, hiện tượng này được thay thế bằng hiện tượng trái ngược lại, nghĩa là sự tăng cường những luồng gió A-li-giê. Hậu quả của hiện tượng này là nước trở nên rất lạnh ở Nam Mỹ, và quá nóng ở Châu Á: đó là La Nina, La Nina mang theo hơi ẩm rất lớn tạo ra những cơn mưa bất thường vào đầu năm. Người ta đã gán cho hai "đứa trẻ nghịch ngợm" này - có lẽ hơi quá đáng - nguyên nhân của tất cả những rối loạn về khí tượng có ảnh hưởng đến hành tinh chúng ta. Tuy nhiên, những nhà khí tượng học đều nhất trí cho rằng La Nina tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành những vùng áp thấp nhiệt đới. Trái lại, người ta ít biết về ảnh hưởng của nó đối với gió mùa. Như vậy, nếu nạn ngập lụt năm 2000 là sự tiếp nối của một hiện tượng La Nina bình thường nhưng xảy ra trong thời gian rất dài thì người ta khó có thể xác định được mối liên quan với những thảm họa đã xảy ra trước đó. Vậy nguyên nhân gây ra những thảm hoạ ngập lụt ở vùng châu thổ sông Mê-kông ít ra phải có sự kết nối giữa hai nhân tố: một là mùa mưa đến sớm, hai là phần nhiều nguyên nhân do những vùng áp thấp nhiệt đới tích cực hoành hành. Đặc biệt trong năm 2000, người ta đã chứng kiến hậu quả của hiện tượng nước rút chậm trên sông Mê-kông và sự hình thành liên tiếp những vùng áp thấp nhiệt đới, điều đó giải thích tại sao nước lại ngập lụt lâu như vậy.

Chống ngập lụt: khẩn cấp hay lâu dài đều là những giải pháp khó chọn

Dù có đáng sợ, nhưng ngập lụt cũng không phải không có lợi vì:

- Nó mang lại bùn cần thiết để tái sinh đất bị cạn kiệt do thâm canh.

- Nó loại bỏ những phân bón dư thừa, thuốc trừ sâu và đôi khi cả muối tích tụ lại trong mùa khô.

- Nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản của một số loài cá nuôi.

- Nó duy trì và phát triển phong phú sinh vật.

Vì thế, những giải pháp đề ra, phải tính đến một số quy định của chính phủ: (Lưu Phù Hạo (1), sách đã dẫn):

          - Hạn chế những thiệt hại liên quan đến ngập lụt trong những khu vực đô thị, những hạ tầng cơ sở đường sá, hạ tầng cơ sở khác và những vườn cây ăn quả.

- Tránh làm rối loạn dòng chảy, và giảm những tác động tiêu cực đối với môi trường.

- Giảm tối đa những tác động đến các phương tiện nuôi cá.

- Sử dụng những trầm tích do ngập lụt mang đến để làm cho đất màu mỡ thêm.

- Tránh dâng cao mực nước ở Campuchia.

Vậy có hai mặt cần phải xem xét: một là bảo vệ sinh mạng và tài sản, hai là giải quyết vấn đề thoát nước.

Vấn đề bảo vệ sinh mạng và tài sản tất nhiên có liên quan tới sự phát triển kinh tế trong vùng: những nhà ở tạm bợ là miếng mồi dễ dàng tiêu tan đối với nước. Để đối phó, mọi người đã được khuyến cáo là phải tôn nền đất trong những vùng đô thị lên cao hơn mức nước lụt, hoặc thay thế những cọc tre bằng những cọc bê-tông, thậm chí ưu tiên phát triển những nhà nổi như nhà của những người dân nuôi cá ở Châu Đốc. Trong những vùng có mật độ dân số cao, người ta dự định cho đắp đê và lấn biển. Còn đối với những vùng nông nghiệp, đã có đề xuất thay đổi thời kỳ gặt hái, nghiên cứu những loài cây ăn quả chịu được ngập lụt, và phát triển những công trình có thể đồng thời làm cho thoát nước hoặc tưới tiêu dễ dàng, giữ lại được những trầm tích, và vào mùa khô có thể ngăn không cho nước mặn tràn vào.

Tuy nhiên, vấn đề thoát nước sao cho thật nhanh vẫn là một giải pháp căn bản nhất. Hệ thống kênh mương và đê điều rất hoàn hảo đã được hình thành từ hàng thế kỷ, tỏ ra có hiệu quả khi thoát nước mau lẹ đối với những ngập lụt "thường thường", nhưng nhanh chóng bị bão hòa khi mực nước lên tới mức báo động III. Để chống chọi với thảm họa ngập lụt, Chính phủ Việt Nam đã khuyến cáo:

- Nạo vét các kênh mương hiện có.

- Đào một hệ thống kênh mương mới, một mặt để phá vỡ thế cô lập của Đồng Tháp Mười, và mặt khác để chuyển hướng một phần lớn nước về Vịnh Thái Lan.

Dĩ nhiên, tất cả những giải pháp đề ra đều vấp phải vấn đề chi phí cao, cao đến đâu hình như cũng chưa có số liệu rõ ràng. Tuy nhiên, ta cũng phải tự hỏi về những hậu quả kéo dài của những công trình được khuyến cáo: hiện nay người ta đã biết được nhiều công trình bảo vệ hoặc công trình thoát nước có thể làm biến đổi đáng kể môi trường: một số kênh mương được xây dựng và sử dụng từ thời kỳ thuộc địa đã làm biến đổi dòng chảy, tức là biến đổi quá trình trầm tích vùng ngoài khơi châu thổ. Do đó, việc tạo dòng chảy là khâu rất cần thiết và cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Một vấn đề khác là cung cấp nước sau này cho dòng sông. Trên thực tế, chúng ta biết rằng Trung Quốc đã cho xây dựng 5 đập dọc sông Mê-kông; tất nhiên người Trung Quốc hy vọng hiệu quả của nó có thể làm giảm đỉnh lũ ở những vùng hạ lưu, nhưng khó biết được lượng trầm tích do dòng sông mang đến sẽ ra sao ? Ví dụ về đập Assouan ở Ai Cập đáng được nêu ra: từ khi đập này được xây dựng, khối lượng trầm tích của sông Nil giảm đi rất nhiều, làm cho nông dân mất đi một nguồn đất phì nhiêu quý báu, đồng thời cũng làm ngừng hẳn sự mở rộng diện tích vùng châu thổ, và tại từng nơi, vùng châu thổ lại bị xói mòn dưới tác động của sóng và những dòng chảy của biển.

Xét về mật độ dân số và tầm quan trọng của một vùng châu thổ, thì khả năng loại trừ hẳn ngập lụt, dù nó là một thảm hoạ nhưng xem ra có vẻ khó thực thi. Còn "Sống cùng" có thể xác định như vậy theo các cơ quan chức năng Việt Nam, về giải pháp này,Lưu Phù Ho phát biểu: "Tình trạng ngập lụt tại châu thổ sông Mê-kông là hậu quả của những quy luật tự nhiên, đó là yếu tố môi trường phải được khai thác bằng một phương sách tự nhiên... Bởi vì chúng ta không thể trừ bỏ được nạn ngập lụt, nên chúng ta phải thích nghi với nó".

 

1-2 Trong tạp chí có ghi: “sách trích dẫn, Lưu Phù Hạo” (Luu Phu Hao, op. coi.) nhưng chúng tôi không thấy tên sách dẫn trước đó - chú thích người dịch.

Cập nhật ( 18/12/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online