Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow NHÂN MÙA BÁO HIẾU NÓI VỀ Ý NGHĨA VU LAN (Thích Nữ Diệu Nghĩa)
NHÂN MÙA BÁO HIẾU NÓI VỀ Ý NGHĨA VU LAN (Thích Nữ Diệu Nghĩa) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
29/08/2008

NHÂN MÙA BÁO HIẾU NÓI

VỀ Ý NGHĨA VU LAN

* Thích Nữ Diệu Nghĩa

Lễ Vu Lan xuất phát từ sự kiện của bà Thanh Đề bị đọa trong địa ngục làm kiếp ngạ quỹ rất khổ sở vì đói khát, tôn giả Mục Kiền Liên vị thánh đệ tử Phật, là con của bà Thanh Đề, Ngài dùng thần thông đem bát cơm đến cho bà nhưng bà ăn không được vì cơm, hóa thành lửa. Tôn giả Mục Kiền Liên quá đau lòng, liền về cầu xin Đức Phật chỉ cho phương pháp cứu độ mẹ Ngài. Đức Phật mới bảo lời rằng “Tội của mẹ ông rất nặng dù cho ông có thần lực nhiệm mầu, nhưng một mình không thể cứu được, hay là các bậc thần kỳ hoặc các đạo sĩ, trời đất quỹ thần cùng Tứ thiên vương và cộng thêm ba cõi cũng không cứu đuợc mà chỉ có oai đức của mười phương tăng vân tập vào ngày tự thế sau ba tháng an cư.

Sau khi Đức Phật chỉ bày phương pháp cứu tế, tôn giả Mục Kiền Liên y lời Phật dạy, y pháp cúng dường tăng chúng, nhờ Phật lực, pháp lực, gia trì lực của thánh tăng nên bà Thanh Đề được thoát khỏi chốn u đồ, vãng sanh về cõi trời Đao Lợi, làm tiên nữ. Ở đây Đức Phật ngầm ý bảo rằng, muốn cứu độ bà Thanh Đề thì phải dùng tâm từ để chuyển hóa  tâm của bà Thanh Đề, chứ không phải dùng sức mạnh bằng tay chân, mà giải thoát được. Bởi vì pháp thiện và pháp ác, không thể đo lường bằng cây thước đo vật chất mà đo đạc được, định mức nó bằng tâm thức con người, nên Đức Thế Tôn nói “Xa thật là xa khoảng cách giữa mặt trời mọc và mặt trời lặn, xa thật là xa khoảng cách giữa bờ biển bên này và bờ biển bên kia, nhưng lại càng ca, càng xa hơn nữa là pháp của người, thiện và pháp của người ác”. Vì làm thiện thì nghiệp lực dẫn dắt đến nơi an vui, hạnh phúc, trái lại làm điều xấu xác thì cũng nghiệp lực cuốn hút đi vào con đường phiền não, khổ đau, thiện và ác là hai con đường thẳng song song không có cùng giao điểm.

Theo lời Phật dạy, tùy theo nghiệp lành hay dữ sẽ dẫn dắt người đi vào thế giới hạnh phúc an lạc hay ưu, bi, khổ não, những việc làm tốt cho người là thương yêu, giúp đỡ, chia sẽ, bố thí... Hơn thế nữa là gieo nhân lành trong Phật pháp như cúng dường tam bảo, tụng kinh lạy Phật, thiền định... không phạm những tội ác nơi thân, khẩu, ý; nghĩa là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, lợi mình hại người, không nói lời hung ác, không nói thêu dệt, quyến rủ người làm việc sai trái, không nói ly gián (nói đâm thọc) không tham lam, không sân hận, không si mê. Nếu người thực hiện những điều thiện như vậy trong cuộc sống hằng ngày thì khi qua đời sẽ được tái sanh lại cõi người, hưởng hạnh phúc cao sang, cho đến sanh lên các cõi trời hay về Thế giới Phật. Còn bà Thanh Đề tạo nghiệp, bỏn sẻn, lòng dạ hiểm độc, do các hành động xấu ác của thân, khẩu, ý gây ra nên nghiệp lực cuốn hút bà phải đi vào địa ngục làm kiếp ma đói.

