Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc (Thích Minh Vũ)
Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc (Thích Minh Vũ) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/03/2011

PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

* Thích Minh Vũ

Ban Hoằng Pháp tỉnh Bình Dương

          Phật giáo là một Tôn giáo lớn có mặt sớm nhất ở Vỉệt Nam, luôn đồng hành cùng dân tộc  trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước. Phật giáo đã đóng góp rất lớn cho dân tộc về phương diện: tham gia vào sự hình thành văn hoá, đạo đức, lối sống truyền thống của con người; làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội và tạo nên sự phong phú đa dạng trong bản sắc văn hoá Việt Nam. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, Phật giáo không tránh khỏi những tác động mạnh mẽ từ xu thế toàn cầu hoá và cơ chế thị trường. Để tiếp tục phát huy những giá trị  tích cực của mình, Phật giáo ngày nay phải biết tự giữ gìn, bồi đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” như trước đây nó đã từng đóng góp cho” quốc thái dân an”.

          Từ Ấn Độ, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam trong những thế kỷ đầu công nguyên, Trải qua hàng ngàn năm tồn tại, Phật giáo đã có những đóng góp nhất định cho dân tộc về phương diện. Ngày nay, nhân loại đang bước vào thời kỳ lịch sử mới với nhiều biến đổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vậy Phật giáo đương đại ở Việt Nam có vai trò gì để góp phần cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh như có đã từng đóng góp cho “quốc thái dân an” trong lịch sử dân tộc?

          1. Những năm gần đây, hầu như mọi dân tộc đều bị lôi cuốn vào dòng xoáy của toàn cầu hoá. Có quốc gia thì hân hoan đón đợi, có nước lại khắc khoải lo âu; người thì ủng hộ nhiệt thành, kẻ thì phản đối quyết liệt. Có ý kiến cho rằng, toàn cầu hoá là con đường của tương lai, sẽ đem đến sự phồn vinh, thịnh vượng cho mọi người, mọi dân tộc và các quốc gia - dù cho dân tộc, quốc gia ấy ở điểm xuất phát thế nào, trình độ kinh tế ra sao. Số người khác lại chỉ nhìn thấy ở toàn cầu hoá một màu xám xịt. Họ cho rằng, toàn cầu hoá là nguồn gốc của vô số những rủi ro và tai hoạ, những nguy cơ và thách thức khó vượt qua: từ sự suy thoái môi sinh đến huỷ hoại các nền văn hoá bản địa, tự xuất hiện ngày càng nhiều những bệnh tật mới ở người và động vật thực vật đến sự gia tăng tình trạng nghèo nàn, thất học cũng như sự xuống cấp của đạo đức và lối sống; từ sự bất an của cá thể đến nguy cơ tan vỡ kết cấu gia đình. Tóm lại, trước hiện tượng toàn cầu hoá, loài người đang có những đánh giá, thái độ và phản ứng rất khác nhau. Tuy vậy, toàn cầu hoá là một hiện tượng khách quan, một xu hướng khó cưỡng lại.

          Chúng tôi cho rằng; toàn cầu hoá có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực, chứa đựng cả vận hội lẫn thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc trên các phương diện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, đạo đức… Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, bất kỳ dân tộc nào cũng không thể  “đóng cửa”, “khép kín” để gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc, đạo đức truyền thống riêng của mình được, mà phải hội nhập với quốc tế, cho dù không ít thách thức. Hiện có nhiều học giả lưu tâm đến “sự xâm lăng văn hoá”. Những “đế quốc xâm lăng văn hoá” đang tìm cách đột nhập, đưa văn hoá ngoại lai thẩm thấu vào các quốc gia khác. Văn hoá ngoại không phải là tiêu cực cả, nhưng quả thực, một số nước đã và đang phải trả giá do không biết đón gió lành, ngăn gió độc khi “mở cửa”, “hội nhập”. Hậu quả nhãn tiền là lối sống thực dụng, sùng bái vật chất, khơi dậy những nhu cầu bản năng, lôi cuốn con người vào những lạc thú bình thường, xem nhẹ đạo lý truyền thống, nhạt phai lý tưởng, quay lưng với lịch sử dân tộc đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ và len lõi vào từng gia đình, làng xóm, phố phường. Thông qua những phương tiện nghe nhìn hiện đại , mùi vị “hấp dẫn” của văn hoá phương Tây đang lan toả, thẩm thấu vào nhiều giai tầng, từng dân tộc, không chỉ ở các thành phố, đô thị , mà cả ở những chốn sơn lâm cùng cốc, xa xôi hẻo lánh - nơi đồng bào dân tộc thiểu số cư trú.

