Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Vị thế và niềm tin (TK Thích Thiện Thống)
Vị thế và niềm tin (TK Thích Thiện Thống) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/03/2011

VỊ THẾ VÀ NIỀM TIN

* Tỳ kheo Thích Thiện Thống

Mỗi người chúng ta khi đến với Hội thảo, đều mang trong lòng một tâm huyết về sự phát triển bền vững Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với trách nhiệm là một trong những thành viên Giáo  hội, với tư cách là một tỳ kheo, chúng tôi mạn phép trình bày với cử toạ tham luận qua đề tài: “Vị Thế Và Niềm Tin”. Nội dung tham luận của chúng tôi mang tính cảm nhận chủ quan của cá nhân về một vấn đề. Vì thế, trong phần trình bày, đôi khi có thể thiếu tính ái ngữ và nhã ngữ, nhưng bằng tất cả tấm lòng đối với Giáo hội, nên có những việc chúng tôi nói quá thật lòng, mà lời thật thì mất lòng, do đó không sao tránh được điều làm phiền lòng, rất mong được sự hoan hỷ của Chư tôn tịnh đức tăng ni.

Khi đề cập đến sự phát triển bền vững, có rất nhiều nguyên nhân để Giáo hội Phật giáo Việt Nam đạt được những thành quả to lớn, kế thừa xứng đáng 2.000 nãm lịch sử Phật giáo Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân làm nên sự thành tựu của Giáo hội trong 30 năm qua (1), đó là vị thế của Giáo hội ở trong nước cũng như ngoài nước ngày càng được tăng cường, phát triển ở tầm cao, niềm tin của Tãng Ni, Phật tử đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng được củng cố. Qua đó cho thấy, vị thế của Giáo hội được xây dựng trên nền tảng “Kỷ cương”, niềm tin được xây dựng trên yếu tố “Con người”. Ðiều này có nghĩa “Kỷ cương” là mục tiêu hướng đến của tất cả thành viên Giáo hội, của Tăng Ni, Phật tử; niềm tin là trọng tâm trong công tác tuyên truyền (hoằng pháp) và đào tạo con người.

Như chúng ta biết, kể từ năm 1981 lịch sử, Phật giáo cả nước có một tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, và mọi hoạt động Phật sự đều được triển khai theo tiêu chí: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức” (2), “thống nhất trong đa dạng và đồng thuận trong các hoạt động Phật sự”. Qua đó cho thấy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa là người lãnh ðạo, vừa có trách nhiệm chăm lo sự phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu của các hệ phái thành viên, sự tu học của Tăng Ni, Phật tử; tính thống nhất và đoàn kết hòa hợp trong Giáo hội, đó là chân lý bất di bất dịch.

Tuy nhiên, trên thực tế cũng có nơi này nơi kia, người này người nọ chưa nhận thức đúng đắn, thực hiện thiếu nghiêm chỉnh và xa rời chân lý này, dẫn đến hậu quả là niềm tin của Tãng Ni, Phật tử đối với Giáo hội bị sút giảm, vị thế của Giáo hội bị ảnh hưởng, quan trọng nhất là kỷ cương của Giáo hội chưa được xem trọng. Khi Ðức Phật còn tại thế, kỷ cương của Giáo hội bấy giờ cũng được thiết lập trên nền tảng các giới điều của Luật Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, nếu không chấp hành thì bị chế tài tùy theo mức độ vi phạm mà có từng giới điều tương ứng.

Mọi người có thể đứng trên từng góc độ để đưa ra những nguyên lý làm cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát triển, nhưng Giáo hội muốn tạo lập vị thế vững chắc ở trong và ngoài nước, củng cố niềm tin vững chắc trong lòng Tãng Ni, Phật tử cũng như đối với cộng đồng xã hội, thì yếu tố “Kỷ cương” và “Niềm tin” cần được quan tâm đúng mức để phát triển bền vững Giáo hội Phật giáo Việt Nam hôm nay và ngày mai.