Ở đây có hai vấn đề đặt ra, một là tại sao thần thông đệ nhất trong hàng Thánh A La Hán tại sao tôn giả Mục Kiền Liên, không dùng thần không để cứu mẹ Ngài mà lại khóc lóc khi thấy mẹ khổ sở, rồi trở về cầu xin Đức Phật dạy phương pháp cứu độ, còn bản thân tôn giả thì hoàn toàn bất lực ? Vấn đề này chúng ta cũng cần hiểu thêm cho rõ, trong nhà Phật có câu “Thần thông bất năng địch nghiệp”, nghĩa là thần thông không chống lại, không diệt được định nghiệp. Như trường hợp Đức Phật không cứu được dòng họ Thích Ca và dân Thành Ca Tỳ La Vệ khi bị vua Lưu Ly tàn sát, mặc dù Ngài đã thành Phật. Đức Phật cũng đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng cuối cùng phải đành chịu bó tay để cho vua Lưu Ly tiêu diệt Ca Tỳ La Vệ thành bình địa. Trong cuộc chiến hỗn loạn, Đức Mục Kiền Liên mới đem năm trăm người dòng họ Thích Ca để trong cái bát giấu trên hư không, khi đoàn quân đi qua, tôn giả đem cái bát xuống đổ ra thì lạ lùng thay, không còn người mà chỉ có máu. Qua đó, ta thấy rõ thần thông không chuyển được nghiệp lực, cho nên trong Phật Giáo chỉ chú trọng đến việc tu hành để chuyển hóa nghiệp hơn là thần thông, thậm chí chính bản thân của tôn giả Mục Kiền Liên đến cuối cùng đời Ngài cũng bị ngoại đạo sát hại.

Vấn đề thứ hai là tôn giả Kiền Liên y lời Phật dạy thiết lễ cúng dường mười phương Tăng, chư tăng chú nguyện cho bà Thanh Đề và giải thoát cho bà khỏi kiếp ngạ quỹ, sanh về cõi trời. Như vậy có trái luật nhân quả không ? vì cầu nguyện liền mất hết quả cũ. Vậy lý nhân quả ở đâu ? Quí Phật tử nên biết là không phải do chư tăng chú nguyện mà bà Thanh Đề được vãng sanh cõi trời. Vì hương linh người chết đọa làm ngạ quỉ là họ sống, họ ăn bằng cái tưởng. Điển hình khi chúng ta cúng cô hồn muối, gạo, cơm, cháo… cúng rồi còn nguyên như vậy, rõ ràng do tâm tưởng, họ ăn được no, vì họ ăn bằng cái tưởng và họ sống bằng tâm tưởng, thể xác của họ không nặng nề như mình, nhẹ nhàng như bóng,  như gió vậy. Do sống bằng tâm tưởng nên khi chuyển hóa tâm tưởng lại thì liền đó hết khổ. Khi chư tăng chú nguyện  lành cho bà, cảm hóa được tâm thức của bà, nên chuyển tâm, hiểm ác keo kiệt trở thành tâm từ bi, hỉ xả, tâm kính tín tam bảo, tâm lương thiện cho nên mới được tái sanh cõi trời. Như vậy, không phải do thần lực của chư tăng đưa bà lên cõi trời mà do uy đức của chư tăng chuyển hóa được tâm thức của bà, như lời kinh sám hối, Đức Phật nói : “Tội thành do tâm tạo, tội diệt do tâm sám. Tâm không thì tội cũng không, tội diệt thì tâm cũng diệt”. Thí dụ có một câu chuyện của thiền sư và một vị ngự lâm quân. Ngự lâm quân hỏi thiền sư :

- Có Niết Bàn hay Địa Ngục không?

