Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Góp phần tìm hiểu biểu tượng con thỏ (ThS Tiền Văn Triệu)
Góp phần tìm hiểu biểu tượng con thỏ (ThS Tiền Văn Triệu) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
08/04/2011

GÓP PHẦN TÌM HIỂU BIỂU TƯỢNG CON THỎ TRONG VĂN HÓA KHƠ ME NAM BỘ QUA TRUYỆN CỔ

* Th.S Tiền Văn Triệu - Phân Hội VĐG Sóc Trăng

Tìm hiểu nhân vật con thỏ truyện cổ Khơ Me, trước hết cần thể hiện vai trò của nó trong văn hóa tín ngưỡng của tộc người này. Bởi vì, đối với người Khơ me, môi trường văn hóa tín ngưỡng mang đậm tính Phật giáo của họ cũng chính là nơi để truyện cổ có điều kiện lưu giữ và truyền miệng. Đề cập đến văn hóa của người Khơ Me Nam Bộ là đương nhiên nói đến vai trò của đạo Phật Tiểu thừa (Hinayana) trong đời sống tâm linh của tộc người này. Điều đặc biệt là, có một bộ phận truyện cổ của người Khơ Me Nam Bộ thể hiện nội dung tín ngưỡng Phật giáo đậm nét. Vì thế, có nhà nghiên cứu gọi bộ phận truyện này với tên gọi “những tích truyện về đức Phật, ít nhiều mang ý nghĩa hoằng giáo” (1) thể hiện qua các Phật thoại với các tích về đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni). Trong một dạng thức của mình, nhân vật con thỏ là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni đã gợi cho người viết bài này những vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu vai trò của nó trong truyện cổ Khơ Me nói chung.

Trong văn hóa tín ngưỡng của người Khơ Me, đạo Phật Tiểu thừa giữ vai trò hết sức quan trọng, là sợi dây liên kết cộng đồng. Vì vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu về văn hóa Khơ Me đều thống nhất, nói đến người Khơ Me là nói đến đạo Phật Tiểu thừa với hình ảnh trung tâm là ngôi chùa. Mở rộng vấn đề, trong văn hóa tín ngưỡng của người Khơ Me, tức là trong đời sống tín ngưỡng Phật giáo Tiểu thừa hình tượng con thỏ được coi là một trong những biểu tượng của tôn giáo tiêu biểu cho hình ảnh trung tâm là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong muôn vàn con vật, người Khơ Me chọn con thỏ làm biểu tượng tôn giáo hẳn là có lý do của nó. Nói như định nghĩa của karl-Guslav-Jung thì “biểu tượng là một cái gì ngoài ý nghĩa đích thực của nó, còn nói lên một cái gì khác nữa” (2). Phải chăng hình tượng con thỏ trong văn hóa tín ngưỡng Khơ Me ngoài ý nghĩa đích thực của nó là biểu tượng tôn giáo thì còn có ý nghĩa khác? Nếu có ý nghĩa nào ngoài ý nghĩa biểu tượng thì chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa đó trong truyện cổ, vì truyện cổ vốn là một bộ phận văn hóa tinh thần hết sức độc đáo của người Khơ Me. Tìm hiểu kĩ vấn đề này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn bao quát hơn về nhân vật con thỏ trong truyện cổ Khơ Me với nhiều dạng thức, vai trò, chức năng khác nhau.

Trong truyện cổ, con thỏ xuất hiện với chức năng đặc biệt mà chúng tôi gọi là chức năng tín ngưỡng tôn giáo. Chính đặc điểm thi pháp này làm cho truyện cổ của người Khơ Me, nhất là những Phật thoại (giai thoại về đức Phật), con thỏ xuất hiện vừa là nhân vật trung tâm của câu chuyện kể vừa là biểu tượng tôn giáo mang đậm màu sắc Phật giáo (ý nghĩa hoằng giáo). Để làm rõ vấn đề này, trước hết chúng ta phải tìm về nguồn gốc để lí giải vì sao con thỏ có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người Khơ Me mà truyện cổ đã thể hiện. Bài viết tập trung thể hiện mấy vấn đề chính dưới đây.

1. Con thỏ trong văn hóa Khơ Me

1.1. Trong nghi lễ vòng đời người

1.1.1. Về con thỏ trong văn hóa của người Khơ Me, trước hết thể hiện ở nghi lễ vòng đời (Hôn - Quan - Tang - Tế) của tộc người này. Cụ thể là trong cách tính tuổi của người Khơ Me (trong sinh nở và nuôi dạy, tuổi cầm tinh con giáp nào cũng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến việc dựng vợ, gả chồng), ngoài các con vật khác được dùng làm con giáp tính tuổi tương đồng với người Kinh thì ở tộc người này còn có tuổi thỏ - tương ứng tuổi mèo ở người Kinh. Lí giải vì sao họ chọn con thỏ cầm tinh cho tuổi của mình còn là một vấn đề hết sức phức tạp, cần phải tập trung liên ngành.