1/. Vị thế của Giáo hội xây dựng trên nền tảng Kỷ cương:

Trước hết, kỷ cương là vấn đề lớn, cần được hiểu là vấn đề chung, đòi hỏi sự quan tâm đúng mức và tuân thủ của mọi người như là giải pháp mang lại trang nghiêm cho tự thân và trang nghiêm Giáo hội. Tất nhiên kỷ cương không phải tự nhiên mà có, cũng như hạnh phúc không phải tự dưng mà có, nếu chưa được thực hiện đúng nội dung của nó thì không mang lại hiệu quả. Kỷ cương cũng không ở trong từ ngữ hoa mỹ được định nghĩa thế này hay thế khác như món trang sức cho trí tưởng tượng. Kỷ cương là một nếp sống, được thể hiện qua thái độ sống, cung cách ứng xử và giao tiếp hàng ngày của con người. Giáo hội muốn phát triển, thì việc xây dựng kỷ cương là trách nhiệm của mỗi cá nhân. Thiếu mất tinh thần trách nhiệm này, đồng nghĩa với một nếp sống thiếu kỷ cương, chẳng những tự thân mỗi người sẽ thiếu đi tính mẫu mực trong cuộc sống, mà ngay cả Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng không thể trang nghiêm vững mạnh và phát triển.

Vấn đề được đặt ra ở đây không phải là kỷ cương được đặc cách cho nhịp đập của con tim hay ước lệ của xã hội, mà là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Quy luật tương quan tương duyên không cho phép chúng ta nghĩ về kỷ cương như là một tín điều hay ước lệ hạn hẹp nào đó có thể chấp nhận đối với người này mà không cần theo bởi người khác, hoặc xa hơn, có thể áp dụng cho xã hội này mà không cần theo bởi quốc gia khác. Ðó không phải là cách nhìn chung của vấn đề, và trong chừng mực nào đó, điều này nói lên tinh thần thiếu trách nhiệm của chúng ta đối với sự phát triển và tạo thành vị thế của Giáo hội. Chúng tôi xin đơn cử một thí dụ:

Chúng ta đang là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Rõ ràng ai cũng hiểu rằng, Giáo hội đang tiến triển và có nhiều dấu hiệu tăng tốc trong các hoạt ðộng Phật sự. Nếu duy ý chí, chủ quan trong hành xử, dùng danh nghĩa đoàn kết nội bộ, để rồi có những hành vi đi ngược lại chân lý của Giáo hội ðề ra, không tuân thủ ý kiến chỉ đạo của Trung ýõng Giáo hội, như thế là chủ động phát triển hay tạo thành một tiền lệ nguy hiểm trong thiết chế Giáo hội !. Cho nên, triển khai Phật sự phải trên nguyên tắc kỷ cương, chấp hành và phục tùng trong hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp từ trung ương đến địa phương.

Quốc gia hay tổ chức muốn phát triển, vị thế được tăng cường, yếu tố kỷ cương luôn luôn được xem là mục tiêu hàng ðầu. Bởi vì, kỷ cương sẽ tạo nên những hoạt động mang tính đồng bộ, nề nếp và có tính chiều rộng lẫn chiều sâu; không kỷ cương sẽ tạo thành những hoạt động mang tính tự phát, chấp vá và vô tổ chức. Lịch sử đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá về tính kỷ cương và không kỷ cương. Phật giáo phát triển đạt đến đỉnh cao hay suy thoái về mặt tổ chức, xuất phát ðiểm cũng từ yếu tố này. Qua các báo cáo hàng năm của Trung ương Giáo hội và các tỉnh, thành hội đã cho chúng ta thấy rõ sự phát triển bền vững không thể xa rời nguyên tắc kỷ cương.