  Thiền sư hỏi lại

- Nhà ngươi là ai mà hỏi ta câu đó ?

  Ngự lâm quân đáp

- Tôi là ngự lâm quân của nhà vua.

  Thiền sư nói :

- Ngươi là ngự lâm quân à ? Ta thấy ngươi còn thua kẻ ăn mày.

  Ngự lâm quân liền lấy tay vỗ vỗ cây kiếm đang đeo trên mình

  Thiền sư nói :

- Có kiếm nữa à ? Ôi ! cây kiếm cùn lụt đó chẳng khác gì một miếng gỗ, cắt cổ được ai.

  Ngự lâm quân mặt đỏ lên, tay rút kiếm ra sắp vung lên. Thiền sư nói :

- Như vậy là nhà ngươi đã trả lời được nửa câu hỏi, có địa ngục hay không ?

Tên ngự lâm quân dừng tay lại, tra kiếm vào vỏ.

Thiền sư nói :

- Như vậy là ngươi đã trả lời được nửa câu hỏi, có Niết Bàn không?

Qua đó ta thấy rằng Niết Bàn là tâm không tham, không sân, không si, trái lại tâm tham lam, tâm sân hận, tâm si mê là Địa Ngục. Để trở lại vấn đề của bà Thanh Đề là bởi do tâm niệm bất thiện, như tham, sân, si rồi đưa đến những hành vi xấu ác của thân, khẩu, ý tạo thành nghiệp lực, cuốn hút bà vào địa ngục, làm ngạ quĩ, những tâm niệm bất thiện này đến khi thọ nhận quả báo khổ đau mà bà vẫn chưa thức tỉnh nên nhận bát cơm nhưng ăn không được vì cơm hóa thành lửa. Ngọn lửa ấy là lửa tham từ trong tâm thức của bà, thần lực của tôn giả Mục Kiền Liên không thể dập tắt được, mà chỉ có uy đức của tăng chúng mới dập tắt được nó, uy đức này hàm chứa tất cả các công đức tu tập, giới, định,  tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, tạo thành tổng lực năng lượng tâm linh có thể làm rung động, thức tỉnh và chuyển hóa tâm thức người khác, nhất là những tâm hồn đang sống trong hoàn cảnh khổ đau sầu não, hằng mong được cứu vớt, giải thoát. Ví dụ : Người hay sát sanh, trộm cướp rồi đến khuyên quí Phật tử  phóng sanh, bố thí… Quí vị có nghe không ? chắc có lẽ khó nghe theo.

Đức Phật đề nghị tổ chức lễ Vu Lan vào ngày tự tứ, một là vì ngày đó tập hợp được   nguồn năng lượng tâm linh to lớn, hai là Đức Phật đề cao đời sống phạm hạnh, đúng giới luật của ngừơi xuất gia, bởi ngày tự tứ là một trong những biểu hiện của đời sống giới luật, nên Đức Thế Tôn rất chú trọng ngày này và Đức Phật cũng gián tiếp dạy chúng ta hiếu là giữ giới, như trong Bồ Tát giới đưa hiếu lên hàng đầu và hiếu cũng là con đường để thành Phật, nên ngay sau khi mới thành đạo bên cội bồ đề, đức Thế Tôn đã kiết giới bồ tát, hiếu là giới và kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân Đức Phật cũng dạy, muốn báo hiếu cho cha mẹ, phải trì giới, theo lời kinh sau đây :

“Rằm tháng Bảy đến kỳ tự tứ.

Mười phương tăng đều dự lễ này.

Sắm sanh lễ vật đủ đầy.

Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng.

Đặng cầu nguyện song đường trường thọ

Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn.

Ấy là báo đáp thù ân

Sanh thành dưỡng dục song thân của mình.