Được biết, sự tương đồng giữa người Hoa và người Khơ Me là tuổi con thỏ này, nhưng có người còn nói rằng, đối với người Khơ Me Campuchia tuổi con thỏ được thay thế bằng tuổi con hổ. Vậy, cách tính tuổi giữa người Khơ Me Campuchia có gì khác biệt? Đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ. Để lý gải vì sao, người Khơ Me Nam Bộ chọn con thỏ cho tuổi của mình (mà không chọn con voi, con khỉ cũng là những con vật mà như chúng ta biết trên những bức tranh minh họa ở các chùa Khơ Me, voi và khỉ cũng đã từng tìm thức ăn cứu đức Phật trong cơn nguy khốn giữa rừng), theo chúng tôi  trước hết xuất phát từ phẩm chất của con vật này. Đó là những phẩm chất như: thông minh, lanh lợi, mưu trí, khôn ngoan, dũng cảm và đặc biệt con thỏ còn là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni lúc còn tại thế. Phải chăng vì con thỏ là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni, từng hết lòng hi sinh cho đức Phật nên người Khơ Me mới lấy con thỏ làm một trong những con giáp tính tuổi của mình. Bởi ở tộc người này, Phật Thích Ca Mâu Ni là đấng tối cao mà họ tôn thờ chăng?

Như đã nói, con thỏ có những phẩm chất như trên kia thì ở người Kinh, Hoa đều có cả nhưng là tiền kiếp của một biểu tượng tôn giáo thì chưa thấy có ở người Kinh, Hoa nếu xét từ sự tác động qua lại giữa biểu hiện của các nền văn hóa. Có thể chính vì con thỏ có phẩm chất là hết lòng hy sinh vì đức Phật lại là tiền kiếp của Phật nên người Khơ Me đã chọn làm tuổi của mình với mong ước đây sẽ là tuổi ngọc, tuổi có duyên với Phật Thích Ca mâu Ni. Như đã nêu, con thỏ thể hiện trong nghi lễ vòng đời ở cách tính tuổi - tuổi thỏ - lúc sống - đến khi chết được vào cõi niết bàn (Nirna - có nghĩa là tịnh không). Thiết nghĩ đây cũng là chiều sâu văn hóa mà người Khơ Me đã khéo léo gửi vào những Phật thoại nhằm thể hiện mong ước của mình ở kiếp sau.

Trong kho tàng truyện cổ của người Khơ Me Nam Bộ, các truyện mà chúng tôi sưu tầm được đã một phần chứng minh cho những lí luận trên kia. Trong truyện  Sự tích lễ hội Óc-Om-Bok (3), con thỏ chính là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nội dung câu chuyện được kể lại như sau: “Lúc chưa đắc đạo, ở một kiếp nọ, đức Phật đầu thai thành con thỏ. Vì nóng lòng muốn cho đức Phật sớm đắc đạo, Ngọc Hoàng bèn hóa thành kẻ ăn mày đói khát. Gặp con thỏ, người ăn mày năn nỉ xin thỏ bố thí cho cái xác của mình để ăn. Thỏ lúc đó bảo rằng: người hãy chụm lửa, khi lửa đang cháy cao lên, con thỏ giũ lông mình cho thật sạch. Vì sợ nhảy vào lửa, các con vật đeo trên mình của thỏ như chấy, rận đang bám vào lông bị chết theo, thỏ sẽ phạm phải tội sát sinh.

Giũ lông xong, con thỏ bèn nhảy vào đống lửa đang cháy ngùn ngụt ấy. Khi thỏ nhảy vào lửa thì lửa bèn tắt hết cả. Ngọc Hoàng thấy vậy bèn vắt lấy nước từ bảy ngọn núi vẽ lên mặt trăng hình con thỏ. Nên hiện nay, khi nhìn lên mặt trăng vào đêm trăng tròn sẽ thấy hình con thỏ rất rõ trên mặt trăng.

Việc tổ chức cúng trăng vào đêm 15 trăng tròn tháng Khe Kđắc là ngày lễ Óc-Om-Bok chính là để tưởng nhớ công đức của Phật Thích Ca Mâu Ni lúc đầu thai thành con thỏ đã không ngần ngại hy sinh tính mạng để sớm đắc đạo thành Phật cứu chúng sinh. (Người kể Lào Được, Cống Đôi, Đại hải, Châu Thành, Sóc Trăng).

Con thỏ trong truyện trên không chỉ là biểu tượng tôn giáo trong vai tiền kiếp của đức Phật mà còn giữ chức năng giải thích nguồn gốc lễ hội. Hai chức năng này thấm đẫm vào nhau, khó tách rời, đó là còn chưa nói đến con thỏ thực hiện một chức năng khác là dùng để giải thích vì sao trên mặt trăng có hình dáng con thỏ nhưng chức năng sau cùng này, tỏ ra không quan trọng. Đọc truyện này, ta bắt gặp phẩm chất của thỏ là lòng hy sinh cao cả đối với Phật giáo Tiểu thừa. và truyện Sự tích con thỏ và mặt trăng, một lần nữa giúp ta khẳng định rõ hơn phẩm chất đó. Truyện được kể như sau: Trong một tiền kiếp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có lần ngài là một con thỏ sống quanh quẩn bên bờ sông Hằng. Thỏ kết bạn rất thân với con khỉ, rái cá và con chó rừng. Thỏ hiểu biết nhiều hơn ba con thú kia, thỏ còn biết tham thiền để cầu mong gần gủi với đấng tối cao. Thỏ sống cùng với ba người bạn bên bờ sông trong cảnh rất yên vui. Tuy nhiên trong số những người bạn của thỏ, còn có con vật hay sát sinh làm thỏ rất lo lắng cho hậu kiếp của những người bạn mình.

Cuộc sống trôi đi rất nhiều năm. Một hôm, đến ngày trước khi trăng tròn, thỏ bèn gọi ba bạn đến bảo rằng: Trước kia chúng ta có hứa rằng, cùng đến ngày trăng rằm thì nhịn đói, ngồi thiền để giữ cho lòng được thanh sạch và không bợn nhơ, ngoài ra còn phải tích cực làm việc thiện. Nay, tôi xin nhắn các bạn vào sớm ngày mai đi tìm thức ăn như mọi ngày nhưng không được ăn mà để dành cho những người đi ăn xin.

Sáng sớm hôm sau, cả ba cùng đi tìm mồi ăn, chẳng bao lâu rái cá đêm về được vài con cá còn chó rừng đem về một vò sữa, một hũ mỡ, một gói cơm, còn khỉ thì mang về một ít trái cây. Cả ba cùng ngồi một chỗ tham thiền, riêng thỏ thì chẳng đi đâu cả mà chỉ chăm chú vào việc ngồi một chỗ để tham thiền ngay trước cửa hang.

Ý định của các con vật đã làm động lòng thượng giới. Thần Sakah -  vị chúa của thần Tevadda bèn giả làm cụ già ăn xin đến để thử lòng con vật dưới phàm trần.

Thần Sakah đến chỗ con rái cá ngồi ăn xin. Rái cá bảo: xin mời ông dùng cá. Người ăn  xin đáp: cảm ơn, chờ tôi đi rửa mặt xong sẽ quay lại ăn nhé!

Thần Sakah đến chỗ con chó rừng và con khỉ cũng được hai con vật mời ăn và người ăn xin cũng lặp lại câu nói trên như đã nói với rái cá.

Cuối cùng, đến chỗ thỏ, cụ già ăn xin thấy thỏ chào đón mình rất vui vẻ, vì thỏ không đi tìm thức ăn như chúng bạn nên chẳng có gì mời người ăn xinn nên thỏ bảo rằng: xin người chờ tôi đốt lửa lên sẽ dâng cho người một thức ăn ngon lành. Nói xong lửa đốt lửa cho cháy lên cao, lúc này thỏ nhảy vào đống lửa tự nướng mình và mời người ăn xin ăn thịt nướng này. Nhưng kì lạ thay, lửa không cháy mà ngược lại bị gió thổi tắt  đi nhưng thỏ không làm nản lòng lại cho củi vào và tiếp tục đốt.

Trong lúc đó, cụ già ăn xin biến mất. Thần Sakar hiện ra cho biết tên mình và khen ngợi nghĩa cử của bốn con vật, nhất là thỏ. Ông nói, đối với sự cao đẹp của thỏ ta phải để cho người đời sau noi gương. Thần Sakar  ra lệnh thần Inđra lấy hòn đá ngọc vẽ hình thỏ lên trên mặt trăng để nhớ mãi sự hy sinh cao đẹp này. Từ đó, đồng bào Khơ Me cúng mặt trăng để nhớ đến nghĩa cử cao đẹp của Phật Thích Ca Mâu Ni trong kiếp con thỏ. Đồng thời để giải thích vì sao trên mặt trăng lại có hình dạng con thỏ trên ấy” (4). Trong truyện cổ của Lào (5) cũng có truyện Sự tích con thỏ trên mặt trăng nhưng con thỏ không được kể rõ là tiền kiếp của Phật mà chỉ đề cập đến phẩm chất hết lòng hy sinh thân xác mình cho người hành khất. Tuy nhiên, có thể xem truyện này của người Lào và truyện mà chúng tôi nói tới trên kia của người Khơ Me là kết quả của sự tiếp biến các Phật thoại từ quá trình truyền bá và ảnh hưởng của đạo Phật qua các quốc gia: Lào - Campuchia và du nhập đến vùng Nam Bộ Việt Nam có người Khơ Me sinh sống mà lịch sử văn hóa lâu đời có ảnh hưởng trực tiếp từ người Khơ Me Campuchia. Mặt khác, theo tìm hiểu, tiền kiếp của đức Phật trong văn hóa tín ngưỡng tôn giáo của người Lào là con sếu (6) chứ không phải là con thỏ như trong tín ngưỡng tôn giáo của người Khơ Me. Bên cạnh đó, nhân vật con thỏ trong truyện cổ Lào được phản ánh khá đầy đủ với những phẩm chất tốt - xấu chứ không giống biểu tượng con thỏ trong truyện cổ Khơ Me mang ý nghĩa thuần nhất tích cực. Đó là các truyện: Sự tích con thỏ và mặt trăng, Vì sao con thỏ bị cụt đuôi, Chó sói và sếu, Con thỏ nhát gan (7).

Khảo sát thêm một số truyện khác của Huỳnh Ngọc Trảng trong Truyện dân gian Khơ Me (8) Như các truyện: Thỏ và cọp, Thỏ khôn ngoan, Thỏ xử kiện, Hai thằng đoạt vợ người, Thầy thuốc rắn cứu cọp, Con sấu bội ơn, Sói và tép… Chúng tôi thấy ngoài những phẩm chất nêu trên của thỏ còn có thêm một chức năng khác là thực hiện công bằng xã hội, gọi là chức năng công lý. Thỏ dùng chính sự thông minh, mưu mẹo của mình trong rất nhiều trường hợp đã thể hiện được tài năng xử kiện, ứng phó với hoàn cảnh, giải thoát cho các con vật, tự cứu mình, cứu con người… Nhưng quan trọng hơn cả là thỏ có khả năng đem lại công lý. Đây phải chăng là mong ước có được cuộc sống công bằng của người Khơ Me xưa kia, và cũng chính vì vậy mà họ chọn con thỏ làm tuổi của mình. Như vậy, có thể nói, phẩm chất của thỏ nói chung là thuần nhất nghiêng về ý nghĩa tích cực.

Bên cạnh đó, xuất phát từ văn hóa truyền thống phương Đông của các dân tộc cư trú trên vùng văn hóa này, con thỏ cũng có phẩm chất vừa thông minh, lém lỉnh nhưng cũng rất láu cá… Nhưng đặc điểm về tính cách của thỏ trong truyện cổ của các dân tộc ít người nói chung và trong truyện cổ của người Khơ Me Nam Bộ nói riêng đã trở nên phong phú, đa dạng hơn.

Trong truyền thuyết của Ấn Độ, con thỏ cũng có phẩm chất như đã nói. Điều này làm nên sự ảnh hưởng đến con thỏ trong truyện cổ Khơ Me Nam Bộ chăng? Bởi vì, như chúng ta biết, đạo Phật tiểu thừa của người Khơ Me Nam Bộ có nguồn gốc từ Ấn Độ. Theo PGS. TS. Phan An thì: “Người Khơ Me ở Nam Bộ với người Khơ Me Campuchia là đồng tộc, có nhiều nét tương tự về lịch sử văn hóa và tộc người. Trước khi di cư đến vùng đất Nam Bộ của Việt Nam, người Khơ Me đã tiếp nhận Phật giáo tiểu thừa được truyền từ Ấn Độ qua nhiều nẻo đường khác nhau. Con đường truyền bá Phật  giáo Tiểu thừa từ phía Nam Ấn Độ qua Sri Lan Ka và các quốc gia Nam Á đến người Khơ Me ở vương quốc Chân Lạp vào khoảng thế kỷ X - XI. Để rồi từ đó đi cùng với di dân Khơ Me đến Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIV - XV và XVI” (9). Như vậy, từ tôn giáo ở Ấn Độ rồi đến tôn giáo ở Campuchia, rồi Nam Bộ Việt Nam, Phật giáo Tiểu thừa đã có một quá trình biến đổi liên tục sao cho phù hợp với các vùng văn hóa mà nó đi qua. Và hẳn nhiên theo tôn giáo, văn hóa cũng được giao thoa, tiếp biến. Như vậy, từ con thỏ trong văn hóa Ấn Độ (trong truyền thuyết có liên quan đến những giai thoại về Phật thoại) đến con thỏ trong đời sống Phật giáo được phản ánh qua truyện cổ của người Khơ Me Nam Bộ là một quá trình giao lưu, tiếp biến và tiếp nhận không thể chối bỏ. Có thể tìm thấy trong văn hóa Ấn Độ hình tượng con thỏ cũng như trong tôn giáo của họ đi từ đạo Bà La Môn đến Phật giáo Tiểu thừa là một quá trình thay đổi và phát triển liên tục của Phật giáo. Chắc rằng, vai trò của con thỏ là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni trong đời sống Phật giáo qua các Phật thoại chính là sự minh chứng cho sự sụp đổ của đạo Bà La môn trước một tôn giáo khác với giáo lý mềm mại hơn rất nhiều là đạo Phật Tiểu thừa. Đã từng có những dấu vết của đạo Bà La Môn còn tồn tại và được phản ánh qua truyện cổ của người Khơ Me Nam Bộ như truyện Thômabal và Kabil Maha Prum - vị thần bốn mặt, Sự tích nàng Visakha chẳng hạn (10).

Trở lại vấn đề phẩm chất của thỏ như đã nêu, chúng ta còn được biết thỏ đã là biểu tượng cho công lý khi người Khơ me Camphuchia cho khắc hình của thỏ trong con dấu trong các tòa án (11). Điều này chứng tỏ, con thỏ trong đời sống xã hội của người Khơ Me Nam Bộ có vai trò hết sức quan trọng. Sự thông minh, trí tuệ, mưu mẹo, tài ba trong xử trí đã không ít lần đem lại công lý cho con người được phản ánh qua truyện cổ… Tuy nhiên, theo chúng tôi chức năng quan trọng hơn cả là chức năng tôn giáo của thỏ. Từ chức năng này mà con thỏ đã trở thành biểu tượng cho sự công bằng xã hội, cứu độ chúng sinh vì thỏ quan niệm của người Khơ Me là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni. Từ đó có thể nói, thỏ là con vật tổ, vật thiêng của người Khơ Me là hoàn toàn có cơ sở.

1.1.2. Trong nghi lễ vòng đời người, người Khơ Me Nam Bộ còn xem thỏ là biểu tượng của sự may mắn và hạnh phúc nên trong ngày cưới, họ thêu hình thỏ trên gối áo cưới cho cô dâu và chú rể. Trong truyện Con sấu bội ơn, Phần kết thúc truyện được các tác giả dân gian gởi gắm ước mơ này: “Người Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long thường có tục vẻ hay khắc hình đầu cá sấu trên thành chiếc xe bò của mình. Điều này có ý nghĩa nhắc lại sự tích trên và cầu mong việc đi lại làm ăn của mình được nhiều may mắn. Cũng có người lại thêu hình thỏ trên cặp gối của vợ chồng mới cưới để thể hiện tình cảm đối với con vật thông minh và tốt bụng, lúc nào cũng muốn cứu giúp người” (12).

Như vậy, có thể nói con thỏ trong văn hóa của người Khơ Me mà trước hết là trong nghi lễ vòng đời người đã được truyện cổ phản ánh khá chi tiết, sinh động. Những vấn đề ấy đã góp phần lí giải vai trò của con thỏ trong đời sống văn hóa của người Khơ Me. Bên cạnh đó, vẫn còn một biểu hiện khác về hình ảnh của con thỏ trong văn hóa Khơ Me đó là con thỏ trong lễ hội truyền thống của họ.

1.2. Hình ảnh con thỏ trong lễ hội Óc-Om-Bok của người Khơ Me Nam Bộ

Trong ba lễ hội lớn của người Khơ Me Nam Bộ là lễ Chol-Chnâm-Thmây, và lễ Sen-đol-ta thì lễ Óc-Om-Bok hay còn gọi là lễ cúng trăng cũng là lễ hội thể hiện rõ văn hóa nông nghiệp lúa nước của tộc người này. Ý nghĩa của lễ hội chủ yếu là cầu cho mưa thuận gió hòa mùa màng tươi tốt, con người có cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Những mong ước đó, một phần thể hiện qua lễ hội, một phần gửi gắm vào Phật giáo Tiểu thừa, nơi đấng tối cao ngự trị là Phật Thích Ca Mâu Ni, dù trước đó và hiện nay, người Khơ Me Nam Bộ vẫn theo tín ngưỡng đa thần.

Lễ Hội Óc-Om-Bok là lễ hội diễn ra vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hằng năm, đây là lễ hội truyền thống. Tìm hiểu về nguồn gốc của lễ hội này theo nhiều cách khác nhau cũng như lý giải vấn đề từ nhiều phía sẽ góp phần làm phong phú hơn nền văn hóa Khơ Me. Lễ hội này của người Khơ Me Nam Bộ được lí giải có nguồn gốc từ truyện cổ như đã nêu trên kia (trong mục 1.1), con thỏ xuất hiện không chỉ với chức năng khác là chức năng giải thích nguồn gốc xã hội. Trong vai trò là tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni, con thỏ được người Khơ Me tưởng nhớ và là đối tượng để họ hướng tới cầu mong cuộc sống bình yên, no đủ. Hình ảnh con thỏ với đức tính hy sinh cao cả và sau đó được đắc đạo, được Ngọc Hoàng vẽ hình ảnh lên mặt trăng. Lễ hội Óc-Om-Bok còn có tên gọi khác là lễ cúng trăng, cúng trăng cũng chính là cúng đức Phật của họ, mà con thỏ là biểu tượng tôn giáo nên cúng Phật cũng là để tưởng nhớ đến công đức hy sinh của thỏ vậy. Do vậy, có thể nói, người Khơ Me Nam Bộ đã lồng vào lễ hội của mình những ý nghĩa tôn giáo đậm nét, với mục đích cuối cùng là cầu an, cầu được phước. Trong tất cả các hoạt động của người Khơ Me, làm phước là một hoạt động có ý nghĩa xã hội và tôn giáo rõ nét mang tính chất nhân văn sâu sắc.

Nhìn chung, con thỏ trong văn hóa Khơ Me có vai trò, vị trí hết sức quan trọng. Nó vừa là biểu tượng tôn giáo vừa là biểu tượng cho công lý, hạnh phúc và sự may mắn. Phẩm chất con thỏ thông minh, dũng cảm hết lòng hy sinh vì đạo Phật tiểu thừa đã được người Khơ Me thể hiện trong văn hóa của họ một cách rõ nét qua truyện cổ. Những câu chuyện kể dùng để giải thích nguồn gốc lễ hội, thì cũng đồng thời gắn với sinh hoạt tôn giáo của tộc người này mà hình tượng con thỏ vừa thực hiện chức năng tôn giáo, vừa thực hiện chức năng công lý, giải thích nguồn gốc lễ hội như đã nói góp phần lí giải và làm phong phú thêm nhân sinh quann, thế giới quan của tộc người mà sinh hoạt văn hóa quanh năm chủ yếu gắn liền với lễ hội truyền thống, chùa chiền và với Phật Thích Ca Mâu Ni. Tất cả tập trung quanh Phật Thích Ca Mâu Ni mà biểu tượng con thỏ góp phần thể hiện đã cho thấy ý nghĩa đặc biệt của thỏ trong tư duy văn hóa Khơ Me Nam Bộ. Tuy nhiên, nhân vật con thỏ còn có sự tác động đến một bộ phận văn hóa khác. Đó là văn học dân gian mà truyện cổ là nơi in đậm dấu ấn rõ nét nhất của hình tượng này.

2. Con thỏ trong truyện cổ Khơ Me

2.1 .Nhân vật con thỏ tạo nên kiểu truyện mà trước hết là sự ảnh hưởng về số lượng truyện

Thứ nhất, sự ảnh hưởng về lượng truyện. Cho đến nay, theo các công trình sưu tầm về truyện cổ Khơ Me của Huỳnh Ngọc Trảng (Hội Văn nghệ thuật Cửu Long, xuất bản năm 1987), văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên chủ biên, 2002, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh) mà chúng tối dùng khảo sát về nhân vật con thỏ cho thấy nhân vật này có một vị trí rất quan trọng trong truyện cổ. Vị trí ấy đã góp phần làm cho nhân vật này có một nguồn truyện riêng. Nhà nghiên cứu Châu Ôn đã lưu ý chúng tôi vấn đề này khi tìm hiểu nhân vật con thỏ trong truyện cổ Khơ Me trong bài viết Một vài thể loại văn học dân gian Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long (12) như sau:  “Con thỏ có riêng một nguồn truyện, vì con thỏ đối với người Khơ Me được coi là con vật tinh khôn, đã biểu lộ lòng hy sinh tuyệt đối cho Phật giáo, ngoài ra thỏ còn là một kiếp hóa thân của đức Phật”.

Căn cứ vào nguồn truyện mà chúng tôi sưu tầm được cũng như qua so sánh đối chiếu với các truyện có nhân vật con thỏ của Huỳnh Ngọc Trảng có thể nói nhận định trên là đúng. Có thể khái quát lượng truyện cổ Khơ Me Nam Bộ qua bảng thống kê sau:

 

STT

TÊN TRUYỆN

Ý NGHĨA

CHỨC NĂNG BIỂU TƯỢNG

1

Thỏ và cọp

Ngợi ca phẩm chất

Công bằng

2

Thỏ khôn ngoan

nt

Công bằng

3

Thỏ xử kiện

nt

Công lý

4

Hai thằng đoạt vợ người

nt

Công lý

5

Thầy thuốc rắn cứu cọp

nt

Công lý, công bằng

6

Con sấu bội ơn

nt

nt

7

Sói và tép

nt

Khác

8

Thỏ và ốc

Phê phán

Ngụ ngôn

9

Sự tích con thỏ và mặt trăng

Ngợi ca

Tôn giáo, giải thích biểu tượng thỏ trên mặt trăng

(chức năng kép)

10

Sự tích lễ hội Óc-Om-Bok

Ngợi ca

Tôn giáo, giải thích lễ hội

(chức kép)

(Bảng thống kê 1: Các truyện số 9, 10, là của tác giả bài viết sưu tầm, những truyện còn lại được dẫn từ Truyện dân gian Khơ Me, tập II của Huỳnh Ngọc Trảng).

 

Theo bảng thống kê số 1, lượng truyện về nhân vật con thỏ đã lên đến hơn 10 truyện. Đây là số lượng hết sức đáng kể  (nếu so sánh với các nhân vật khác có thể tạo thành lượng truyện riêng), trong mỗi truyện, tất cả các tình tiết, sự kiện, cốt truyện… đều xoay quanh nhân vật này. Bước đầu khảo sát thêm truyện cổ Campuchia có nhân vật con thỏ qua tuyển tập của Phùng Huy Thịnh (dịch) và Khing  Hoc Dy (tuyển dich tiếng Pháp) và Trịnh Thu Hồng (dịch tiếng Việt), chúng tôi thấy, cũng có một nguồn truyện riêng về nhân vật con thỏ. Chắc rằng nếu tìm hiểu kĩ lưỡng hơn, số lượng truyện về con thỏ trong truyện cổ Campuchia sẽ không dừng lại con số bốn truyện như bảng thống kê dưới đây. Tuy nhiên, nó vẫn là một hiện tượng đủ cứ liệu khoa học để chúng tôi so sánh.

 

STT

TÊN TRUYỆN

Ý NGHĨA

CHỨC NĂNG BIỂU TƯỢNG

1

Chuyện về hai kẻ muốn chiếm vợ người

Ngợi ca

Công lý

2

Mơ có giống thật

Ngợi ca

Công lý

3

Cá sấu và người đánh xe

Ngợi ca

Công lý

4

Chuyện thỏ bị dính mông vào gốc cây có nhựa

Ngợi ca

Khác

(Bảng thống kê 2: Hệ truyện Thỏ trắng thông minh (gồm hai truyện: số 1 và số 2) trong Truyện cổ Campuchia (Phùng Huy Thịnh dịch), Nxb. Kim Đồng, Hà Nội, 2007; hai truyện còn lại: 3 và 4 được lấy từ Truyền thuyết và truyện kể Khơ-me (Khing Hoc Dy tuyển dịch tiếng Pháp và Trịnh Thu Hồng dịch tiếng Việt, Nxb. Thế giới, Hà Nội 2002).

 

Trong bảng thống kê số 2, truyện Chuyện hai kẻ muốn chiếm vợ người được người Khơ Me Sóc Trăng kể là truyện Hai thằng đoạt vợ người (bảng thống kê số 01). Và truyện Cá sấu và người đánh xe được người Khơ Me Sóc Trăng kể lại là truyện Con sấu bội ơn (bảng thống kê 1). Đây là một trong nhiều những minh chứng cho việc giao lưu và tiếp biến văn học dân gian mà cụ thể là truyện cổ của người Khơ Me Campuchia và Khơ Me Nam Bộ. Tuy nhiên, người Khơ Me Nam Bộ đã để lại những truyện cổ phù hợp với điều kiện văn hóa mà mình sinh sống. Chẳng hạn truyện Con sấu bội ơn có thêm phần kết thúc giải thích biểu tượng con thỏ được thêu trên áo gối trong ngày cưới của cô dâu chú rể tượng trưng cho sự may mắn mang đậm chất Khơ Me Nam Bộ.

Thứ hai, từ số lượng truyện đáng kể về nhân vật con thỏ có thể hình thành hai kiểu truyện tiêu biểu trong truyện cổ của người Khơ Me. Theo chúng tôi đó là kiểu truyện con thỏ - biểu tượng tôn giáo, văn hóa và kiểu truyện con thỏ tinh - ranh (13). Trong bảng thống kê số 1, các truyện từ số 1 đến số 7 và số 9, 10 là tiêu biểu cho hai kiểu truyện trên (các truyện 9 10 là tiêu biểu cho kiểu truyện thứ nhất, còn lại tiêu biểu cho kiểu thứ hai). Riêng trường hợp truyện số 8, có thể coi đây là một trường hợp “cá biệt” mà nhân vật con thỏ được người bình dân Khơ Me nhìn nhận với ý nghĩa phê phán, lên án bởi thói kiêu căng, ỷ lại.  Một mình thỏ đã không thể thắng họ hàng nhà ốc. Thỏ bị thua cuộc không chỉ vì tính kiêu căng, ỷ lại mà còn vì kém mưu trí hơn ốc. Đây là một trường hợp thỏ được nhìn nhận với ý nghĩa tiêu cực. Có thể coi đây là sự ảnh hưởng về tư duy văn hóa giữa người Kinh và Khơ Me trên cùng địa bàn cư trú, vì người Kinh có truyện Thỏ và rùa về ý nghĩa cũng giống như truyện Thỏ và ốc này.

2.2. Con thỏ trở thành nhân vật đa chức năng và góp phần tạo nên sự hỗn dung về thể loại.

Xuất phát từ vai trò của thỏ vòng đời, trong lễ hội, nhân vật con thỏ đã trở thành nhân vật đa chức năng trong truyện cổ của người Khơ Me khi nó có một lượng truyện là điều không thể phủ nhận. Diễn biến của một cốt truyện từ đầu cho đến kết thúc điều có vai trò của thỏ tham gia dù nghệ thuật tự sự đối với từng truyện và từng kiểu truyện có khác nhau. Từ đây, thỏ trở thành nhân vật đa chức năng trong truyện cổ Khơ Me. Đó là các chức năng: là biểu tượng tôn giáo trong vai tiền kiếp Phật Thích Ca, thực hiện chức năng công lý, công bằng xã hội, giải thích nguồn gốc lễ hội như bảng thống kê số 1 đã trình bày. Như ta từng biết, người Khơ Me có một hệ truyện về nhân vật Thmênh Chây và nhân vật này cũng đã tạo nên kiểu truyện (truyện cười) và dĩ nhiên nhân vật Thmênh Chây cũng là chức năng của truyện cổ Khơ Me. Điều này phù hợp với lý thuyết về nhân vật chức năng trong truyện cổ nói chung.

Về biểu hiện góp phần tạo nên sự hỗn dung về mặt thể loại, điều đầu tiên dễ thấy nhất là sự khác biệt về thi pháp nhân vật thỏ trong loại truyện có liên quan đến Phật giáo - hoằng giáo (các Phật thoại như chúng tôi đã phân loại) so với các truyện thuộc loại con thỏ tinh - ranh là loại truyệnn này không nhằm giải thích đặc điểm con vật mà hướng tới một ý nghĩa có liên quan đến Phật giáo: đó là nguồn gốc và tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni lúc còn tại thế trong lăng kính tín ngưỡng thiêng về văn hoá tâm linh liên quan trực tiếp đến con vật thiêng. Điều này lí giải vì sao người Khơ Me lại hẳn có riêng một nguồn truyện về con Thỏ như đã nói trên kia.

Đối với người Khơ Me, con thỏ không chỉ là con vật thông minh, tinh khôn mà còn là tiền kiếp của Phật và hết lòng vì Phật  nên được xem là con vật thiêng và được thờ phụng. Nhân vật con thỏ trong truyện cổ Phật giáo - văn hoá thực hiện chức năng văn hoá tâm linh, tín ngưỡng rõ nét. Đây là điểm khác biệt rất rõ so với nhân vật con thỏ trong truyện cổ của người Kinh, Lào… Trong từng truyện cụ thể, chính nhân vật con thỏ đã làm cho chúng ta khó phân loại truyện cổ có nhân vật con thỏ như truyện  Thỏ và Ốc  có ý nghĩa và chức năng thể loại khác xa so với truyện Thỏ, chó sói, khỉ và rái cá hay truyện  Sự tích con thỏ và mặt trăng… Ở truyện  Thỏ và ốc (mà chúng tôi coi là trường hợp “cá biệt”) là bài học không chỉ về sự  khôn ngoan, biết thắng kẻ thù bằng mưu trí mà còn cho chúng ta bài học về tính khiêm nhường, không nên hiếu thắng. Chính bài học này đã làm cho chúng ta có sự phân vân khi xếp truyện này vào loại hình ngụ ngôn hay loại hình cổ tích (về loài vật thuộc kiểu con thỏ tinh - ranh) đều có những điểm hợp lý riêng. Bởi truyện ngụ ngôn về cơ bản  vẫn là truyện của các con vật nhưng ý nghĩa của nó là một bài học để con người biết cách ứng xử với cuộc sống. Và do đó, nói nhân vật con thỏ trong truyện cổ Khơ Me đã bổ sung vào thi pháp nhân vật truyện dân gian sự hỗn dung về mặt thể loại.

3. Thay lời kết luận

Qua khảo sát vai trò, chức năng của biểu tượng con thỏ được truyện cổ Khơ Me phản ánh, chúng ta thấy nhân vật này có vị trí , vai trò rất quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng mang đậm sắc thái Phật giáo Tiểu thừa. Điều đặc sắc là biểu tượng con thỏ được thể hiện qua truyện cổ càng làm cho kho tàng truyện dân gian Khơ Me không chỉ phong phú về số lượng mà còn đa dạng về cách thức thể hiện, dù nghệ thuật tự sự trong một số truyện còn sơ lược, nghèo nàn.

Đồng thời, qua nhân vật con thỏ được truyện cổ Khơ Me  Nam Bộ thể hiện, chúng ta có thể minh chứng thêm cho hiện tượng giao lưu, tiếp biến văn hoá mà cụ thể là truyện cổ giữa tộc người Khơ Me Campuchia và Khơ Me Nam Bộ, thậm chí có thể thấy rõ sự tiếp biến của truyện cổ đối với tộc người Lào tuy chưa được khảo sát toàn diện.

Chính nhân vật con thỏ trong truyện cổ Khơ Me là lăng kính để ta hiểu sâu hơn về nguồn gốc, quá trình tiếp biến, thay đổi và thấy rõ hơn vai trò của Phật giáo Tiểu thừa trong đời sống của người Khơ Me Nam Bộ hiện nay. Qua đó, góp phần làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm thi pháp truyện cổ Khơ Me  mà trường hợp con thỏ được loại hình nghệ thuật tự sự này phản ánh càng lý thú và hấp dẫn hơn bởi tính nhân văn và chiều sâu của văn hoá. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những kết quả bước đầu nhằm góp phần tìm hiểu biểu tượng con thỏ trong văn hoá Khơ Me Nam Bộ qua truyện cổ.

Chú thích

(1) Châu Ôn, “Một vài thể loại văn học dân gian Khơ Me đồng bằng sông Cửu Long”. Trong  tìm hiểu vốn văn hoá dân tộc Khơ Me Nam Bộ, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, 1988, tr.175.

(2) Trần Quốc Vượng, “Nói chuyện vui về chu kỳ 60 và lịch sử nước nhà” trong Lịch văn hoá tổng hợp 1987 -1990 anmnach, Nxb. Ngoại văn, Hà Nội, 1987, tr.62.

(3) Người Khơ Me Nam Bộ tổ chức lễ Óc-Om-Bok hay còn gọi là lễ cúng trăng hay lễ đút cóm dẹp, vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hằng năm. Ngoài truyện này, người Khơ Me còn có một truyện khác giải thích nguồn gốc của lễ hội này là truyện  Sự tích hội bơi đua (xin xem thêm Tiền Văn Triệu, “Những lễ hội truyền thống của người Khơ Me Sóc Trăng”. Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1,2007)

(4) Truyện này tác giả đã giới thiệu trong bài viết “Những lễ hội truyền thống của người Khơ Me ở Sóc Trăng”, Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 1, 2007. Bản chất của hai truyện này là một dị bản.

(5) Chủ yếu là truyệnc của người Lào Lùm, chúng tôi klhông có điều kiện khảo sát truyệnc cổ của người Lào Thơng và Lào Xủng vì tư liệu chủ yếu khảo sát là Truyện cổ Lào -  chỉ sưu tầm và giới thiệu được truyện của người lào Lùm.

(6) Xin xem thêm truyện Chó sói và sếu,  Đào Văn Tiến và Quế Lai (sưu tầm và biên soan), Truyện cổ Lào, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, tr.164-165, tr.164.

(8) Huỳnh Ngọc Trảng,  Truyện Dân Gian Khơ Me, Hội văn nghệ Cửu Long, 1987.

(9) Phan An, Phật giáo tiểu thừa Khơ Me, Tài liệu Hội thảo Tôn giáo ở Nam Bộ: Những vấn đề nổi bật, những đáp ứng của chính sách và nghiên cứu, 2010, tr.41.

(10) Tại Sóc Trăng có chùa Bốn mặt tại huyện Mỹ Xuyên. Kabil maha Prum - vị thần bốn mặt chính là vị giáo chủ Bà La Môn. Hai truyện này tác giả đã giới thiệu trong bài viết “Những lễ hội truyền thống của người Khơ Me ở Sóc Trăng”, Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1, 2007.

(11) Xin xem Phùng Huy Thịnh (dịch) “Thỏ trắng thông minh”, Mơ có giống thật” trong Truyện cổ Campuchia, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội 2007, tr.88-92.

(12) Xin xem thêm Huