Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Chính sách ruộng đất của các chúa Nguyễn (PGS. Huỳnh Lứa)
Chính sách ruộng đất của các chúa Nguyễn (PGS. Huỳnh Lứa) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/03/2011

CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CHÚA NGUYỄN Ở ĐỒNG NAI - GIA ĐỊNH TRONG THẾ KỶ XVIII

* PGS. Huỳnh Lứa

Như chúng ta đều biết công việc khai khẩn đất đai sản xuất nông nghiệp ở vùng Đồng Nai - Gia Định mới bắt đầu được đẩy mạnh kể từ khi Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh năm 1689 vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh vùng đất này, thành lập phủ Gia Định, thực thi việc quản lý Nhà nước, mang lại tâm lý “an cư lạc nghiệp”của lưu dân người Việt đến làm ăn sinh sống ở đấy. Thế nhưng chỉ khoảng sáu, bảy mươi năm sau, vùng đất này đã trở thành vựa lúa lớn của cả xứ Đàng Trong (từ Quảng Bình trở vào), Vậy yếu tố gì đã tạo nên sự phát triển nhanh chóng đến mức thần kỳ như vậy của nền kinh tế nông nghiệp ở đây? Qua việc nghiên cứu các tờ liệu lịch sử còn để lại, có thể khẳng định rằng một trong những yếu tố đã tạo nên thành quả to lớn đó chính là chính sách ruộng đất công nhận quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất thông thoáng của các chúa Nguyễn.

Tài liệu còn để lại cho biết phủ gia định do Nguyễn Hữu Cảnh thành lập gồm hai  huyện Phước Long, Tân Bình có cương vực rất rộng lớn, bao gồm các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Long An ngày nay. Tên cương vực hết sức rộng lớn đó dân số lúc bấy giờ chỉ có khoảng 4 vạn hộ (hoảng 200.000 người, có nghĩa là sự phân bố dân cư còn rất thưa thớt, do đó đất đai chưa được khai phá bao nhiêu, khiến cho vùng đất này về cơ bản  còn là một vùng đất hoang dã, như Lê Quý Đôn nhận xét trong sách Phủ Biên Tạp Lục – Một cuốn sách được viết vào những năm 70 của thế kỷ XVIII: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Đại, Cửa tiểu trở vào toàn bộ là rừng rậm hàng ngàn dặm”. (1)

Trong điều kiện đất rộng người thưa như vậy, lại xuất phát từ mong muốn mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang vùng này nhằm tăng thêm nguồn cung cấp lương thực cho cả xứ, chính quyền các chúa Nguyễn không những cho phép lưu dân được tự do chiếm đất cày cấy, mà còn thi hành chính sách khuyến khích việc trưng đất khẩn hoang, lập thành ruộng đất tư cho riêng mình. Điều này đã được ghi lại trong nhiều sử liệu như Phủ Biên Tạp lục của Lê Quý Đôn,  Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức (viết vào đầu thế kỷ XIX). Trong  Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn ghi rằng khi thành lập phủ Gia Định năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đã “Chiêu mộ những dân có vật lực (tức có tài sản – TG) ở các phủ Điện Bàn, Quãng Ngãi, Qui Nhơn xứ Quảng Nam di cư đến chặt cây khai phá trở thành bằng phẳng, đất đai màu mở, cho họ chiếm lấy (TG. Nhấn mạnh), lập thành vườn cau, làm nhà ở”(2) .Trong Gia Định Thành Thông Chí, trịnh Hoài Đức cũng viết “lúc ấy đất đai mở rộng ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ những lưu dân từ châu Bố Chính (Quảng Bình –TG) trở vô Nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, cho mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn bị thuế dinh, điền và lập bộ tịch đinh điền”(3).

Sự dễ dãi trong việc cho phép lưu dân tự tiện chiếm hữu ruộng đất để khai khẩn còn được thể hiện trong việc kê khai ruộng đất trưng khẩn. Điều này được Trịnh Hoài Đức ghi lại rất rõ trong Gia Định Thành Thông chí:”Địa phương Nông Nại nguyên xưa có nhiều ao chằm rừng rú. Khi đầu thiết kế lập ba dinh (4) mộ dân đến ở, có đất ở hạt phiên Trấn mà kiến trưng làm đất ở hạt trấn biên, hoặc có đất ở hạt Trấn biên mà kiến trưng làm đất ở hạt Phiên Trấn, như vậy cũng tùy theo dân nguyện, không ràng buộc chi cả, cốt yếu khiến dân mở đất khẩn hoang chia thành điền, lập thành thôn xã mà thôi” (5).

  Điều cần nhấn mạnh là chính sách khuyến khích dân chúng chiếm đất khẩn hoang dưới hình thức sở hữu tư nhân không phải chỉ được thi hành trong thế kỷ XVIII là lúc chính quyền chúa Nguyễn  mới bước đầu được xác lập ở vùng đất mới mở này, mà còn tiếp tục thực hiện trong cả những thập kỷ đầu thế kỷ XIX là lúc mà quyền thống trị của họ Nguyễn ở đây đã thực sự vững chắc. Bằng chứng là năm 1830, vua Minh Mạng ban hành một chỉ dụ qui định rõ những đất hoang, rừng núi, gò đống, bờ sông, bờ suối, các bờ đường, tóm lại là tất cả đất đai cồn bỏ hoang, chưa được khai khẩn canh tác đều có thể được cấp cho làm tư hữu. Một năm sau, năm 1831, Minh Mạng lại ban hành chỉ dụ mới với những quy định cụ thể hơn: “Quan lại các cấp khắp nơi trong nước đều phải sức cho toàn dân và binh lính bất kể chính hộ hay khách hộ, hãy làm đơn trình xin khai khẩn  cày trồng theo thổ ngơi thích hợp, tất cả những chỗ đất nào còn hoang. Dù trước đó dù công hay tư, ai xin lãnh trưng trước thì được. Sau ba năm tính từ ngày nộp đơn, các quan sở tại kiểm tra thực tình làm tờ trình lên tỉnh. Ba năm tiếp theo nữa, đối với các ruộng đất trồng lúa, ngô, đậu, vừng thì không kể trước đó là công hay tư đều cho người khai khẩn nhận làm của  riêng, cho theo hạng ruộng đất tư bắt đầu thu thuế đã tỏ lòng khuyến khích” (6).

Chính sách cho phép và khuyến khích việc khai khẩn đất hoang dưới dạng tư điền của các chúa Nguyễn trên vùng đất Đồng Nai – Gia Định (ngày nay là Nam Bộ) trong thế kỷ XVIII          tạo điều kiện cho bộ phận ruộng đất tư hữu phát triển nhanh chóng và chiếm tỷ lệ áp đảo trong toàn bộ diện tích khai khẩn được. Không những thế, trong tổng số ruộng đất tư hữu, bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu lớn thuộc sở hữu lớn của giai cấp điền chủ ngay từ rất rất sớm đã chiếm một tỷ lệ trọng cao vì như trên đã nói chính quyền chúa nguyễn ngay khi mới thiết lập Phủ Gia Định đã kêu gọi những người “dân có vật lực” (giàu có) từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, qui Nhơn vào khai thác đất đai, từ đó tầng lớp điền chủ hình thành rất sớm và đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng khẩn hoang và tạo ra khối lượng lớn nông sản hàng hóa.

Về tầng lớp điền chủ sở hữu nhiều ruộng đất ở vùng Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII,  Phủ bên tạp lục của Lê Quí Đôn đã ghi lại như sau:

“Ở phủ Gia Định, Đồng nai Toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm, họ Nguyễn trước kia lấy được đất ấy rồi chiêu mộ những dân có vật lực ở các phủ Điện Bàn, Quãng Ngãi, Quy Nhơn xứ Quảng Nam di cư đến chặt cây khai phá trở thành bằng phẳng, đất đai màu mỡ, họ chiếm lấy làm vườn trồng cau, làm nhà ở. Lại thu con trai, con gái người Mọi ở các đầu nguồn đem bán làm nô tì… cho chúng lấy nhau, sinh đẻ, nuôi nấng, lớn lên lấy việc cày ruộng làm nghề nghiệp, vì đó mà lúa rất nhiều. Ở các địa phương, mỗi nơi có 40, 50 hoặc 20, 30 nhà giàu, mỗi nhà có đến 50, 60 điền nô, 300, 400 trâu bò, cày cấy gặt hái rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng chạp, lễ tết, sau tháng giêng trở đi, không làm việc xoay giả nữa. Bình thời bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc như lụa lãnh, trừu, đoạn, áo quần tốt đẹp, ít dùng vải bô”. (7)

Đúng Lê Quý Đôn nhận xét chính vì có sự xuất hiện sớm bộ phận ruộng đất sở hữu lớn của tầng lớp điền chủ mà phần nông sản dư thừa có thể đem bán đã đạt tới một khối lượng rất lớn, đưa tới sự hình thành tương đối sớm nền kinh tế hàng hóa (chủ yếu mua bán lúa gạo) ở đây.

Quả vậy, nhiều sử liệu cho thấy ngay trong thế kỷ XVIII, việc mua bán lúa gạo đã là một hoạt động quan trọng nếu không nói là chủ yếu trong hoạt động doanh thương ở đây,  hàng năm, nhất là sau các vụ lúa, nhiều thuyền buôn kể cả trong nước và nước ngoài đến thu mua thóc gạo ở các cảng rất tấp nập. Người ta bán gạo đến tận Quảng Nam, Thuận Hóa và bán ra cả ngoại quốc (Hồng Kông, Xingapo…).

Theo nhận xét của Lê Quý Đôn thì sản xuất nông nghiệp ở Gia Định (chỉ Nam Bộ nói chung) là “nhất thóc nhì cau” và nguồn gạo chở từ Gia Định ra là nguồn cung cấp lương thực chính cho vùng Quảng Nam – Thuận Hóa, do đó có nhiều người đã nhận xét nếu tách khỏi nguồn gạo của Gia Định thì vùng Quảng Nam – Thuận Hóa chẳng biết sẽ sống bằng cách gì. Như Trong Phủ Biên Tạp Lục Lê Quý Đôn đã viết như sau” “Ngày trước việc buôn bán với xứ Đồng Nai được lưu thông thì tại kinh thành Phú Xuân, giá gạo một hộc mười thăng chỉ có ba tiền đồng, mà có thể đầy đủ cho một người ăn trong một tháng, cho nên nhân dân ở Thuận Hóa chưa hề phải lưu tâm chú ý đến việc làm nghề nông. Ngày nay thành Quy Nhơn bị loạn lạc (chỉ cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn – TG), thành Gia Định bị núi cách sông ngăn, nên nhân dân ở đây lấy việc thiếu ăn làm điều lo lắng lớn” (8). Giáo sĩ nhận xét: “Mỗi năm từ Đồng nai, vùng đất phì nhiêu, có hàng ngàn chiếc ghe đến từ vùng này mang lại sự đầy đủ và nỗi vui mừng cho dân chúng” (9)

Như vậy, qua những điều trình bày trên, có thể kết luận rằng chính là nhờ chính sách khuyến khích và bảo hộ quyền chiếm hữu ruộng đất để khai khẩn đối với người dân của các chúa Nguyễn mà công cuộc khẩn hoang ở đây đã mở rộng rất nhanh và sản xuất nông nghiệp sớm đi vào sản xuất lớn, đưa tới hình thành một nền kinh tế hàng hóa phát đạt với thị trường nông sản hàng hóa dồi dào. Đó là mặt tích cực của chính sách ruộng đất – thừa nhận quyền chiếm dụng ruộng đất của họ Nguyễn. Tuy nhiên chính sách này cũng có mặt hạn chế của nó. Đó là sự hình thành và ngày càng mở rộng bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu lớn của tầng lớp điền chủ dựa vào thế lực kinh tế và đôi khi cả thế lực chính trị, thông qua các phương thức cho vay nặng lãi, cầm cố, cưỡng đoạt, thôn tính dần những đất đai thuộc sở hữu nhỏ nông dân, đẩy nông dân nghèo vào tình cảnh mất đất, không còn phương tiện sinh sống, xã hội nông thôn phân hóa thành hai cực đối kháng nhau, khiến cho xã hội nông thôn mất ổn định, đấu tranh giai cấp phát sinh. Điều này đã được phản ảnh rất rõ ngay trong chính sử triều Nguyễn. Như trong Minh Mệnh chính yếu có ghi lại lời tâu của Tỉnh thần Gia Định năm 1840 như sau: “Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng tư đến ngàn trăm mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy (10).

Chính sách ruộng đất của chính quyền họ Nguyễn thực thi ở vùng Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nữa đầu thế kỷ XIX đã để lại cho chúng ta bài học lịch sử sâu sắc. Bài học lịch sử có thể tóm tắt như sau: Để mở rộng nhanh chóng việc khai khẩn đất đai và phát triển mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, làm ra nhiều nông sản hàng hóa thì cần phải khuyến khích việc chiếm dụng và khai thác đất đai dưới nhiều qui mô khác nhau kể cả quy mô lớn, nhưng đồng thời phải chú ý ngăn ngừa sự phân hóa theo hai cực trong xã hội nông thôn nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đông đảo nhân dân nhất là nông dân nghèo một khi họ chưa có phương tiện sinh sống nào khác ngoài nông nghiệp.

1. Phủ Biên Tạp Lục Q.IV, tờ 243a.

2. Phủ Biên Tạp Lục. Tập I. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1977, tr. 345.

3. Gia Định Thành Thông Chí.  Tập trung, Sài Gòn, 1972, tr. 12

4. Ba Dinh là Trấn Biên. Phiên Trấn và Long Hồ.

5. Gia Định Thành thông Chí, Sđđ., tr.12.

6. Đại Nam hội điển sự lệ. Tập 4. Q. 40. Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 114

7. Phủ Biên Tạp Lục Sđđ. , tr. 345   

8. Phủ Biên Tạp Lục. Tập 1, Sđđ. , tr. 252 – 253.

9. A. Launay,  Histoire đe la mission de cochinchine (1658 – 1823). Paris, 1923 . Tome III. Documents historisques.

10. Minh Mệnh chính yếu tập III,  Q. 9.  Bản dịch của Võ Khắc  Văn, Lê Phục Thiện, Sài Gòn, 1974, tr.94.

Cập nhật ( 18/03/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online