Với cảm nhận chủ quan của mỗi cá nhân, có thể cho rằng sự phát triển của Giáo hội là chưa theo kịp mặt bằng chung sự phát triển của xã hội. Cảm nhận này là đúng nhưng chưa toàn diện. Bởi lẽ, trong mối tương quan tương duyên, mọi vấn đề khi triển khai, thực hiện phải có thời gian, không thể một sớm một chiều mà có thể giải quyết theo ý muốn chủ quan cá nhân. Chúng tôi đơn cử, nếu đứng trên bình diện một quốc gia, người dân cảm thấy chiến lược phát triển của Nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu của họ, nhưng người lãnh đạo đất nước khi hoạch định chiến lược phải tính đến sự phát triển đồng bộ của cả dân tộc, mỗi ngành nghề có thể vận dụng và chủ động trong phát triển nhưng phải trên cơ sở chiến lược chung đã được Nhà nước hoạch định. Trên thế giới, dù quốc gia đó rất tiên tiến, nhưng tất cả người dân, công ty, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, họ không bao giờ chủ động đến mức không tuân thủ chiến lược phát triển mà Nhà nước đó đưa ra, đó là tính kỷ cương. Ðối với sự phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chúng ta có thể chưa hài lòng, nhưng đứng trên mặt bằng tổng thể, Giáo hội phải tính đến nhiều góc độ, không thể chủ quan, duy ý chí để dẫn đến sai lầm trong hoạch định. Do đó, khi nhìn dưới góc độ tương quan tương duyên, thì chiến lược phát triển của Giáo hội trong thời gian qua là phù hợp với mặt bằng phát triển chung của cả hệ thống Giáo hội.

Phát triển theo kỷ cương là quy tắc chung của mọi quốc gia, mọi tổ chức. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, không cho thấy sự phát triển mà không cần đến tính kỷ cương. Và lịch sử cũng cho thấy, một khi tính kỷ cương không được tôn trọng thì quốc gia đó, tổ chức đó sẽ không thể phát triển và không thể tạo thành vị thế trong xã hội.

Nếu từng cá nhân khi làm việc theo kiểu đoàn kết hòa hợp hình thức, chẳng những không mang lại thành tựu, mà còn đi ngược lại chân lý “Giáo hội vừa là người lãnh đạo, vừa có trách nhiệm chăm lo sự phát triển có chiều rộng lẫn chiều sâu của các hệ phái thành viên, sự tu học của Tãng Ni, Phật tử; tính thống nhất và đoàn kết hòa hợp trong Giáo hội”. Như thế, những việc làm đó chỉ có ý nghĩa về mặt hô hào khẩu hiệu: “Một ít người miệng thì hô hào đoàn kết, nhưng họ làm việc theo lối quan chủ. Miệng thì nói vì lợi ích của Giáo hội, của Tãng Ni, Phật tử, nhưng khi làm lại trái ngược với đường lối chủ trương của Giáo hội. Họ thản nhiên xây cao dần bức tường vô hình ngăn cách giữa Giáo hội và Tãng Ni, Phật tử, tách rời lợi ích hợp pháp của các hệ phái với đường lối chủ trương chung, chân lý của Giáo hội.

Nhìn chung, tất cả Tãng Ni, Phật tử đều có chung tâm huyết là góp phần làm cho Ðạo pháp và Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát triển, nhưng nếu mỗi cá nhân làm việc mang tính chủ quan, duy ý chí sẽ làm mất đi tính kỷ cương, như vậy thì Ðạo pháp và Giáo hội không thể phát triển một cách bền vững trong lòng dân tộc được.

