Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Hoàng – Mai – Lưu và ca khúc Giải phóng Miền Nam (TS Trần Thuận)
Hoàng – Mai – Lưu và ca khúc Giải phóng Miền Nam (TS Trần Thuận) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
24/01/2011

“HOÀNG – MAI – LƯU” VÀ CA KHÚC “GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

* TS. Trần Thuận

Trường ĐHKHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh

1. Bộ ba “Hoàng – Mai – Lưu” – Duyên kỳ ngộ

Người dân Nam Bộ và cả nước nói chung, hẳn đã không còn xa lạ với những cái tên như Tôn Đức Thắng, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Huỳnh Văn Tiểng, Mai văn Bộ, Phạm Ngọc Thạch, Lưu Hữu Phước,... Họ là những người con Nam Bộ, những con chim đầu đàn trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong phong trào đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, vì tự do cho nhân dân trước và sau Cách mạng tháng Tám. Song có một cái tên mà không phải ai cũng biết, nó là sự kết tinh những vì sao sáng, góp phần làm nên đặc trưng văn hóa Nam Bộ: “Hoàng – Mai – Lưu”, vang danh từ thời tiền khởi nghĩa.

“Hoàng – Mai – Lưu” là bộ ba gồm Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước. Một chàng trai sinh ra và lớn lên tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Sài Gòn – Huỳnh Văn Tiểng, kết thân với hai người đồng chí của mình quê tận Cần Thơ – Mai văn Bộ và Lưu Hữu Phước. Họ đến với nhau trước tiên vì đồng chí hướng. Họ đi theo tiếng gọi non sông, họ sẵn sàng “xếp bút nghiên” lên đường tranh đấu. Họ lao vào phong trào bằng nhiệt huyết, bằng sức trẻ của những người nặng lòng với nước với dân. Họ cùng “chung một bóng cờ”, ngọn cờ cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, quyết xả thân vì đại nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân.

Để có được bộ ba “Hoàng – Mai – Lưu”, các chàng trai còn đến với nhau bằng trái tim rực lửa, đầy cảm xúc của những người cầm bút. Họ cùng viết lên những ca từ, những giai điệu hào hùng, sôi nổi, thúc giục thanh niên “lên đàng”, “chen vai nề chi chông gai” gánh vác những trọng trách quốc gia giao phó, vì tương lai đất nước huy hoàng, “nguyện đồng lòng điểm tô non sông”. Họ chung tay tạo nên một dòng âm nhạc mới mẻ đầy sinh khí, phù hợp với yêu cầu đất nước đặt ra mang tính thời đại. Lưu Hữu Phước viết nhạc, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng viết lời, cho ra đời những ca khúc hùng tráng, ca ngợi truyền thống đánh giặc của cha ông. Những ca khúc họ viết ra như Bạch Đằng Giang (lời Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành, năm 1940), Tiếng gọi thanh niên (1941), Ải Chi Lăng, Lên đàng (lời Huỳnh Văn Tiểng, 1944), Xếp bút nghiên (1944)... đã có tác dụng thức tỉnh các thế hệ thanh niên, hun đúc cho họ tinh thần dân tộc, tạo cho họ bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng, đấu tranh vì lý tưởng độc lập, tự do.

Từ cuối những năm 30 của thế kỷ trước, khi Lưu Hữu Phước từ Cần Thơ lên Sài Gòn học. Tại đây, Phước đã gặp Tiểng và Bộ. Ba chàng trai đã kết thân với nhau và hợp thành bộ ba “Hoàng – Mai – Lưu”, thành lập Câu lạc bộ Học sinh (Scholar Club) ở trường trung học Pétrus Ký. Scholar Club trở thành đầu mối tập hợp học sinh, sinh viên yêu nước ở Sài Gòn và các nơi khác. Cuối năm 1939, Lưu Hữu Phước sáng tác bài hát La Marche des Étudiants, Mai Văn Bộ viết lời bằng tiếng Pháp. Đây là ca khúc được xem là bài hát chính thức của Scholar Club. Nhiều bài hát mang phong cách hành khúc liên tục ra đời như một dòng chảy, và tình thân giữa ba chàng Hoàng – Mai – Lưu càng thêm thắt chặt. Họ có những đóng góp to lớn trước hết đối với phong trào thanh niên, trí thức để làm nên Cách mạng tháng Tám diệu kỳ.

