Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Vài suy nghĩ về Mạc Thị gia phả (Nguyễn Khắc Thuần)
Vài suy nghĩ về Mạc Thị gia phả (Nguyễn Khắc Thuần) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/03/2011

VÀI SUY NGHĨ NHỎ SAU KHI DỊCH VÀ CHÚ THÍCH BỘ MẠC THỊ GIA PHẢ

* Nguyễn Khắc Thuần

          Trong nghiên cứu lịch sử và văn hoá, gia phả luôn được coi là một trong những nguồn tài liệu có giá trị tham khảo rất cần được đặc biệt lưu ý. Riêng những dòng họ có nhiều nhân vật mà cuộc đời và sự nghiệp của họ từng gây ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ và lâu dài đối với vận nước thì gia phả của dòng họ ấy lại còn có giá trị tham khảo hơn. Thực tiễn đã cho thấy rằng, nhiều bộ gia phả chẳng những đã thiết thực bổ sung mà còn góp phần không nhỏ vào việc điều chỉnh nhận thức của chúng ta về một số sự kiện và vấn đề của quá khứ dân tộc. Có thể nói rằng, Hà Tiên Trấn – Hiệp Trấn – Mạc Thị Gia Phả (thường được gọi tắt là Mạc thị gia phả) là một trong số những bộ gia phả như vậy (1).

         Đây là bộ gia phả cổ nhất của Việt Nam (2). Tác giả của bộ gia phả này tên là Vũ Thận Vi, cũng tức là Vũ Thế Dinh. Ông là con nuôi của Mạc Thiên Tích  (3), từng theo hầu Mạc Thiên Tích trong rất nhiều năm trời. Mạc Thiên Tích là một trong những tướng lĩnh cao cấp của Nguyễn Ánh, vì thế, Vũ Thận Vi hiển nhiên là người trung thành với Nguyễn Ánh. Khởi đầu, Vũ Thận Vi được Nguyễn Ánh phong làm Cai Đội (đương thời, đây là chức võ quan thuộc vào hàng bậc trung của xứ Đàng Trong). Sau khi nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long, nhờ có nhiều công lao phò tá, Vũ Thận Vi được phong tới tước Hầu, hiệu là Dinh Đức, cho nên, sử mới chép là Dinh Đức Hầu Vũ Thận Vi. Hiện chưa rõ Dinh Đức Hầu vũ Thận Vi sinh và mất năm nào, chỉ biết đại để rằng ông là người sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ XIX mà thôi.

         Là con nuôi của Mạc Thiên Tích lại là người từng gắn bó rất mật thiết với Mạc Thiên Tích trong toàn bộ cuộc bôn ba theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, Vũ Thận vi có đầy đủ điều kiện thuận lợi để tìm hiểu và nắm vững lý lịch cuộc đời của từng thành viên trong dòng họ Mạc ở Hà Tiên.

         Cứ như ghi chép tản mạn của các bộ sử cũ thì Vũ Thận Vi đã bắt đầu khởi thảo Mạc thị gia Phả vào năm 1785 (tức là ngay sau khi toàn bộ tập đoàn quân xâm lược Xiêm La là bè lũ Nguyễn Ánh, trong đó có Vũ Thận Vi, bị nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, đánh cho tan tành ở Rạch Gầm – Xoài Mút). Tuy nhiên, có lẽ đó chỉ mới là những tập hợp về hệ thống bước đầu, mang ý nghĩa sơ lược của một bản phổ lệ nhiều hơn là giá trị thật sự của một bộ gia phả. Theo các tác giả của Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ) thì mãi đến ngày 19 tháng 6 năm Gia Long thứ 17 (tức là năm Mậu Dần – 1818 Vũ Thận Vi mới viết xong Mạc Thị Gia Phả. Và trong Mạc Thị Gia Phả, chính Vũ Thận Vi cũng xác nhận như vậy.

         Đây là tác phẩm được lưu truyền với nhiều bản viết tay khác nhau, chữ khá chân phương nhưng số chữ và số từ của các bản không đồng nhất. Năm 1978, chúng tôi may mắn sưu tầm được bản chép tay đầu tiên. Do nhận thấy Mạc thị gia Phả có không ít những tư liệu lịch sử khác hơn so với ghi chép của các thư tịch Hán – Nôm đương thời, cho nên đến đầu năm 1979, do yêu cầu riêng của công tác nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành lược dịch bộ gia phả cổ này. Hồi ấy, bản dịch chỉ mới được đánh máy để lưu hành nội bộ mà thôi (4). Sau các chuyến khảo sát nhau, tính đến năm 1992, chúng tôi lại có dịp tiếp cận thêm với hai bản Mạc Thị Gia Phả Viết tay khác nữa. Đó là chưa kể rằng, vào cuối năm 1993, trong chỗ gặp gỡ và trao đổi rất tình cờ, một danh nhân người Đài Loan còn cho tôi xem qua một bản Mạc Thị Gia Phả (cũng là bản chép photo lại) mà ngay cả chính ông ta cũng không rõ là xuất xứ từ đâu.

