Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Bước đầu tìm hiểu sự hình thành đô thị Nam bộ (GS. Lê Xuân Diệm)
Bước đầu tìm hiểu sự hình thành đô thị Nam bộ (GS. Lê Xuân Diệm) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/03/2011

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở NAM BỘ

* GS. Lê Xuân Diệm

Để có được cái nhìn cơ bản và toàn diện về sự hình thành và phát triển đô thị ở Nam Bộ hẳn phải trước hết tiếp nhận những vấn đề có tính lý thuyết liên hệ đến quá trình hình thành và phát triển chung của đô thị ở Phương Tây cũng như ở Phương Đông. Đồng thời phần không thể thiếu là phải tích hợp với việc phân tích hoàn cảnh lịch sử xã hội và môi trường sinh thái tự nhiên ở Nam Bộ. Về lý thuyết nhìn chung giới khoa học đều có nhìn nhận chung thống nhất là các đô thị “tiền công nghiệp” và xã hội đô thị cổ hầu như đều được hình thành từ trong lòng xã hội nông nghiệp nguyên thủy, từ các công xã nông thôn phát triển. Con đường hình thành đô thị  được xác định trải qua các giai đoạn tương ứng với các hình thức cấu trúc xã hội từ “du hoàn” (bannd) ® bộ lạc (tribe) ® tù bàng (chiefdom) ® nhà nước quốc gia (stare).

Và thường đề cập đến các tiêu chí hình thành đô thị, sự định hình xã hội văn minh, các học giả phương Tây nêu lên 10 biểu hiện cần có. Đó là: 1/Nhân khẩu nhiều, mật độ dân số cao. 2/Có tầng lớp thợ thủ công chuyên hóa cao. 3/ Có nền kinh tế thống hợp có sự tái phân phối sản phẩm xã hội”. 4/ Có công trình công cộng (đền đài, khu tưởng niệm) qui mô lớn.  5/ Chữ viết được sử dụng trong hoạt động luật pháp, hành chính. 6/ Sự quản lý xã hội có tính chất chính trị. 7/ Khoa học được áp dụng vào đo đạc, dự báo. 8/ Nghệ thuật mang phong cách chủ nghĩa tự nhiên hiện thực. 9/ Hoạt động trao đổi, giao dịch có cự ly xa. 10/ Cấu trúc dân cư không theo huyết thống mà theo khu vực.

Người ta cũng chỉ ra 4 tác nhân chủ yếu đưa đến sự ra đời xã hội đô thị và hình thành đô thị. Đó là 1/ Chiến tranh. 2/Giao dịch, thương mãi. 3/ Tưới tiêu – Thủy lợi. 4/ Kinh tế - Thần điện.

Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, một  số nhà nhân loại học, khảo cổ Trung Quốc đã nêu lên lý thuyết mới về con đường hình thành nên đô thị và văn minh Phương Đông (Trung Hoa), trãi qua 5 giai đoạn, tương ứng với các cấu trúc xã hội từ 1/ Hương thôn ® 2/ Thành trấn ® 3/ Đô thành ® 4/ Phương quốc ® 5/ Đế quốc. Trong các nhân tạo nên sự hình thành đô thị và văn minh Trung Hoa, theo họ, thì tác nhân thứ tư (kinh tế thần điện) có vai trò quan trọng hàng đầu. Bởi vậy mà trong xã hội (Trung hoa), chế độ tông pháp hiến chủ đạo, lấy sự thống trị của tông tộc làm hạt nhân. Tông tộc là sản phần nảy sinh và phát triển từ thị tộc, gia tộc. Trong xã hội tông pháp đó thì nhà (gia) có gia tộc, tộc có tông từ (nhà thờ tộc học), nước (quốc) có tông miếu, pháp quy quản lý xã hội đó chính là tông pháp.

Tuy có sự khác biệt giữa thuyết Tây, thuyết Đông, nhưng cả hai đều có quan niệm chung về đô thị (hoặc thành thị). Thành thị là một từ có gốc La Tinh là  civitab,  dân thành thị từ La Tinh là civis. Nó cũng hàm chứa ý nghĩa của văn minh (civilisiation). “Thành thị suy cho cùng là được sản sinh từ tình hình phát triển dư thừa của xã hội nông nghiệp truyền thống. Dân thành thị đã không trực tiếp phải làm nông nghiệp. Thành thị mà nơi là quốc vương thống lĩnh việc tưới tiêu qui mô lớn, là nơi thần chức chủ trì việc tế lễ; quan lại nắm quản lý hành chính; chiến sĩ gìn giữ đất đai, lãnh thổ, nhân dân và tài nguyên; là nơi thương nhân hoạt động giao dịch, thợ thủ công tiến hành sản xuất sản phẩm hàng hóa…”. Thành thị, trên thực tế lịch sử, có nhiều loại hình từ đơn giản đến phức tạp, từ nhỏ đến lớn. Có thành thị tiền công nghiệp, thành thị công nghiệp, thành thị hiện đại (siêu đô thị); mặt khác, theo chức năng chính mà người ta định ra các loại như thành phố cảng (hay cản thị), thành phố du lịch, thành phố “thiêng”; hoặc phân cấp ra các loại “thành phố trung tâm”, thành phố “vệ tinh”, thành phố cấp 1, cấp 2…