Mình còn phải cần chuyên trì giới.

Pháp tam qui ngũ giới giữ gìn

Những lời ta dạy đinh ninh.

Khá nên y thử phụng hành đừng sai”

Còn nữa, kinh Tăng Nhất A Hàm ghi rằng, đức Phật xuất thế là để làm năm việc

1. Chuyển pháp luân

2. Độ cha mẹ

3. Đem đức tin lại cho những người không có đức tin

4. Ai chưa có chí nguyện Bồ Tát thì làm cho họ phát nguyện

5. Thọ ký cho Bồ Tát tương lai sẽ được làm Phật.

Một trong năm việc này là việc độ cha mẹ bằng cách đem Phật pháp khuyến hóa cứu độ cha mẹ được giác ngộ, giải thoát khỏi sinh tử, luân hồi ưu, bi, khổ, não là cách báo hiếu tối ưu. Công ơn của cha mẹ thăm thẳm như trời cao, mênh mông như biển cả, chót vót như núi non, dằng dặc như sông dài, rực rỡ như mặt trời, tỏ rạng như trăng rằm, khó mà đền đáp ân thâm song đường. Trong kinh Hiếu Tử, Đức Phật nói: “Cha mẹ sanh con cưu mang mười tháng, thân như mang bệnh nặng, đến ngày sinh con, mẹ chịu sự đau đớn, nguy hiểm cận kề, còn cha sợ sệ lo âu nói sao cho xiết”.

Trong kinh Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán ở phẩm Báo Ân, Đức Phật nói : “Cha có cái ân đem lại niềm vui cho con (từ ân), mẹ có cái đức làm cho con khỏi khổ đau (bi ân) cho nên có người cung kính cúng dường một trăm vị bà la môn thanh tịnh, một trăm vị thần tiên đắc ngũ thông, một trăm bậc thiện hữu tri thức, dốc lòng cúng dường những vị ấy trọn trăm ngàn kiếp cũng không bằng ta một lòng chí thành với đức hiếu kính cha mẹ dù chỉ trong một niệm. Vậy người nào siêng năng gia công tu tập việc hiếu dưỡng cha mẹ thì công đức ấy so với việc cúng dường Phật bằng nhau không khác”. Đức Phật còn đặt vị trí của cha mẹ ngang bằng với đấng trời Phạm Thiên, là việc rất xứng đáng được cúng dường, qua tinh thần bài kệ sau đây :

 

“Cha mẹ gọi  Phạm thiên

Bậc đạo sư hiện đời

Xứng đáng được cúng dường

Vì thương tưởng con cháu,

Do vậy người hiền triết

Kính lễ và tôn trọng.

Thức ăn và thức uống.

Vải mặc và giường nằm

Xoa bóp khắp thân mình

Tắm rửa cả chân tay

Với sở hành như vậy.

Đối với mẹ cùng cha

Hiện đời người hiền khen

Đời sau hưởng thiện lạc”

 

Cha mẹ là người mang nặng đẻ đau, khổ nhọc nuôi chúng ta nên vóc, nên hình, chăm sóc chúng ta từ thuở ấu thơ cho đến trưởng thành, chúng ta phải nhớ rằng thân thể của chúng ta là một phần thân thể của cha mẹ, một phân than của cha mẹ không thể tách rời không thể đứng riêng, dù muốn chối bỏ cũng không chối bỏ được. Rõ ràng chúng ta nhờ thừa hưởng sự trao truyền từ cha mẹ, nên mình mới được hình hài, thân thể này. Sự trao truyền đó là huyết thống, chứ không phải chuyện ở bên ngoài, cho nên mọi việc hay dở, tốt, xấu của ta là niềm vui nỗi buồn của cha mẹ. Bổn phận làm con thì có thể nào quên được ân sâu, nghĩa nặng của cha mẹ, bởi vì thâm ân đó không thể nào chối cãi, không thể nào từ bỏ được. Do vậy, mà kinh Tâm Địa Quán Đức Phật nói : Cha mẹ có từ ân, mẹ có bi ân, vừa chớm hiện hữu trong đời, ân mẹ đến với chúng ta trước nhất, gần gũi nhất, thân thiết nhất và trong suốt con đường chúng ta đi cũng là bóng dáng mẹ hiền luôn ở bên con, cho nên Đức Phật nói, mẹ đối với con có mười đức:

Một là như đại địa, tất cả muôn loài đều nương tựa vào đại địa, cũng như bào thai của mẹ là chổ nương tựa của thai nhi

Hai là năng sinh, mẹ phải trãi qua mọi sự khổ não mới sinh được con, nên Đức Phật nói :

 

“Ở đời mẹ hiền mang thai con

Mười tháng cưu mang luôn lao khổ

Với năm dục lạc hình không đắm

Tùy thời ăn uống cũng chung đồng

Ngày đêm canh cánh lòng thương xót

Đi đứng nằm ngồi chịu khổ đau

Đến thời mãn nguyệt sinh con dại

Đau tợ gươm dao cắt ruột ran

Mê mẫn đông tây không phân biệt

Khắp thân đau đớn khó nhẫn kham

Hoặc nhơn sản nạn phải từ trần

Sáu thân quyến thuộc đều bi não

Các khổ như vầy chỉ vì con”

 

Ba là năng chính, thân thể con do mẹ tạo hình, giữ gìn từ khi con còn trong bụng mẹ cho đến lúc sanh ra, mẹ sửa sang uốn nắn chăm sóc từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân… cho con được vẹn toàn, mẹ không dám vói cao, không dám bước xa, không nghe nhìn những cảnh tượng xấu ác, không ăn những thức ăn cay nồng…

Bốn là dưỡng dục, mẹ tùy theo thời tiết bốn mùa mà nuôi con khôn lớn. Nuôi bằng chính phần máu thịt của mình, cho nên Đức Phật nói “Con uống hết 180 hộc sửa của mẹ; mẹ được chút vị bổ nào đều cho con cả”. Ngay khi ăn mẹ cũng chăm chút tỉ mỉ, nên ca dao Việt Nam có câu : Ngồi buồn nhớ mẹ thuở xưa. Miệng nhai cơm trắng, lưỡi lừa cá xương”. Đức Phật nói : Mẹ dùng ngực của mẹ làm nơi ngủ nghỉ của con và trên hai đầu gối mẹ là nơi con thường chơi giởn”. Công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ không thể nào diễn tả cho cùng tột được. Khi ta mới mở mắt chào đời cho đến khôn lớn sức dài vai rộng, góp mặt đưa chen với đời đều bắt nguồn từ khi mẹ nuôi dưỡng.

Năm là trí giả, mẹ thường dùng phương tiện làm cho con sinh trí tuệ. Bài học vở lòng con học từ nơi mẹ, con ê a những vần chữ cái, mẹ hát ru con những bài ca nêu gương trung hiếu, hoặc kể cho con nghe những chuyện xưa tích củ làm khuôn vàng thước ngọc cho đời, mẹ gieo mầm tri thức và đạo đức vào tâm thức của con khi con còn bé bỏng thơ ngây. Thí dụ nghe mẹ hát rằng :

 

“Trước đèn xem truyện tây minh

Nực cười hai chữ nhân tình éo le.

Hởi ai lẳng lặng mà nghe

Dữ răn việc trước lành dè thân sau.

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình

 

Sáu là  trang nghiêm, mẹ tô điểm, lấy chuỗi ngọc đẹp, đồ quí báu trang sức cho con để con càng them tốt đẹp như cành hoa tươi thắm trong đời. Mẹ cho con niềm vui và cuộc sống, mẹ phải gánh gồng dầm mưa dãi nắng để có tiền mua cho con bộ đồ đồng phục, được cắp sách đến trường, học hành và vui đùa cùng chúng bạn.