          Có thể nói, việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc đã trở thành một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Dĩ nhiên, không phải vì lo ngại trước nguy cơ băng hoại văn hoá truyền thống mà có chủ trương hoài cổ đến mức khôi phục cả những hủ ttục nặng nề trước đây vốn một thời đã bị nhân dân bài bác và cuộc sống mới không chấp nhận; nhưng cũng không thể dựa vào cái lý  “tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” mà thu nạp cả những rát rưỡi, cặn bã và sỏi sạn của văn hoá ngoại lai để hình thành thứ văn hoá lai căng, kệch cỡm. Đã đến lúc mọi người dân Việt Nam ta cần nhận thức giá trị của sự phát triển bền vững, nghĩa là mỗi bước tăng trưởng kinh tế đều phải dựa trên nền tảng giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức và bản sắc văn hoá tuyền thống của dân tộc.

          Vì sự trường tồn của giống nòi và hưng thịnh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc bảo vệ những truyền thống tốt đẹp, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tôc trong đó có vai trò của Phật giáo, là vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, gìn giữ và bảo vệ không có nghĩa là  có thái độ bảo thủ hoặc kỳ thị với văn hoá ngoại lai để dẫn đến khước từ cả những giá trị hiện đại, mà phải tự đổi mới, phải hiện đại hoá văn hoá dân tộc; trong đó, bản thân tín ngưỡng tôn giáo nói riêng cũng phải tự điều chỉnh để phù hợp với thời hiện đại.

          2. Nhìn chung, quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam gặp nhiều thuận lợi và hầu như không vấp phải phản ứng, trở ngại gì. Có được điều đó là do: một phần, Phật giáo phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc; phần khác, Phật giáo vốn là một tôn giáo tư tưởng khoan dung, hoà đồng, cởi mở, luôn sẵn sàng đối thoại với các trào lưu tư tưởng khác. Phật giáo không chỉ chấp nhận và hoà nhập với tín ngưỡng dân gian, mà còn kế thừa được những giá trị trong kho tàng văn hoá khổng giáo và Đạo giáo. Là một tôn giáo có hệ thống giáo lý khá đồ sộ và hoàn chỉnh, khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đem lại cho cộng đồng người Việt một hệ thống các quân niệm về vũ trụ và nhân sinh. Một số tư tưởng Phật giáo phù hợp với tư duy truyền thống dân tộc. Chính vì vậy, Phật giáo được nhân dân ta tiếp nhận một cách tự giác và nhạnh chóng trở thành một tôn giáo thu hút được quảng đại dân chúng tin theo, để rồi trở thành hệ tư tưởng chính thống của một số triều đại phong kiến Việt Nam. Sự truyền bá Phật giáo có đặc điểm là:

          Thứ nhất, quá trình truyền bá Phật giáo nhìn chung không tạo ra những xung đột về quân sự cũng như về văn hoá.

          Thứ hai, với phương châm hoằng hoá “tuỳ duyên phương tiện”, Phật giáo đã tạo khả năng chấp nhận những dị biệt của truyền thống văn hoá ở những khu vực mà nó du nhập. Vì vậy, Phật giáo đã làm tăng khả năng thích nghi của mình  với các nền văn hoá khác. Hơn nữa, nó còn biết tự làm giàu bằng cách tiếp nhận các giá trị tín ngưỡng, phong tục, tập quán của các dân tộc khác. Dần dần, Phật giáo đã trở thành một nhân tố tham gia sáng tạo văn hoá và đồng hành cùng các dân tộc ngoài Ấn Độ. Phật giáo là trào lưu tư tưởng chủ trương thực hiện bình đẳng giữa con người với con người khỏi nỗi đau sinh tử để đạt đến một ý nghĩa đời sống hoàn thiện. Theo ý nghĩa đó, dù không trực tiếp phủ nhận xã hội thế tục duy trì chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, song Phật giáo chứa đựng khuynh hướng phản kháng chống lại xã hội có áp bức và nô dịch. Yếu tố phản kháng của Phật giáo đã phản ánh đúng tâm tạng của người dân đất Việt vốn mang nặng nỗi đau mất nước và thân nghèo khổ.

          Có thể nói, Phật giáo có vai trò to lớn trên các phương diện văn hoá, đạo đức, lối sống…, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân, lành mạnh hoá quan hệ xã hội, hình thành một phong cách, lối sống thuần hậu của con người Việt Nam.

          Một tôn giáo chân chính đều có những cống hiến nhất định về phương diện văn hoá, đạo đức cho nhân loại. Phật giáo là một trong những tôn giáo chân chính, nên khi du nhập vào Việt Nam, nó đã mang theo những giá trị văn hoá, nghệ thuật nước nàh. Những bài văn, bài kệ, những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc, nghệ thuật… của Phật giáo không chỉ thể hiện tri thức, mà còn là kỹ năng nghệ thuật tinh tế của trí tuệ, tâm hồn, tình cảm và cốt cách Việt Nam.