Các vùng đất Nam Bộ, nếu kể từ thế kỷ XVII về sau, người ta vẫn quan niệm là vùng “đất mới”, đồng thời là vùng đất “năng động”. Những ghi chép về lịch sử hầu như đều cho thấy trong khoảng thế kỷ XIII – XVI cả vùng châu thổ Cửu Long – Nam Bộ tràng ngập “cây rừng rậm rạp, trâu rừng hàng đàn” (Châu Rhodes thế kỷ XVI). Rải rác đó đây chỉ có vài phum sóc của người Khơ me hoặc vài buôn, plây của người Mơ nông, Mạ, Chu ru, Kơ – ho, Xtiêng, Chăm…sinh sống theo lối tự cung, tự cấp dựa vào nguồn lợi ruộng rẫy và rừng rậm…

Từ thế kỷ XVII  về sau, Nam Bộ hoang sơ dần trở thành vùng đất hứa cho nhiều cộng đồng dân cư ngoại nhập. Đầu tiên là người Việt đã mở đầu công cuộc khai phá đất hoang, thực hiện một cuộc “cách mạng nông nghiệp” đầu tiên ở đây (vùng châu thổ Cửu Long). Tiếp đến, những dân tộc người Hoa (Quảng Đông – Phúc Kiến – Hải Nam…), lần lượt lập cư, tập trung chủ yếu vào hoạt động thương mãi (đường dài), mở ra cuộc cách mạng đô thị “tiền công nghiệp”. Và sau hết là thực dân Pháp xâm chiếm toàn lãnh thổ Nam Bộ, áp dụng chế độ thuộc địa, thực thi công cuộc khai thác công nghiệp tư bản. Có thể nói, cả vùng Nam Bộ, trong khoảng thế kỷ XVII – XIX liên tiếp diễn ra ba cuộc “cách mạng”. Đó là “cách mạng nông nghiệp” và “cách mạng công nghiệp tư bản thuộc địa”. Ba cuộc cách mạng ấy tương tác lẫn nhau tạo nên cho bộ mặt xã hội nói chung, và bộ mặt “đô thị” ở Nam Bộ vừa đa dạng lại khá phức tạp.

Ở đây, các tác nhân đưa đến sự hình thành và phát triển đô thị, hầu cũng đan xen vào nhau, tác động lẫn nhau. Trong đó, tác nhân tưới tiêu thủ lợi có vai trò quan trọng. Nó góp phần quan trọng mở rộng đất đai trồng trọt, khai thác thủy sản, lâm sản. Đặc biệt, nó tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa ngày càng lớn, tạo tiền đề vật chất cho sự phát triển hoạt động thương mãi, cho mạng lưới kinh doanh ngày càng mở rộng. Nó tạo nền tảng cho sự tạo lập các thị tứ (chợ), thị trấn ngay trong lòng xã hội nông thôn Nam Bộ. Trên thực tế nó tạo nên, cho Nam Bộ cảnh tượng “đô thị” sầm uất mà trong đó cộng đồng người Hoa nắm giữ vai trò chi phối, hưởng lợi. Chính cộng đồng người Hoa đó có vai trò làm cho tác nhân “trao đổi”, giao dịch cự ly xa” phát huy ngày càng rộng lớn. Mặt khác, cộng đồng người này, bằng con đường giao dịch, đã nhập vào các sản phẩm thủ công nghiệp tại chỗ - phục vụ nhu cầu đô thị - nông thôn Nam Bộ. Có thể nói hai tác nhân: 1) Tưới tiêu – Thủy lợi, 2) Giao dịch trao đổi cự ly xa đã có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự hình thành và phát triển đô thị Nam Bộ. Về sau, tác nhân hoạt động thủ công nghiệp dần có vai trò nhất định trong hoạt động thương mãi “nội địa”.

Tác nhân chiến tranh cũng đã có vai trò khồng nhỏ. Như chúng ta đều biết, từ thế kỷ XVII – XIX, trên đất Nam Bộ đã lần lượt diễn ra cuộc tranh giành quyền lực Tây Sơn – Nguyễn Ánh, cuộc chiến chống ngoại xâm Nguyễn – Xiêm, Nguyễn – Pháp. Cho nên, ở đồng bằng Nam Bộ, ngoài các loại thị tứ, thị trấn còn có loại hình như tỉnh thành. “Gia Định Thành” (tức Bến Thành). Tỉnh thành, Bến thành trên thực tế vừa có tính chất thị vừa có tính chất thành ở các cấp hành chính – quân sự của vùng, của tỉnh.