2. Niềm tin là trọng tâm để tuyên truyền (hoằng pháp) và đào tạo con người:

Như trên đã trình bày, để chân lý, vị thế của Giáo hội, niềm tin của Tăng Ni, Phật tử đối với Giáo hội được củng cố, trọng tâm duy nhất là con đường tuyên truyền (hoằng pháp) và đào tạo. Chỉ có tuyên truyền và đào tạo tốt thì chúng ta mới có thể làm cho mục tiêu chân lý “Giáo hội vừa là người lãnh đạo, vừa có trách nhiệm chăm lo sự phát triển có chiều rộng lẫn chiều sâu của các hệ phái thành viên, sự tu học của Tăng Ni, Phật tử; tính thống nhất và đoàn kết hòa hợp trong Giáo hội” đi vào cuộc sống và vị thế của Giáo hội được nâng cao, tạo thành lẽ sống, cách sống và lối sống của từng thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã, đang hội nhập sâu rộng với thế giới thì công tác tuyên truyền và giáo dục càng đảm nhận trọng trách nặng nề hơn. Nếu tuyên truyền và đào tạo tốt thì Giáo hội sẽ có những Tãng Ni, Phật tử hiểu đúng đắn đường lối chủ trương, chân lý của Giáo hội, và chính những thành viên đó sẽ có nhiều đóng góp thiết thực cho đất nước và Giáo hội. Ngược lại, nếu công tác tuyên truyền và đào tạo không được triển khai tốt, thì những tư kiến, quan điểm chủ quan sẽ là rào cản cho sự phát triển Giáo hội, và chính những người này sẽ trở thành gánh nặng cho Giáo hội.

Vấn đề tuyên truyền phải gắn liền với giáo dục. Ðức Phật và các bậc tiền nhân Phật giáo luôn xem tuyên truyền và giáo dục là đại kế lâu dài. Trong suốt 80 nãm trụ thế, Ðức Phật không một phút nghỉ ngõi, thậm chí trước phút nhập Niết bàn, Ngài vẫn dành thời gian còn lại để thuyết giáo và giáo dục đệ tử xuất gia và tại gia tu học. Nhưng thực tế hiện nay cho thấy đã xuất hiện biểu hiện chệch hướng đường lối chủ chương và chân lý của Giáo hội đề ra, đó là:

- Xa rời nguyên tắc tổ chức: Hiện nay có một số ít ngýời, khi được Giáo hội phân công tham gia một số công tác, họ lại cho rằng mình là đầu tàu lãnh đạo, là trung tâm, hạt nhân quan trọng bậc nhất, có quyền quyết định mọi vấn đề, cho nên họ mang tính chủ quan. Do vậy, khi giải quyết vấn đề không cần tham khảo ý kiến của hệ phái, Tông môn có liên quan, nguy hiểm hơn là họ dùng hình thức tập thể để áp đặt tư kiến của mình lên từng vụ việc. Từ đó, họ trở nên khoe khoan, kiêu ngạo, lộng quyền, lạnh lùng, bất tuân thượng lịnh; vì muốn thực hiện ý đồ của mình, sẵn sàng bới lông tìm vết; tự cho mình là trên thiên hạ, đứng trên hệ phái, Tãng Ni, Phật tử mà không cần bận lòng đến tâm tư, nguyện vọng của Tãng Ni, Phật tử, và những người này đã tạo ra hố ngăn cách giữa Giáo hội và Tãng Ni, Phật tử.

- Sống tự mãn, tư kiến:

Trong năm hạng người, từ hạng thứ nhất đến hạng thứ 4 mà Ðức Phật đã trình bày trong Ðại kinh Ví dụ lõi cây (3): “Hạng thứ nhất con người được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, nên khen mình, chê người ; hạng thứ hai con người do không tự mãn với lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng nên thành tựu giới đức và khen mình, chê người; hạng thứ ba con người do không tự mãn với lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng nên thành tựu thiền định và khen mình, chê người; hạng thứ tư con người do không tự mãn với lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng nên thành tựu tri kiến và khen mình, chê người”, đã cho chúng ta cái nhìn tổng thể về tính tự mãn con người, mục đích tối thượng phải hướng đến là “Giải thoát bất động” (hạng người thứ nãm). Những gì Ðức Phật dạy từ bỏ thì những thứ đó lại được một bộ phận người đang ngưỡng vọng và hướng đến.