          Trong điều kiện xã hội hiện nay, những di sản văn hoá của Phật giáo đang tiếp tục phát huy tác dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá Việt Nam. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công đức tiền của để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây cất tịnh xá, niệm Phật đường, đúc chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng. Những giá trị văn hoá Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vương tới những lẽ sống vì Tổ quốc giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc.

          3. Phật giáo là một tôn giáo truyền thống và có sức sống lâu bền trong đời sống tinh thần của người Việt. dĩ nhiên, tôn giáo, tín ngưỡng mang tính lịch sử; vì vậy, bản thân nó phải có sự chuyển đổi cho phù hợp  với điều kiện llịch sử mới. Phật giáo đã từng là chỗ dựa tinh thần, chi phối cả xã hội dưới các triều đại Lý – Trần; hay được một số triều đại nhà Nguyễn ở Đàng Trong chính thức bảo trợ. Lịch sử cũng đã chứng minh vai trò của Phật giáo trong việc góp phần làm cho nhiều triều đại phong kiến được thịnh trị, đất nước hùng cường và lòng dân đồng thuận. Tuy nhiên, Phật giáo cũng không giữ mãi được vai trò của mình như khi còn đang trong thời kỳ hoàng kim, cực thịnh. Điều này xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có phần bởi tư tưởng thực dụng của một phần nhỏ trong giới xuất gia, bởi hoạt động tôn giáo lai tạp, pha trộn với mê tín dị đoan, bởi lòng tin hướng thượng cao siêu đã bị dung tục hoá; phần khác, quan trọng hơn, do mưu toan của bọn thực dân xâm lược và một số phần tử  “vọng ngoại” nhằm chia rẽ, gây mất đoàn kết tôn giáo, tấn công, đàn áp nô dịch văn hoá tinh thần, nhất là văn hoá tâm linh của người Việt.

          Lịch sử như vậy, còn ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá, sức công phá của văn hoá phương Tây đối với văn hoá truyền thống diễn ra với quy mô rộng và quyết liệt hơn nhều. Nếu Phật giáo không biết tự giữ gìn, bồi đắp và đổi mới thì sự suy thoái là xu hướng khó tránh khỏi.

          Trong cơ chế thị trường, bản năng ích kỷ trong con người dễ có cơ hội nảy sinh và phát triển, những dục vọng và đam mê đồng tiền, sùng bái vật chất, làm giàu với mọi giá, bất chấp cả tình nghĩa, bỏ qua đạo hạnh, thậm chí sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của con người khác ở một số người đang có cơ trỗi dậy. Trước hiện trạng ấy, Phật giáo với thuyết nghiệp báo luân hồi và niềm tin tôn giáo cho rằng, “ác giả ác báo, thiện giả thiện báo”, “đời cha ăn mặn đời con khác nước”, “ở hiền gặp lành” với sự thưởng phạt ở kiếp luân hồi…, xét về phương diện đạo đức, đã ít nhiều có tác dụng  kiềm chế những hành vi thái quá, cực đoan, phi nhân tính, phản văn hoá ở con người. Phật giáo có một hệ thống các quan niệm đạo đức khá hoàn thiện nhằm xây dựng  mẫu người lý tưởng. nhờ vậy, khi thực hành, tín đồ Phật giáo có thể điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với cái Thiện, thuyết nhân - quả, luân hồi, nghiệp báo…, có giá trị rất lớn trong việc răn đe, ngăn ngừa những suy nghĩ, lời nói không đúng hoặc lối sống buông thả… nhằm đem lại cho cá nhân một thái độ sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng hơn.

          Xu hướng chung của Phật giáo Việt Nam không phải là thoát tục, mà là nhập thế. Giải thoát không phải trốn chạy, quay lưng với thực tại, mà ít nhiều thể hiện khuynh hướng đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, xây dựng một xã hội hài hào và công bằng. Ngày nay, truyền thống nhập thế của Phật giáo Việt Nam không còn chung chung, trừu tượng mà đã đi vào cuộc sống đời thường cụ thể và thiết thực hơn. Năm năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đồng hành cùng nhân dân cả nước tiếp tục sự nghiệp đổi mới, từng bước phát triển trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và ngoại giao, mở một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng dân giàu, nước mạnh, hòa bình, hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới.

          Ngày nay, nhân loại đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Những thành tựu kỳ diệu do đó đem lại đã làm thay đổi bộ mặt hành tinh chúng ta, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho con người. Nhưng, mặt trái của nó cũng đã đem đến những hậu quả nặng nề mà nhân loại đang phải gánh chịu. Nếu không tự giác điều chỉnh hành vi của mình, thì chắc rằng con người sẽ phải trả giá bởi những hành vi thiếu trách nhiệm trước tự nhiên. Chúng ta đang hàng ngày phải chứng kiến tình trạng môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt, rừng cây bị tàn phá, tầng ôzôn ngày một mỏng dần và thủng to.