Bảy là an ổn, mẹ ôm ấp con làm cho con nghỉ ngơi an lành. Đến khi khôn lớn, mẹ vẫn là chổ trú cho con, khi con vất vả mệt mỏi, khi con bị va chạm vấp ngã, lận đận vì cuộc mưu sinh hay vì công danh sự nghiệp, con quay về với mẹ để thấy mình nhỏ lại, mình yên tâm bên mẹ. Mẹ là nguồn an ủi của con.

Tám là giáo thọ, mẹ dùng mọi phương tiện khéo léo hướng dẫn dạy bảo cho con. Thí dụ như câu chuyện bà Mạnh mẫu là mẹ của ông Mạnh tử còn nhỏ hay tập nhiễm theo cách sinh hoạt của hàng xóm nên bà phải nhiều lần dời nhà ở. Khi ở gần lò heo thì ông Mạnh Tử thấy người ta làm heo ông cũng bắt chước lấy gối cây giả bộ con heo và lấy dao đâm heo, thấy vậy bà dời nhà đến ở gần nghĩa trang, hằng ngày thấy người ta khóc lóc đưa đám tang đi chôn, ông cũng tập họp các bạn nhỏ làm đám tang, khóc lóc đưa đi, lần này bà dời nhà ở gần trường học, ông Mạnh Tử thấy học trò đi học, ông liền bắt chước đi học, có lúc đang học trong trường, ông nhớ mẹ trốn học về nhà thăm mẹ, lúc đó mẹ ông đang ngồi bên khung cửi dệt vải, thấy con về là liền lấy dao cắt bỏ khúc vải, thấy vậy ông liền hỏi mẹ : Thưa mẹ, sao mẹ cắt mảnh vải trên khung cửi, như vậy tấm vải hư rồi, bỏ đi, không còn xài được. Mẹ ông liền nói: Cũng vậy đó con, nếu ngày hôm nay con bỏ học thì đời con hư như tấm vải đó. Nghe mẹ nói, ông giác ngộ và trở về trường học đến khi thành đạt trở thành Thánh nhân

Còn về thiền học cũng có gương một bà mẹ dạy con như sau: Juin, giáo sư của Shigon là một học giả phạn ngữ nổi tiếng ở thời đại Tokugawa (Đức Xuyên). Khi còn trẻ Juin hay diễn thuyết cho bạn bè, mẹ Juin nghe được việc này, bà viết thư cho Juin “Mẹ không nghĩ rằng con là một Phật tử chân thật, bởi vì con còn muốn trở thành cuốn tự điển biết đi, không ngớt trình báo và phê bình, vinh quang và danh dự. Mẹ muốn con chấm dứt cái việc diễn thuyết của con đi. Con hãy ngậm miệng trong một ngôi đền xa xôi hẻo lánh trên một ngọn núi cao nào đó. Hãy dâng cả thời giờ của con vào việc thiền định, chỉ có cách này con mới đạt được sự chứng ngộ chân thật”. Thật là khôn ngoan khi các bà mẹ biết dùng mọi phương pháp dạy con nên người hữu dụng cho đời.

Chín là giáo giới, mẹ dùng những lời nói để dạy con xa lìa việc ác. Giáo giới cũng như giáo thọ đều là dạy bảo, nhưng giáo giới nặng về tính cách nghiêm cấm. Trong phổ Đà Sơn dị chuyện kể rằng, vua Càn Long du hành miền Giang Nam, đến vùng Phổ Đà bắt gặp một số sư tăng điên đảo càn quấy, vua rât tức giận, định bụng khi về triều trình sẽ sai quân  binh đến bắt giết số người này. Vua Càn Long đem câu chuyện thưa lại với mẹ mình, thái hậu khuyên vua “Không nên, con à ! Phật pháp rất linh diệu, chỉ nên nhìn vào Phật, đừng nhìn vào số sư tăng đó, con à !” Nhờ lời nói ấy, Phổ Đà Sơn tránh được hai trận lôi đình của nhà vua, oai quyền tột đỉnh không ai hơn vua, vậy mà trên vua còn có mẹ, các vị quốc mẫu thường dùng đạo đức để làm hàng rào cho các hành vi của vua con. Trong sử nước ta, vua Lý Nhân Tôn đã nhờ mẹ là Thái hậu Ỷ Lan mà trị nước an dân được tốt đẹp, đó là nhờ công đức của người mẹ.