Thường thì càng có nhiều văn bản chúng ta càng dễ có thêm điều kiện thuận lợi để đối sánh, tuy nhiên, riêng trường hợp cụ thể này thì tình hình có phần khác biệt hơn. Giữa bốn bản chép tay khác nhau, quả thật là chúng tôi rất lúng túng trong việc chọn bản khung cho mình Sau nhiều lần công phu khảo xét văn bản và so sánh cẩn thận với ghi chép của nhiều thư tịch cổ khác, chúng tôi thấy bản viết tay mà chúng tôi sưu tầm được vào năm 1978 là đáng tin cậy hơn cả. Chúng tôi đã tiến hành dịch và cố gắng chú thích đầy đủ trước khi cho xuất bản bộ Mạc Thị Gia Phả.

         Cuộc đời của Vũ Thận Vi đã vĩnh viễn khép lại rồi, sự hay dở hoặc tốt xấu ra sao, chúng ta sẽ bàn đến vào một dịp khác, nhưng, nếu vì một lý do nào đó mà Mạc Thị Gia Phả của ông không được những người làm công tác nghên cứu khoa học xã hội biết đến để tham khảo thì có lẽ cũng là đều rất không nên. Như trên đã nói,  Mạc Thị Gia Phả hàm chứa tương đối nhiều chi tiết khác hơn so với các tác phẩm của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Trong số nhiều chi tiết khác hơn đó, chúng tôi thấy nổi bật lên bốn vấn đề sau đây:

01. Họ Mạc với quá trình tổ chức khai khẩn đất đai Hà Tiên.

         Đây là vấn đề rất lớn của lịch sử  Hà Tiên nhưng lại không phải là vấn đề lớn của cả nước,vì thế, chính sử của nhà Nguyễn không thể trình bày một cách đầy đủ được. Nhưng, với ý nghĩa là gia phả của chính dòng họ đã có công lập nên trấn Hà Tiên Mạc Thị Gia Phả đã giới thiệu một cách khá chi tiết toàn bộ quá trình lâu dài và gian khổ này. Đọc Mạc Thị Gia Phả, Chúng ta sẽ có thêm cơ sở tư liệu tin cậy để hình dung về chủ trương của họ Mạc Trong việc quy tụ nhân dân lưu tán về mở đất lập làng tại Hà Tiên, về vị trí cũng như quy mô cụ thể của bảy xã thôn đầu tiên nằm rải rác trên vùng đất ngày nay tương ứng với các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Cũng nhờ Mạc Thị Gia Phả mà chúng ta mới có thể hiểu được Mạc Cửu và con là mạc Thên Tích đã tìm cách thi vị hoá vùng đất Hà Tiên nhằm tạo ra sức hấp dẫn đối với kẻ sĩ và thường dân trong khắp bốn phương thiên hạ đương thời như thế nào.

2. Niên đại của sự kiện họ Mạc dâng đất Hà tiên cho chúa Nguyễn.

Đây là sự kiện có ý nghĩa rất lớn lao đối với toàn bộ quá trình mở cõi bờ về phương Nam của tổ tiên ta, nhưng rất tiếc là niên đại của sự kiện đặc biệt này lại được mỗi sách chép một khác. Trong Đại Nam Thực Lục truyện Đại Nam Liệt truyện, Quốc sử quán Triều Nguyễn chép là năm Mậu Tý (1708). Có lẽ do quá tin cậy vào ghi chép của Quốc Sử quán Triều Nguyễn, cho nên, hầu hết các tác phẩm hiện đại của chúng ta đều chép theo là năm 1708. Nhưng Mạc Thị Gia Phả, gia phả của chính lòng họ đã thực hiện việc dâng đất Hà Tiên lại ghi rõ vào năm Giáp Ngọ (1714). Trong Gia Định Thành Thông Chí (Bộ sách rất quí, gồm tất cả sáu quyển, hoàn tất gần như đồng thời với Mạc Thị Gia Phả), Trịnh Hoài Đức viết rằng: “Năm Giáp Ngọ (tức là năm 1714 – NKT), mùa thu, tháng 8, Hiển tông Hiếu Minh Hoàng Đế năm thứ 24, phong cho người Lôi Châu tỉnh Quảng Đông là Mạc chức Tổng Binh trấn  Hà Tiên” (5). Lời này tuy không trực tiếp xác nhận là Mạc Cửu đã dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn vào năm 1741, nhưng theo lẽ tự nhiên, việc các chúa Nguyễn phong chức cho Mạc Cửu chỉ có thể tiến hành ngay khi vừa nhận đất, cho nên, chúng ta có thể suy luận rằng, chính Trịnh Hoài Đức cũng gián tiếp xác nhận là Hà Tiên đã trở thành một bộ phận lãnh thổ của xứ Đàng Trong kể từ năm 1714. Xin được lưu ý thêm rằng, Trịnh Hoài Đức đã từng cùng với Vũ Thận Vi theo phò Nguyễn Ánh và từng ghi chép rất cẩn thận về mọi miền đất mà ông đã có dịp đi qua.

Sau khi tiến hành phân tích tất cả những chi tiết mang tính khả tín của Mạc Thị Gia Phả, đồng thời, sau khi đối sánh thêm với ghi chép của các giáo sĩ phương Tây có mặt ở nước ta lúc bấy giờ, chúng tôi cho rằng, có lẽ phải nói sự kiện Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn Phúc Chu diễn ra vào năm 1714 thì đúng hơn.

03. Số lượng quân Xiêm La sang xâm lược nước ta năm 1784.

Năm 1783, trong bước đường cùng, Nguyễn Ánh đã chạy sang cầu cứu quân Xiêm La và đến nữa năm 1784, lợi dụng hành vi phản dân hại nước ấy của tập đoàn Nguyễn Ánh, quân Xiêm La đã tràn sang xâm lược nước ta. Đó là sự kiện mà tất cả các thư tịch của ta thời Nguyễn đều chép. Nhưng, tổng số quân sử sách của nhà Nguyễn đều chép là hai vạn, duy chỉ có, Mạc Thị Gia Phả của Vũ Thận Vi chép là ngót năm vạn. Quốc sử Quán Triều Nguyễn đúng hay Vũ Thận Vi đúng? Theo chúng tôi thì ghi chép của Vũ Thận Vi có sức thuyết phục hơn. Trong Đại Nam Thực (Tiền biên), Quốc Sử Quán Triều Nguyễn diễn đạt khá rõ sự lúng túng của cả Xiêm La trong cuộc tấn công lần này thì chỉ nói có hai vạn mà thôi. Vũ Thận Vi trong Mạc Thị Gia Phả cho hay, quân Xiêm La là Chiêu – Tăng và Chiêu – Sương. Chúng chia thành hai đạo cùng tiến sang nước ta. Đạo thứ nhất gồm hai vạn thuỷ binh. Chiêu – tăng và Chiêu – Sương trực tiếp  chỉ huy luôn đạo thuỷ binh này. Đạo thứ hai gồm gần ba vạn  bộ binh do các tướng Lục – Côn, Sa – Uyển và Chiêu – thuỳ - Biện cầm đầu. Như vậy, theo  Mạc Thị Gia Phả, quân Xiêm La không phải chỉ tràn sang nước ta bằng đường thuỷ mà còn tả bằng đường bộ. Hơn thế nửa, đạo bộ binh băng qua Chân Lạp (nay là Căm – pu – chia) còn đông hơn cả thuỷ binh. Tư liệu này cho phép chúng ta có thể hình dung qui mô và diễn biến của trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm – Xoài Mút khác hẳn với trước đây.

04. Ảnh hưởng của họ Mạc đối với Hà tiên và với xứ Đàng Trong

Đọc Mạc Thị Gia Phả và đối sánh ghi chép của Mạc Thị Gia Phả với ghi của các thư tịch đương thời, chúng ta sẽ thấy rõ họ Mạc không những chỉ có công đầu trong việc chiêu mộ dân lưu tán đến khai khẩn đất Hà Tiên, lập nên các xã thôn phủ kín cả một vùng rộng lớn nay tương ứng với các tỉnh như Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau, mà còn góp phần quan trọng vào quá trình không ngừng mở rộng lãnh thổ về phương Nam của người Việt, một quá trình vốn được bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ thứ XI và hoàn tất vào giữa thế kỷ thứ XVIII. Thái độ của các chúa Nguyễn và của các Hoàng Đế  nhà Nguyễn thể hiện qua hàng loạt các sắc dụ được các bộ chính sử thế kỷ thứ XIX cẩn trọng chép lại đã chứng tỏ đều đó. Họ Mạc đã dày công xây dựng Hà Tiên thành một khu vực có bản sắc văn hoá rất độc đáo. Dấu tích của Phương Thành xưa do họ mạc xây đắp còn đó, những vần thơ của các bậc tao nhân mặc khách trong Chiêu Anh Các do Mạc Thiên tích lập ra vào năm 1736 còn ngân vang đâu đó, mười cảnh đẹp Hà Tiên (6) theo cách chuyển lựa và giới thiệu của Mạc Thiên Tích cũng đang còn đó… Đến với Hà Tiên xưa, đến với Đàng Trong xưa, không ai lại không được nghe những lời đầy trân trọng đối với họ Mạc. Việc Họ Mạc theo phò chúa Nguyễn, đặc biệt, việc mạc Thiên Tích một lòng trung thành với chúa Nguyễn Ánh là điều có thật, nhưng, những gì mà họ Mạc đã cống hiến cho Hà Tiên, cho giang sơn một thuở cũng là  điều có thật. Không ai có thể xoá bỏ quá khứ mà họ Mạc chính là một phần của quá khứ đó thôi.

1. Do sợ bị hiểu lầm rằng mình là di duệ của Mạc Đăng Dung (nhân vật bị Nho gia đương thời coi là kẻ thoán đoạt) cho nên Mạc Cửu (tổ đời thứ nhất của họ mạc ở Hà Tiên) đã thêm cho chữ Mạc bộ ấp ở bên phải, chữ Mạc để chỉ họ Mạc ở Hà Tiên gần giống chữ Trịnh, cho nên, cũng có người đọc nhầm thành họ Trịnh.

2. Cho đến nay, cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, chúng tôi chưa tìm tháy bộ gia phả nào của Nam Bộ viết trước  Mạc thị gia phả. Trên tinh thần đó, chúng tôi coi đây là bộ gia phả cổ nhất Nam Bộ.

3. Đời thứ nhất của họ Mạc ở Hà Tiên là Mạc Cửu không hề có tên lót nhưng vì Mạc Cửu được chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) ban cho bảy chữ để làm tên lót cho bảy đời nối tiếp mình là Thiên, Tử, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam, cho nên, đời thứ hai (con của mạc Cửu) là Mạc Thiên Tích đời thứ ba (con của Mạc thiên Tích) là Mạc Tử Hoàng, mạc Tử Xương, Mạc Tử Dung, đời thứ ba (con của Mạc Tử Hoàng) là Mạc Công Bạch, Mạc Công Trụ, Mạc Công Bính…

Chúa Nguyễn Phúc Chu cũng cho Mạc Cửu được dùng ngũ hành (kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ để ghép vào tên cho các đời, vì thế, con của họ Mạc vốn lúc đầu có tên là mạc Thiên Tứ, sau sửa thành Mạc Thiên Tích. Tứ hay Tích thì cũng đều có nghĩa là người trên ban cho kẻ dưới, như chữ Tứ bên trái của bộ bối mà chữ Tích thì bên trái lại có bộ kim nên mới đổi thành Mạc Thiên Tích cho hợp.

4. Thực ra, cách nay khoảng 40 năm, một học giả miền Nam là tân Việt Điểu cũng đã tiến hành lược dịch Mạc thị gia phả và cho in bản dịch này trên tờ Văn hoá nguyệt san. Tuy nhiên, căn cứ vào lời dịch thì thấy văn bản mà dịch giả sử dụng có khác với những văn bản mà chúng tôi đã tiếp cận được.

5. Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí. (Tập trung, quyển 3). Ở đây, Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế là chúa Nguyễn Phúc Chu (1961 – 1725). Đế hiệu này do nhà Nguyễn truy tôn mà có.

6. Mười cảnh đẹp của Hà Tiên có xuất xứ từ Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích gồm:

- Kim dữ lan đào.

- Bình San điệp thuý.

- Tiêu Tự thần chung.

- Giang Thành dạ cổ.

- Thạch Động thôn vân.

- Châu Nham lạc lộ.

- Đông Hồ ấn nguyệt.

- Nam Phố trừng ba.

- Lộc Trĩ thôn cư.

- Lư Khê ngư bạc.

Cập nhật ( 18/03/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online