Qua bài kinh này, về cách hành xử đã cho chúng ta thấy một thực tế:

+ Có một số người cho rằng mình có thừa năng lực, trình độ, sự hiểu biết đúng đắn, cho nên họ dùng danh nghĩa tập thể để đánh lừa dư luận, qua mặt lãnh đạo Giáo hội và Tăng Ni, Phật tử bằng cách tạo ra các văn bản, báo cáo, chỉ thị bằng tư kiến và tư lợi cá nhân; khi bị mắc khuyết điểm, sai lầm thì họ dùng uy tín của tập thể để bao biện, che giấu, lẫn tránh trách nhiệm vì sợ bị phê bình, kiểm điểm; họ chỉ muốn phô ra sự hoàn thiện, cái cao đẹp, vĩ đại của bản thân, cố hết sức che đậy thật kín thói xấu và nhược điểm của họ;

+ Hiện nay, hiện tượng này tuy chưa phổ biến rộng, nhưng nó sẽ trở thành nguy cơ trong Giáo hội. Vì thế, cần phải nghiên cứu và có hướng tuyên truyền, giáo dục khả thi. Bởi vì, số ít người này đã biến thái đến mức lừa phỉnh cấp trên một cách có hệ thống bằng những tư liệu được chuẩn bị khá kỷ, dùng uy tín tập thể nhằm trấn áp, dọa nạt, khống chế những cá nhân khác khi lên án những việc làm không đúng của họ.

+ Ðức tin đối với đạo pháp:

Theo giáo lý duyên khởi do Ðức Phật tuyên thuyết, mọi việc có liên quan đến cuộc sống con người là do nhân duyên, trong đó có đức tin. Mọi người đến với đạo pháp và quy ngưỡng Ðức Phật, bởi lẽ hệ thống giáo lý của đạo Phật mang tính giải thoát thật trác tuyệt, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của mọi đối tượng; nhất là hình ảnh giải thoát bất động của Ðức Phật và chư Tãng Ni.

Trước một bối cảnh sống giao thoa giữa các nền văn hóa, tôn giáo, mọi người có quyền bày tỏ đức tin, hoặc thay đổi đức tin, đây là một quy luật tất yếu của sự phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần tìm hiểu nguyên nhân tại sao một bộ phận đệ tử Phật tại gia bị xói mòn đức tin và thay đổi đức tin trong thời gian qua? Nguyên nhân thì có nhiều, nguyên nhân khách quan có thể mọi người ai cũng cảm nhận được, nhưng chúng ta không thể đổ lỗi vấn đề này cho nguyên nhân khách quan. Vấn đề chủ yếu ở đây là chúng ta phải tìm ra nguyên nhân nội tại mang tính chủ quan và có giải pháp thiết thực đối với vấn đề này.

Theo cá nhân chúng tôi, có một số nguyên nhân như sau:

a. Vấn đề tuyên truyền, giáo dục về đức tin lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến một bộ phận tín ddồ dễ bị lung lay đức tin, không có niềm tin vững chắc về đức tin mà mình tôn thờ.

b. Việc thuyết giảng, băng đĩa, tư liệu nghiên cứu về Phật pháp trong thời gian qua, đã đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của tín đồ, nhưng đa phần mang tính bác học, chưa quan tâm đúng mức đến đối tượng thụ hưởng tu học là giới bình dân Phật tử. Hằng năm tư liệu nghiên cứu, băng đĩa được phát hành với số lượng hàng triệu bản, nhưng bộ Phật học Phổ thông do Hòa thượng Thích Thiện Hoa biên soạn trýớc năm 1975, vẫn được mọi người trân trọng đón nhận, là cẩm nang tu học của mọi tầng lớp. Ðiều này có thể hiểu rằng, bộ Phật học Phổ thông đã đáp ứng được hai yếu tố: giản dị và thâm thúy. Nếu thiếu hai yếu tố này thì không thể đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập của tuyệt đại đa số Phật tử bình dân. Thời gian gần đây, có một vài vị Tôn đức đã dùng hình thức “Thi hóa” để truyền đạt giáo lý, chúng tôi rất tâm đắc, nếu mô hình nàyđược phổ biến, thì đây cũng là một kênh thông tin để tuyên truyền, giáo dục tốt.