Mười là cho gia nghiệp, gia nghiệp của mẹ dù nhiều hay ít, tinh thần hay vật chất, chỉ có con mới được thừa hưởng nên cổ đức nói rằng:

“người xưa nói mưa từ trời rơi xuống

Nước chảy xuôi và lệ chẳng ngược dòng.

Con luôn luôn là người được nhận gia nghiệp của mẹ.

Hiếu hạnh là giới luật, là công đức trong muôn ngàn công đức và tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật. Báo hiếu, báo ân, theo Phật giáo, ngoài việc lấy sự tri ân, báo ân của con cái đối với cha mẹ cũng chưa đủ mà còn mở rộng phạm vi qua việc thực hành tứ trọng ân :

1. Ân tam bảo

2. Ân Thầy bạn

3. Ân cha mẹ

4. Ân tổ quốc và cộng đồng xã hội

Ân Tam Bảo : Nhờ có Đức Phật xuất thế, khai sáng con đường giác ngộ giải hoát cho chúng sanh, ra khỏi sinh tử luân hồi, ưu, bi, khổ, não. Tiếp nối ngọn đuốc soi đường của Đức từ phụ Thế Tôn, là các vị tổ sư truyền giáo đã hiến dâng cuộc đời mình cho công cuộc truyền bá giáo pháp Phật Đà, được hiện hữu khắp mọi nơi, nhờ đó chúng ta mới biết giáo lý, nương vào chánh pháp mà phát huy tâm linh, thăng hoa tri thức và đạo đức. Vậy muốn báo ân Tam Bảo được trọn vẹn thì không gì hơn là chúng ta sống đúng chánh pháp, thực hành theo lời Phật dạy trong đời sống, hằng ngày làm tốt đạo đẹp đời, tỏa sáng lời dạy của Đức Thế Tôn cho người cùng noi theo.

Ân Thầy bạn  : Nhờ có thầy dạy dỗ ta nên người, ta mới biết chữa nghĩa, văn chương, nghề nghiệp, học rộng, tài cao, trí tuệ dồi dào, thành đạt với đời, phụng sự xã hội và vinh hiển cho bản thân. Ngày nay có ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngày chúng ta đi thăm thầy cô giáo mà mình đã học để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy cô.

Ân tổ quốc và cộng đồng xã hội : Nói về phương diện giáo dục của Đức Phật, một điểm sáng được ghi nhận là giáo dục về hiếu đạo. Hiếu đạo là nền tảng đạo đức của đạo làm người. chúng ta có thể trang trãi tình thương đến tất cả mọi loài, mọi vật nhưng điểm xuất phát làm nền tảng phải từ sự hiếu kính cha mẹ. Bởi vì, cha mẹ là người mang nặng đẻ đau, khổ nhọc nuôi chúng ta nên vóc nên hình, ơn cha mẹ lớn nhất mà còn quên được thì có ơn nào chúng ta nhớ, do đó, mặc tình làm điều bất nghĩa, bất nhân, trái lại, biết hiếu kính cha mẹ thì cũng vui vẽ làm điều nhân điều nghĩa với mọi người, cho nên có một thi nhân đã nói :

“Con yêu mẹ càng thêm yêu tổ quốc

Mẹ yêu con đất nước hóa nôi vàng”