Mỗi người mỗi việc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, song không khó khăn nào có thể ngăn trở sự hợp tác giữa ba con người độc đáo này. Họ như sự hợp lưu tạo nên dòng chảy mạnh mẽ trong nền văn hóa Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra “sự hợp lưu” giữa ba con người ấy qua ca khúc Giải phóng miền Nam. Ba cá thể như như ba cây đại thụ ở các lĩnh vực khác nhau nhưng hầu như đã hòa quyện với nhau làm một trong tên gọi Huỳnh Minh Siêng, tác giả của ca khúc được xem là bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, quốc ca của chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Banner website chính thức của Lưu Hữu Phước sẽ đặt ở đây

Nếu bạn là webmaster website chính thức của Lưu Hữu Phước vui lòng liên hệ email Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó để đặt quảng cáo miễn phí

 

2. Giải phóng miền Nam – Bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Tháng 9.1960, trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, Tôn Đức Thắng đã đề cập đến việc thành lập một mặt trận ở miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục miền Nam. Ông cho rằng, đây là Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi ở miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp, đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến hành giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà. Mục tiêu cuối cùng của Mặt trận là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Trong Mặt trận đó, những người cộng sản miền Nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận.

Sau phong trào Đồng khởi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, vấn đề được đặt ra là phải có bài ca cho Mặt trận. Ngày 20.7.1961, Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập do Trần Hữu Trang làm Chủ tịch. Hội đã giao cho bộ ba “Hoàng – Mai – Lưu” sáng tác một ca khúc làm bài ca chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam lúc đó, đề nghị Lưu Hữu Phước bàn với anh em thể hiện cho được tính chất quốc ca, cần nhắm vào đối tượng cho cả nhân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ; kêu gọi nhân dân đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ tay sai của Mỹ; nêu rõ triển vọng thống nhất đất nước.

Sau một tuần nhận nhiệm vụ, Mai Văn Bộ và Huỳnh Văn Tiểng đã phác thảo xong ca từ của bài hát, Lưu Hữu Phước viết phần nhạc. Không bao lâu, ca khúc “Giải phóng miền Nam” hoàn thành. Lời bài hát thật thống thiết, mở đầu bằng lời hiệu triệu “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước”. Giai điệu bài hát viết theo nhịp 4/4, cung Mi thứ, đơn giản nhưng mạnh mẽ, quyết liệt, phù hợp với khí thế sục sôi của phong trào cách mạng, nhịp đi hùng tráng của các đội quân trùng trùng điệp điệp như sóng biển dâng trào:

“Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước.

Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước.

Ôi xương tan máu rơi, lòng hận thù ngất trời.

Sông núi bao nhiêu năm cắt rời.

Đây Cửu Long hùng tráng, Đây Trường Sơn vinh quang.

Thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù.

Vai sát vai chung một bóng cờ.

Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng!

Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng.

Thề cứu lấy nước nhà! Thề hy sinh đến cùng!

Cầm gươm, ôm súng, xông tới!

Vận nước đã đến rồi. Bình minh chiếu khắp nơi.

Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời”.

Bài hát giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ, nhịp điệu đơn giản, dễ phổ cập. Đây chính là nguyên tắc mà Lưu Hữu Phước đã tự đề ra cho chính mình đồng thời được xem là phương châm sáng tác của nhiều nhạc sĩ cách mạng: “làm bài hát mà nhân dân hát không đúng là do mình soạn sai, chứ không phải nhân dân hát sai... Tôi vận dụng mọi thứ kỹ thuật trong vốn hiểu biết ít ỏi của tôi để làm cho bài hát dễ phổ biến hơn và diễn đạt được sát hơn...”.

Khi nghe các tác giả trình bày hát bài Giải phóng miền Nam lần đầu đ duyệt, Phạm Hùng với tư cách là cán bộ cấp cao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã xúc động, đứng lên nói to: Được rồi, hay lắm! Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng! Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng! Vận nước đã đến rồi... Hay hết sức! Hoan nghênh và cảm ơn các đồng chí”.