c. Một hiện tượng khác, wó là có một ít công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đặt vấn đề “việc này được Ðức Phật nói, việc khác không phải do Ðức Phật nói”, từ đó làm tín đồ Phật tử giao động đức tin, đưa đến hệ quả là làm Phật tử hoang mang, người không tốt khai thác vấn đề này để tuyên truyền không đúng về Ðức Phật. Hệ quả của việc thiếu sâu sắc này dẫn đến việc thay đổi đức tin trong một bộ phận tín đồ. Trong khi các tôn giáo khác, không có bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đặt vấn đề đối với lời dạy của vị Giáo chủ mà họ tôn thờ. Nghiên cứu khoa học là cần thiết, nhưng nó phải được tính đến yếu tố đức tin của tín đồ Phật tử. Tín đồ Phật tử sẽ biết tin vào đâu khi những công trình như thế tiếp tục được phổ biến. Nếu vấn đề này không được chấn chỉnh và có giải pháp đồng bộ trong nghiên cứu và công bố tài liệu nghiên cứu thì việc thay đối đức tin của Phật tử là điều tất yếu.

d. Một thực trạng khác góp phần làm đức tin của tín đồ bị xói mòn, hệ quả tiếp theo là họ thay đổi đức tin, đó là việc từng cá nhân “bới lông tìm vết” lẫn nhau, công bố trên diện rộng và chỗ đông người. Nói như thế không phải chúng tôi bao che cái bất thiện, nhưng giải quyết phải trên cơ sở pháp Tãng sự, vấn đề này càng làm xói mòn đức tin của tín đồ. Bên cạnh hình ảnh giải thoát bất ðộng của Ðức Phật, tín đồ luôn luôn tôn kính hình ảnh giải thoát bất động của chư Tăng Ni. Nếu hiện tượng này không được khắc phục, chấn chỉnh kịp thời theo hướng “đóng cửa dạy nhau”, hoặc “như cỏ che đất”, mà lại tiếp tục khen chê nhau “Núi cao vì bởi đất bồi, núi chê đất thấp núi ngồi với ai”, thì người không tốt sẽ lợi dụng việc này để tuyên truyền theo kiểu: “Nước trong một giếng múc ra, đó chê kia đục đó là trong chi” nhằm lung lạc đức tin Phật tử. Hệ quả tất yếu là có một bộ phận tín đồ đã thay đổi đức tin, và nếu không chấn chỉnh và có giải pháp kịp thời thì đang, sẽ thay đổi đức tin.

e. Khi có thiên tai, bão lũ, việc chăm lo cho đồng bào sớm khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống là cần thiết, thể hiện tinh thần từ bi, bình đẳng của đạo Phật, nhưng chúng ta cũng cần phải quan tâm đến đời sống, tình cảm của người Phật tử. Nếu chúng ta có kế hoạch chăm lo đến đời sống tinh thần và vật chất của người Phật tử, không phải đợi đến khi có thiên tai, bão lũ, mà thông qua Giáo hội địa phương, chúng ta thường xuyên đến động viên, an ủi Phật tử, chỉ cần một ký gạo, một chai nước tương, họ cũng cảm thấy ấm lòng; hoặc thăm hỏi, chúc phúc khi gia đình họ có quan, hôn, tang, tế. Nếu chúng ta nhân rộng mô hình này, thì đức tin đối với đạo pháp của Phật tử được giữ vững.