Từ lòng biết ân cha mẹ được nhân lên đến lòng biết ơn tổ quốc tức ân Đảng, ân Nhà nước và cộng đồng xã hội. Bởi vì, theo lý duyên sinh, Đức Phật dạy, tất cả mọi sự vật hiện tượng đều ảnh hưởng hỗ tương và tùy thuộc lẫn nhau, tất cả đều dựa vào nhau mà tồn tại, sanh diệt hay đổi thay, phát triển. Nhớ ơn tổ quốc là nhìn thấy nhờ có Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và bộ đội giữ vững an ninh quốc phòng, đất nước được thanh bình, chúng ta sống yên ổn, ấm no, hạnh phúc, lo tu hành hoặc lo làm ăn.

Chúng ta thể hiện lòng biết ân đối với quê hương tổ quốc là chúng ta mang hạnh nguyện nhập thế hành đạo một cách tích cực, sống đúng luật pháp hiện hành, làm tốt đạo đẹp đời. Còn đối với cộng đồng xã hội là một thể tổng hòa, có sự tương quan tương duyên với nhau, nên Đức Phật dạy chúng ta phải biết ân cộng đồng dân tộc. Vì nhờ có người nông dân làm ra lúa gạo cho ta ăn, thợ dệt làm ra vải vóc cho ta mặc, thầy thuốc trị bệnh cho ta, công nhân xí nghiệp tạo ra sản phẩm cho ta sử dụng, kỷ sư, kiến trúc sư, thợ xây dựng nhà cửa, làm nhà cho ta ở . . . nói chung các ngành nghề nhằm phục vụ cho đời sống của con người từ vật chất đến tinh thần đều có liên quan đến ta cả và có ân trọng với chúng ta, nên Đức Phật dạy ngừơi Phật tử phải lo đền đáp.

Trong kinh Ưu Bà Tắc Đức Phật dạy “người nghỉ nhờ dưới bóng cây dù một thời gian ngắn cũng không được bẻ cành”. Đức Phật lạy đống xương khô nhằm gợi ý cho chúng ta liên tưởng đến anh linh của các bậc tiền nhân đã dày công đóng góp cho sự sống còn và phát triển của đất nước, sự bình yên cuộc sống hôm nay là thành quả của bao thế hệ vì đại cuộc mà xả thân để giữ gìn, bảo vệ văn hóa, nền độc lập dân tộc và bờ cõi Việt Nam. Tóm lại, để thực hiện trọn vẹn sự báo hiếu – báo ân trong ngày Vu Lan, chúng ta cần phát huy đức hạnh theo mô hình Đức Phật dạy là thực hiện hạnh lành từ ý nghĩ tốt đưa đến lời nói đẹp và hành động có lợi ích cho mọi người đó tức là hạnh hiếu và tâm hiếu, theo lời Đức Phật dạy : “Tâm hiếu là tâm Phật. Hạnh hiếu là hạnh Phật”.

Chúng ta áp dụng mô hình này để xây dựng cuộc sống an bình nội tâm cho chính mình và đưa người cùng đi trên con đường giải thoát. Rồi chúng ta dùng hương đạo hạnh, hương giải thoát, hương trí tuệ, thành tâm dâng lên cúng dường Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật trong mùa Vu Lan – Báo Hiếu.

Kinh sách tham khảo

- Kinh Tâm Địa Quán

- Báo Giác Ngộ

 Số 340 (Tự Tư ngày Báo Hiếu, của Thích Nguyên Hùng)

 Số 184 (Ân Đức của Mẹ, của Như Đức)

 Số 395 (Phật Lực, Pháp Lực, Gia Trì Lực của Chư Tăng, HT.Thích Trí Quảng)

 (Gương Hiếu Hạnh của Mục Kiền Liên, HT. Thích Thanh Từ)

-         Và một số bài khác trong báo Giác Ngộ

 

 

Cập nhật ( 14/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online