Về tác giả bài hát, theo Lưu Hữu Phước, ban đầu để giữ bí mật nên lấy tên ghép là Huỳnh Minh Liêng (từ chữ cái đầu trong họ của bộ ba Hoàng – Mai – Lưu). Chữ Liêng được cố tình viết sai chính tả là L-i-ê-n-g (các từ liền với nhau bằng gạch nối) để mang tính dân gian và tránh trùng tên của nhân sĩ Đặng Thúc Liêng. Nhưng khi đưa lên báo Nhân Dân, do việc sắp chữ bị nhầm từ chữ L thành chữ S (do chữ L hoa viết tay nên dễ nhầm thành S), nên đã in thành Siêng. Vì vậy Huỳnh Minh Siêng trở thành tên tác giả chính thức của bài Giải phóng miền Nam. Về sau, bộ ba “Hoàng – Mai – Lưu” mà chủ yếu là Lưu Hữu Phước nhận thấy chữ Siêng cũng có cái hay của nó, tức siêng năng nên chủ trương không thay đổi.

Sau khi ra đời, bài hát nhanh chóng được phổ biến rộng rãi qua sóng phát thanh của Đài Phát thanh Giải phóng miền Nam và các đoàn văn công quân Giải phóng. Nó có tác dụng to lớn trong việc thôi thúc, cổ vũ mọi người dân đứng lên đấu tranh với một niềm tin sâu sắc: “Vận nước đã đến rồi. Bình minh chiếu khắp nơi. Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời”.

Nội dung của bài hát là sự tố cáo mạnh mẽ sự tàn bạo của kẻ thù: đế quốc Mỹ và bè lũ bán nước đã làm cho sông núi bao nhiêu năm cắt rời, người dân Việt xương tan máu rơi nên nỗi căm hờn đã biến thành sức mạnh dâng trào như thác đổ. Họ nguyện sát cánh bên nhau, chung một bóng cờ, cầm gươm ôm súng xốc tới, cho dù có hy sinh vẫn nguyện cam lòng, thề hy sinh đến cùng cho miền Nam hoàn toàn giải phóng, cho nước nhà thống nhất, dân ta được tự do. Tiếp nối truyền thống của cha ông bao đời gìn giữ non sông, với Cửu Long hùng tráng, với Trường Sơn vinh quang, thúc giục các thế hệ thanh niên lên đường xông pha giết giặc, cứu nước nhà.

Lời bài hát ngắn gọn mà như xoáy tận tâm can mỗi người dân Việt yêu nước thương nòi. Nó như lời “Hịch tướng sĩ” năm xưa thời cha ông ta đánh giặc Thát, Hưng Đạo Đại Vương đã viết: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm; nó như một lời thề sắt son mà Quang Trung đã thổi bùng vào đoàn quân vệ quốc chuẩn bị ra sa trường đại phá quân Thanh: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Và mới đây thôi, bài Tiến quân ca vang dội, thúc giục lòng người: “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc, bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, súng ngoài xa chen khúc quân hành ca... Vì nhân dân chiến đấu không ngừng, tiến mau ra sa trường. Tiến lên, cùng tiến lên! Nước non Việt Nam ta vững bền”. Với truyền thống ấy, với tinh thần ấy, bài Giải phóng miền Nam, một bản chính ca có tầm vóc lịch sử, có tầm tư tưởng lớn và giá trị nghệ thuật cao, sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần tăng thêm niềm tin và nghị lực cho tuổi trẻ, nâng đôi chân những chiến sĩ Giải phóng quân đạp lên thép gai và súng đạn của kẻ thù,... Tất cả những giá trị được tạo ra từ ca khúc đã thực sự trở thành những yếu tố cơ bản góp phần đáng kể vào thắng lợi chung của toàn dân tộc.

 

3. Giá trị truyền thống và chân lý rạng ngời

Chiến tranh đã qua đi, nước nhà đã thống nhất, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hòa vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân, chung tay xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Ca khúc Giải phóng miền Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của nó. Song giá trị của ca khúc không vì thế mà mất đi.

Cho đến hôm nay và mãi mãi mai sau, mỗi khi nghe lại bài hát Giải phóng miền Nam, hẳn người nghe không thể vơi đi niềm xúc động, tự hào. Âm vang của giai điệu như vẫn còn vọng mãi trong lòng các thế hệ con cháu như một lời nhắc nhở của núi sông. 