f. Ðể tuyên truyền, giáo dục đạt kết quả cao, đối với vấn đề in ấn và phát hành tài liệu nghiên cứu, học tập (kinh, sách, bãng, đĩa), phải tính đến yếu tố phi lợi nhuận. Trong khi hiện nay, vấn đề này lại được phổ biến theo hướng kinh doanh. Kinh doanh là phải thu hồi vốn và có lãi. Mọi người có thể thông cảm là Giáo hội không đủ tìm lực kinh tế để phi lợi nhuận về phổ biến văn hóa phẩm Phật giáo, nhưng cũng không nên phổ biến văn hóa phẩm Phật giáo theo dạng kinh tế thị trường. Vì như thế, Phật tử bình dân không thể tiếp cận và thụ hưởng được văn hóa phẩm Phật giáo. Ðây là một khía cạnh cần được lưu tâm để làm tăng thượng duyên cho mọi ngýời đến với đạo Phật, giữ vững niềm tin với đạo Phật. Trong khi các tôn giáo khác, kinh sách được biếu không, nếu có kinh doanh cũng phi lợi nhuận.

Tuy rằng, Ðất nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam không ngừng phát triển về mọi mặt, nhưng hiện nay đã xuất hiện những thực trạng tiêu cực như đã trình bày. Vấn đề tuy không nhiều, nhưng nếu không có giải pháp chấn chỉnh kịp thời có thể sẽ trở thành nguy cơ cho một giai đoạn suy thoái mới của Phật giáo trong tương lai không xa. Giải pháp thì có nhiều, nhưng giải pháp thiết thực nhất chính là tất cả đệ tử Phật đều phải y cứ một cách đầy đủ lời Ðức Phật dạy trong tu tập và hành trì. Ðể từng bước khắc phục thực trạng này, theo chúng tôi phải tuyên truyền (hoằng pháp) và giáo dục về 7 nguyên lý phát triển Giáo hội theo lời Ðức Phật dạy: 1/. Hòa hợp để cùng nhau giải quyết và chung lo các Phật sự; 2/. Ðoàn kết để thực hiện các Phật sự; 3/. Tuân thủ các nguyên tắc của Giáo hội và đặc thù của hệ phái; 4/. Biết kính trên nhường dưới; 5/. Sống không tham ái; 6/. Sống đời sống an tịnh; 7/. Tự thân có chánh niệm để đem lại an lạc cho mọi người.

Trong 30 nãm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thực sự tận tâm, tận lực hoàn thành nhiều Phật sự, phục vụ các hệ phái thành viên, Tãng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước. Cho nên các hệ phái Phật giáo, Tãng Ni, Phật tử luôn coi Giáo hội Phật giáo Việt Nam là ngọn hải đăng soi sáng cho Tăng Ni, Phật tử, là ngọn cờ chỉ lối đưa đường đến mọi thành tựu Phật sự của Giáo hội. Bất cứ khi nào và nơi đâu, hễ đường lối chủ trương của Giáo hội và nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hệ phái, Tăng Ni, Phật tử hợp nhất làm một, nguyên tắc kỷ cương, niềm tin được phổ biến đều khắp, thì mọi công tác Phật sự dù khó khăn đến đâu cũng đều thành tựu, vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng được nâng cao ở trong và ngoài nước. Còn ngược lại, thì vị thế của Giáo hội và niềm tin ðối với Giáo hội sẽ bị xói mòn bởi tư kiến, tư lợi cá nhân khi triển khai, thực hiện các Phật sự.

Ðể làm cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát triển bền vững, vị thế và niềm tin được tãng cường, củng cố thì công tác hoằng pháp và giáo dục luôn mang lại hiệu quả thiết thực nhất. Với trách nhiệm cá nhân đối với GHPGVN, chúng tôi mạn phép đề xuất một vài giải pháp như sau:

1. Thời gian tới, Giáo hội cần xây dựng chiến lược hoằng pháp và đào tạo ở cấp độ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo từng lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu; từng vùng miền, biên giới, hải đảo.

2. Chương trình đào tạo về hoằng pháp, một năm cuối nên học chuyên ngành về xã hội học, dân tộc học, tôn giáo học, nghệ thuật ngôn từ khi thuyết giảng để Tãng Ni sinh có kiến thức tổng quát, tránh tình trạng thuyết giảng không phù hợp với vùng miền, đụng chạm tôn giáo khác một cách không cần thiết.

3. Hằng năm, nên có một chủ đề chính về hoằng pháp, mỗi quý hoặc mỗi tháng có từng chủ đề phụ. Tãng Ni khi thuyết giảng cần tập trung vào chủ đề đã được đưa ra. Nếu được như vậy thì công tác hoằng pháp sẽ đem lại nhiều hiệu quả hơn.

4. Vấn đề hoằng pháp viên Phật tử là cần thiết, nhưng nếu mỗi nãm chỉ tham dự Hội thảo Hoằng pháp một vài ngày, thì với thời lượng được tiếp thu như thế thì chưa thể đáp ứng trách nhiệm của một hoằng pháp viên. Chúng tôi thấy nên mở khóa đào tạo Hoằng pháp viên theo mô hình bán tập trung, ba kỳ trong một nãm và mỗi kỳ 2 tuần.

5. Trong công tác tuyên truyền, giáo dục, phải tính đến số đông, chúng ta cần chủ động phổ biến những tài liệu vừa thâm thúy, vừa giản dị như bộ Phật học Phổ thông của Hòa thượng Thích Thiện Hoa biên soạn để giúp tín đồ am hiểu giáo lý giải thoát của Ðức Phật.

6. Những công trình nghiên cứu có liên quan đặt việc Ðức Phật có nói hay không có nói vấn đề này, vấn đề kia, theo chúng tôi cần có giải pháp đồng bộ trong việc nghiên cứu và phổ biến những tài liệu này, trước mắt, nếu có những công trình như thế chỉ nên để nó làm tý liệu nghiên cứu ở thư viện. Nếu vấn đề này được chấn chỉnh thì đức tin của Phật tử càng được củng cố.

7. Nếu vấn đề “bới lông tìm vết” trong nội bộ được khắc phục và giải pháp triệt để thì đạo pháp chúng ta không bị xuyên tạc và đức tin của Phật tử không bị xói mòn, càng được củng cố.

8. Chúng ta cần có chiến lược lâu dài chãm lo đời sống tâm linh và vật chất, nhứt là phổ biến văn hóa Phật giáo theo hướng phi lợi nhuận. Nếu được vậy thì sẽ góp phần củng cố đức tin của Phật tử.

Hy vọng rằng những gì mà chúng tôi trình bày, sẽ góp phần vào việc đánh giá và có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng và có giải pháp khả thi để làm cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam không ngừng phát triển, vị thế của Giáo hội luôn được khẳng định, niềm tin của Tãng Ni và Phật tử đối với Giáo hội luôn được giữ vững; với đường lối chủ trương đúng đắn của Giáo hội sẽ giúp chúng ta vừa hoàn thành các Phật sự, vừa thành tựu “Giải thoát bất động” như lời Ðức Phật đã dạy.

Những gì chúng tôi trình bày trong tham luận đều phát xuất từ tự tấm lòng đối với đạo pháp, vì sự nghiệp phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, đây là những ý kiến cá nhân, không sao tránh khỏi những điều gì làm phiền lòng chư tôn tịnh đức tăng ni, rất mong được sự hoan hỷ. Xin kính chúc chư tôn giáo phẩm lãnh đạo các cấp Giáo hội, chư Tôn đức pháp thể khinh an, viên thành Phật sự như ý nguyện; kính chúc chư vị khách quý và Phật tử thân tâm thường lạc, thành đạt trong công tác; kính chúc hội thảo thành công tốt đẹp.

Chú thích:

(1) Ban Thường trực HÐTS, Báo cáo tổng kết công tác Phật sự nãm 2010, tài liệu lưu hành nội bộ, tháng 01/2011.

(2) Hội đồng Trị sự, Hiến chương GHPGVN, NXB Tôn giáo năm 2008, trang 3

(3) HT. Thích Minh Châu, Ðại tạng kinh Việt Nam, kinh số 29, Ðại kinh Ví dụ lõi cây, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam 1992, trang 423 – 434.

Cập nhật ( 18/03/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online