Ngoài ra, tác nhân, “kinh tế Thần điện” (có thể mở rộng đến các lãnh vực tương tự như “như kinh tế Phật điện”, “kinh tế Thánh điện”…) cũng đã tạo nên nét đẹp đặc sắc cho các đô thị ở Nam Bộ. Trong đó, kinh tế Thần điện” trong cộng đồng cư dân người Việt Nam Bộ được thể hiện với các kinh tế gắn liền (hoặc ràng buộc) với dòng họ, với các bậc “khai quốc công thần”, các bậc “khai cơ”, “tiền hiền, hậu hiền”, mà biểu hiện cụ thể là những “đình thần”, miếu thờ” trong xã hội. “Kinh tế thần điện” còn hiện diện đậm nét trong hoạt động kinh tế thương mãi của người Hoa. Nó được thể hiện ở dưới dạng tổ chức theo bang, theo tông tộc, với biểu hiện là những nhà thờ tộc họ, các nhà thờ các vị thần bảo hộ (Quan Võ, Thiên hậu, Ông Bổn…). “Kinh tế Phật điện”, “Thánh điện” (đạo Thiên chúa, đạo Hồi…) cũng đã hiện diện trong các hoạt động kinh tế không chỉ của những cộng đồng “ngoại nhập” mà cả trong cộng đồng người Việt. Tác nhân kinh tế “Thần điện” trên thực tế tạo cho bộ mặt đô thị cổ Nam Bộ thật đa dạng, nhất là về văn hóa. Tuy nhiên, như trên đã nói, hai tác nhân “tưới tiêu – thủy lợi” , “trao đổi – giao dịch cự ly xa…”, với nguồn hàng hóa chủ yếu là lúa gạo, thủy sản, lâm sản… đã có vai trò chi phối hàng đầu đến sự hình thành và phát triển đô thi cổ ở Nam Bộ (từ thế kỷ XVII – XIX), cũng bởi chủng loại sản phẩm hàng hóa gắn chặt với hoạt động nông nghiệp, với sông nước, với rừng rậm, mà mạng lưới đô thị - thị tứ ở Nam Bộ dường như dàn trải trên địa bàn rộng và thường nằm ven sông, hoặc nơi hợp lưu các con sông hoặc ở các cửa sông – cảng biển. Loại hình thị cảng đó khá phổ biến. Đó là đặc điểm rõ nét của thị tứ - đô thị Nam Bộ. Cũng bởi đặc điểm đó, mà khi nguồn nông sản, thủy sản có biến động, thì hoạt động đô thị xáo trộn; thậm chí, nó còn bị tác động khi dòng chảy biến đổi, khi môi trường tự nhiên bị suy thoái. Đó là những thách thức luôn chi phối đến sự thịnh suy của thị tứ, đô thị Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX và vẫn còn tác động đến nay.

Tài liệu tham khảo:

-V.g. Childe “The urban revolution”.  Town plangning review 1950.

-Gideon Sjberg. “The preindustrial city – past and present” NewYork The Pree press 1966.

-Trung thôn thân nhất. “Đô thị hóa và hình thành quốc gia – khảo cổ học chính trị về văn hóa Lương Chữ” trong “Nghiên cứu văn hóa  Lương Chữ” Bắc Kinh xb Khoa học 1999 trang 25 – 29.

-Tải Nhỉ Liêm. Từ tộc huy của thần, mạng lưới thôn ấp, quan hệ văn hóa nhìn vào đêm trước minh (từ bang) Lương chữ” trong “Ngiên cứu văn hóa Lương Chữ” Bắc Kinh – xb Khoa học 1999 trang 43 – 60.

- Trần Thừa Dũng. “Lễ tế của văn hóa Lương Chữ và khởi nguồn của văn minh Trung hoa” trong “Nghiên cứu văn hóa Lương Chữ” Bắc Kinh – xb Khoa học 1999 trang 30 - 42.

- Trịnh hoài Đức. “Gia Định Thành thông Chí”  Sài Gòn – xb Nhà văn hóa phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa (bản dịch tu trai Nguyễn Tạo) 1972.

- Phan Khoang. “Việt sử - xứ Đàng Trong” Sài Gòn – xb Khai Trí 1970.

- Tsai Maw Kijey. “Người Hoa ở miền Nam Việt Nam paris, Luận án tiến sĩ, 1968 (bản dịch của trung tâm Dân tộc học viện KHXH tại T.H.C.M.)

Đô thị hóa Việt Nam và Đông Nam Á” Tp HCM – xb Tp HCM 1996.

“Môi trường nhân văn và đô thị hóa ở Việt Nam, Đông Nam Á và Nhật Bản” Tp HCM – xb Tp HCM.1997

- Vương Hồng Sển. “Tự vị tiếng Việt miền Nam Hà Nội – xb Văn hóa 1993.

- Huỳnh Lứa. “Lịch sử khẩn hoang Nam Bộ”  Hà Nội xb KHXH – 1991.

Cập nhật ( 18/03/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online