Với ca khúc Giải phóng miền Nam, bộ ba Hoàng – Mai – Lưu đã đóng góp vào sự nghiệp âm nhạc cách mạng Việt Nam một tài sản quý báu, hun đúc thêm truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do cho Tổ quốc. Giá trị truyền thống của ca khúc sẽ được gìn giữ và phát huy trong suốt quá trình bảo vệ và dựng xây non nước sáng tươi muôn đời.   

Cuối cùng phải thấy rằng, giá trị tư tưởng trong ca khúc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do!”. Chân lý đó không chỉ đúng với những gì đã qua trong lịch sử nước nhà, với cuộc sống hôm nay mà còn rạng ngời trong cả tương lai của nhân loại.

 

Chú thích:

(1) Huỳnh Văn Tiểng sinh năm 1920, tại huyện Củ Chi, TP.HCM. Từ năm 1936 - 1939, ông tham gia phong trào Đông Dương Đại hội do Xứ ủy Nam Kỳ lãnh đạo, đồng thời ông lập các nhóm học sinh ủng hộ báo Đảng, lập các tủ sách Mác-xít và vận động học sinh lấy chữ ký kiến nghị phản đối thực dân Pháp bắt giam các dân biểu cộng sản. Từ năm 1940 - 1943, ông lập Câu lạc bộ học sinh Sài Gòn và là Ủy viên Ban chấp hành Tổng hội Sinh viên vận động phong trào sinh viên yêu nước bằng những bài hát ca kịch, truyền bá quốc ngữ cho thanh niên. Năm 1944, Ủy viên Đảng Đoàn Phong trào Thanh niên Tiền phong ở Sài Gòn. Trong cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Từ năm 1945 - 1989, ông trải qua các chức vụ như phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ, Ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ Việt Nam (tồn tại từ 1944 đến 1988), Phó Tổng biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Văn nghệ Nam Bộ, Chủ tịch Hội Nhà báo Nam Bộ, phó Giám đốc sở Thông tin Nam Bộ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban phát thanh và truyền hình Việt Nam kiêm Giám đốc Đài Truyền hình Tp. Hồ Chí Minh, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa V, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban đoàn kết và hữu nghị các dân tộc Tp. Hồ Chí Minh,… Ông nghỉ hưu năm 1990 và mất ngày 4.6.2009 tại Tp. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 90 tuổi. Ông nhận được nhiều huân, huy chương vì sự đóng góp cho sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước như Huân chương Độc lập hạng 2, Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 1, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 1, Huân chương vì sự nghiệp báo chí,…

 

(2) Lưu Hữu Phước, một Nhạc sĩ lớn với các bút danh Long Hưng, Anh Lưu, Hồng Chí, sinh ngày 12.9.1921 tại Cần Thơ và mất ngày 8.6.1989 tại Tp. Hồ Chí Minh. Xuất thân từ cái nôi đờn ca tài tử. Năm 1936, ông đã viết được bản Giang sơn gấm vóc cho đàn nguyệt. Ông tự học lý thuyết âm nhạc và chơi mandoline, guitare. Là tác giả của những bản hùng ca, giải phóng; tác phẩm của ông luôn gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.

Sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học trường Y - Dược, thuộc Viện Đại học Đông Dương (1940 - 1944). Bấy giờ, phong trào đấu tranh chính trị của sinh viên Đông Dương rất mạnh mẽ, ông nhanh chóng trở thành một trong những thủ lĩnh của phong trào và có dịp tiếp xúc với một số thành viên của Việt Minh. Trong những đợt tổ chức các hoạt động về nguồn của sinh viên, Lưu Hữu Phước đã sáng tác được nhiều ca khúc nổi tiếng như Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hát giang trường hận (sau đổi tên là Hồn tử sĩ), Hờn sông Gianh, Người xưa đâu táHội nghị Diên Hồng, được xem là đỉnh cao của thể loại bài hát về đề tài lịch sử của Việt Nam, nhằm hun đúc tình thần dân tộc cho thanh niên Việt Nam. Nhân cuộc hành hương về Đền Hùng nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1942, ông đã sửa phần lời Việt của bài La Marche des Étudiants thành bài Tiếng gọi sinh viên nhằm thức tỉnh sinh viên từ bỏ mộng học giỏi đỗ cao để làm quan cho thực dân Pháp, đồng lòng quyết tâm trau dồi ý thức cứu dân, cứu nước, sẵn sàng tiến lên “đáp lời sông núi” khi Tổ quốc cần. Năm 1944, ông được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ vào Nam tham gia vận động cách mạng. Lúc ấy, đông đảo sinh viên ba miền Nam - Trung - Bắc rủ nhau bỏ học để trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng. Nhóm Hoàng – Mai – Lưu và Đặng Ngọc Tốt trong một đêm đã tập trung soạn ba bài hát: Xếp bút nghiên, Mau về NamGieo ánh sáng để kịp thời cổ vũ cho phong trào này, được gọi là phong trào Xếp bút nghiên, rầm rộ kéo dài mãi tận ngày Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với sự ra đời Khúc khải hoàn của ông. Pháp gây hấn ở Nam Bộ, Lưu Hữu Phước tham gia công tác tuyên truyền với chức vụ Giám đốc phòng xuất bản Nam Bộ. Tháng 5.1946, ông được điều động ra Hà Nội nhận nhiệm vụ thành lập Trung ương Nhạc viện (9.1946), sau đó cùng tập thể Hội Văn hoá Cứu quốc tản cư đi kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc. Ông được giao nhiệm vụ thành lập đội Thiếu nhi tuyên truyền xung phong, sau đổi tên là Đoàn nhạc kịch Thiếu nhi kháng chiến thuộc Trung ương Nhạc viện. Đoàn đã lần lượt trình diễn một số vở ca kịch do ông sáng tác như con thỏ ngọc (lời Mai Văn Bộ), Diệt sói lang, Phá mưu bù nhìn, Hai chàng lưng gù, Hái hoa dâng Bác. Năm1950, ông được giao nhiệm vụ thành lập Trường Thiếu nhi Nghệ thuật và được cử làm Giám đốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là tác giả của nhiều tác phẩm âm nhạc như Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Đông Nam Á châu đại hợp xướng, Tuổi hai mươi, Thiếu niên thế giới liên hoan, Nông dân vươn mình, Hăngri Máctanh, Em yêu chị Rây-mông, Cả cuộc đời về ta,... Từ năm 1954 đến 1965, ông làm Trưởng Ban Nghiên cứu Nhạc - Vũ thuộc Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hoá, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Âm nhạc và Múa, ngoài ra còn được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ban Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông cũng có công tổ chức sưu tầm dân ca và đã cho ra đời công trình nghiên cứu “Dân ca Quan họ”. Ông còn góp công thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam), Trường Múa, Trường Sân khấu Điện ảnh, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Tháng 2.1965, Lưu Hữu Phước được cử vào Nam, giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, sau đó Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ CMLTCHMNVN. Trong giai đoạn này, ông đã sáng tác các bài hát nổi tiếng như Bài hát Giải phóng quân, Giờ hành động, Hành khúc giải phóng, Xuống đường, Tiến về Sài Gòn, đặc biệt là Giải phóng miền Nam, bài hát chính thức của Mặt trận DTGPMNVN. Sau năm 1975, ông trở về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978 - 1989), được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Quốc gia, Thành viên Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, đại biểu Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Với những đóng góp to lớn, ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương, trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất (1987), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996).

 

(3) Mai Văn Bộ sinh ngày 09.7.1918, tại huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ trong một gia đình trung lưu. Nguyên Đại sứ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ, Hòa Lan, Lucxambua.

Năm 1940, sau khi đỗ tú tài, ông ra Hà Nội học đại học.Thời gian này, Mai Văn Bộ viết bài Bạch Đằng GiangẢi Chi Lăng rồi được Lưu Hữu Phước phổ nhạc và trở thành những bài hát hùng tráng ca ngợi truyền thống đánh giặc của tổ tiên. Bạch Đằng GiangẢi Chi Lăng trở thành những bài hát truyền thống được thanh niên, sinh viên Hà Nội ưa thích và hát vang trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Năm 1941, ông viết lời tiếng Pháp La Marche des Étudiants dựa trên nền nhạc Tiếng gọi thanh niên của Lưu Hữu Phước và được Tổng hội sinh viên Đông Dương chọn làm bài hát nghi lễ. Năm 1942, được bầu vào Ban Chấp hành Tổng hội sinh viên Đông Dương, với chức vụ Trưởng ban Biên tập tờ báo Manôme – cơ quan ngôn luận của Tổng hội. Năm 1944, ông “xếp bút nghiên” về Nam kháng chiến. Tại Sài Gòn, ông phụ trách biên tập tuần báo Thanh niên – chuyên san Văn hóa – cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Việt Nam – Kỳ bộ Nam Bộ. Tuần báo Thanh niên phát hành ngay giữa thành phố Sài Gòn, với nội dung kêu gọi giới trẻ và quần chúng lao động yêu nước chuẩn bị lực lượng, tích cực tham gia vào các cao trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tháng 9.1944, tuần báo Thanh niên bị đình bản, đến đầu năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong và được giao trực tiếp phụ trách tờ báo Tiến – cơ quan ngôn luận của Thanh niên Tiền phong; tham gia cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám và sau đó, được chính phủ cách mạng bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Báo chí Nam Bộ. Ngày 23.9.1945, cuộc kháng chiến Nam Bộ bùng nổ, Mai Văn Bộ ra chiến khu miền Đông phụ trách tờ báo Quyết Chiến; tham gia lực lượng vũ trang và trở thành chính trị viên đại đội. Năm 1947, ông về nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn hoạt động bí mật, xây dựng cơ sở với chức vụ Ủy viên Tuyên truyền, phụ trách biên tập tờ báo bí mật Liên Việt – cơ quan của Thành hội Liên Việt. Năm 1949, Trung ương Cục miền Nam điều động ông ra chiến khu phụ trách Đài phát thanh Tiếng nói Nam Bộ. Năm 1954, Mai Văn Bộ được cử làm thành viên của phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng với Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Sài Gòn theo tinh thần Hiệp định Genève. Năm 1973, ông tham gia trong phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký hiệp định Paris 1973 giữa 4 bên tham chiến. Nhiều năm công tác trong ngành ngoại giao, làm Đại diện Cơ quan Thương mại Việt Nam tại Pháp, hiệu phó Đại học Y Hà Nội sau đó là đại sứ Việt Nam tại Pháp và Bỉ. Ông viết nhiều sách. Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh (2004), Chúng tôi học làm ngoại giao với Bác Hồ (1999), Lưu Hữu Phước sự nghiệp âm nhạc (1998), Hà Nội - Pari: Hồi ký ngoại giao (1993)... do ông biên soạn hoặc chủ biên. Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng nhì, Huân chương kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hạng I.

 

(4) Lưu Hữu Phước được xem là một trong những nhạc sĩ đầu đàn của giới nhạc sĩ Việt Nam, đại diện cho phái âm nhạc Nam Bộ trong thời điểm khởi đầu của nền tân nhạc. Ông là một tên tuổi lớn trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, một danh nhân văn hóa Việt Nam; là một trong những người đầu tiên sử dụng rất thành công thể loại hành khúc - một thể loại từ âm nhạc phương Tây - để thức tỉnh, động viên lớp trẻ tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc; tính thôi thúc, cổ vũ, hiệu triệu luôn nổi rõ trong tác phẩm. Ông đã trở thành tác giả của những chính ca xuất sắc, có tầm tư tưởng lớn, giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử rất cao. Bên cạnh bài Giải phóng miền Nam, nhiều ca khúc của ông đã trở thành nhạc hiệu phổ biến cho các tổ chức, phong trào,... như Tiếng gọi Thanh niên trở thành bài hát chính thức của tổ chức Thanh niên Tiền phong, sau này chính quyền Việt Nam Cộng hòa sửa lời và chọn làm Quốc ca với tên Tiếng gọi công dân; Lên đàng trở thành bài hát chính thức của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Hồn tử sĩ được dùng trong các lễ tang theo nghi thức nhà nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và CHXHCN Việt Nam, bài hát này trước 1975 cũng được Việt Nam Cộng hòa sử dụng trong các nghi thức lễ tang quân đội; Ca ngợi Hồ Chủ tịch được xem là bài Lãnh tụ ca tại Việt Nam hiện nay.

[1] Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập ngày 20.12.1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ cách mạng thuộc tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (1961). Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16.02.1962 chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch gồm: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybih Aleo, Đại đức Sơn Vọng và Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký. Mặt trận ra “Tuyên ngôn” và “Chương trình hành động 10 điểm” với tinh thần đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam; mục tiêu đấu tranh nhằm giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.

 

(5) Dẫn theo Vũ Tự Lân, bài đăng trên báo Nhân Dân. Nguồn: Việt Báo (Theo_TuoiTre).

Cập nhật ( 24/01/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online