          Trước tình trạng trên, ở nước ta, rất nhiều người, trong đó có những Tăng  Ni Phật tử, đồng bào Phật giáo, quan tâm đến vấn đề môi sinh. Coi từng chiếc lá xanh từng bóng cây mát điều góp phần bảo vệ sinh thái địa cầu, Phật giáo Việt Nam cần đưa môn bảo vệ thiên nhiên và môi trường vào chương trình giáo dục và đào tạo nhằm giúp Phật tử hiểu rõ phương thức và kỹ thuật hành xử tối thiểu trong lĩnh vực này để đóng góp phần cụ thể vào chương trình hành động bảo vệ và cải thiện môi trường sống của nhà nước. Đó là những ý kiến rất đáng trân trọng trong hoàn cảnh môi trường đang bị suy thoái như hiện nay.

          4. Tôn giáo trên thế giới đang có xu hướng thế tục hoá với biểu hiện tham gia ngày càng sâu vào đời sống xã hội. Đạo giúp đời, tôn giáo gắn với dân tộc. Phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo theo hướng tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội” là xu hướng nhập thế rất đáng khuyến khích. Tuy nhiên, những khát vọng trần thế về sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt, giàu sang qua cầu cúng, nhờ cậy ở Trời, Phật đã làm cho triết lý giải thoát của Phật trở nên nghèo nàn, thực dụng. Sinh hoạt Phật giáo theo hướng này sẽ “khuyến khích” thái độ trông chờ, ỷ lại nhiều hơn là kích thích tinh thần tự lực vươn lên cải tạo cuộc sống và hoàn thiện nhân cách của Phật tử.

          Phật giáo là một tôn giáo cao siêu và trí tuệ, không ít những nhà khoa học phương Tây đã thấy giá trị và hết lời ca ngợi Phật giáo. A.Anhxtanh cho rằng: Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được nhu cầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không chỉ đóng góp cho khoa học, mà còn là di sản văn hoá thế giới. Ở Việt Nam, nhiều nhà chùa trở thành danh thắng nổi tiếng, cuốn hút biết bao du khách trong và ngoài nước đến thưởng thức cảnh quan, chiêm ngưỡng các công trình văn hoá Phật giáo độc đáo. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận thực tế không vui là, hiện nay, ở một số nơi, Phật giáo bị dung tục hoá, tầm thường hoá, thậm chí thương mại hoá. Một số nhà chùa không còn giữ được vẻ thanh tịnh, tôn nghiêm vốn có nơi cửa Phật, mà hoạt động cũng xô bồ, nhốn nháo, khói nhang nghi ngút, cầu cúng râm ran, vàng mã lan tràn, xóc thẻ công khai… Có nhà chùa chú ý hòm công đức hơn là giáo hoá chúng sinh. Điều này cần với những Phật tử và du khách làm sao cho “chùa” khác “chợ”, hãy đừng để cho cơ chế thị trường làm vẩn đục bầu không khí sinh hoạt văn hoá tâm linh chốn cửu thiền và trả lại cho nó một cảnh quan tôn nghiêm và tĩnh lặng.

          Không thể phủ nhận một thực tế là, bên cạnh rất nhiều cao Tăng mẫu mực về đức hạnh và uyên thâm về Phật học được các tín đồ và xã hội một lòng kính trọng, tôn vinh. Hiện nay, điều mà giáo hội cần lưu tâm là phẩm chất người tu hành ngày càng yếu kém. Vì vậy, kính xin chư tôn đức bổn sư Trụ trì các Tự viện cần chú ý khâu thu nhận người xuất gia và giáo dục đạo hạnh cho họ, làm sao được như mong muốn của dân chúng vốn yêu quý đạo Phật là “Sư phải ra sư, chùa phải ra chùa”.

          Việc xây sửa, tu bổ chùa chiền, phát triển lễ hội nhằm đáp cho nhu cầu tâm linh của nhân dân là nhu cầu chính đáng cần tôn trọng và chính quyền các địa phương tạo thuận lợi. Nhưng, nếu xây cất một cách tràn lan, thái quá với kiến trúc lai căng, loè loẹt; tổ chức lễ hội triền miên làm hao tốn tiền của, công sức và thời gian của dân thì lại là điều không nên.

          Cho dù lịch sử có đổi thay, thế cuộc có chuyển vần, Phật giáo vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc suốt gần hai mươi thế kỷ qua. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, trước xu hướng toàn cầu hoá, Phật giáo chúng ta cần biết tự điều chỉnh để thích ứng với xã hội Việt Nam và nhân loại thời hiện đại. Muốn vậy, Phật giáo Việt Nam cũng phải cùng đất nước bước trên lộ trình đổi mới để phù hợp với bối cảnh lịch sử mới.

Cập nhật ( 18/03/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online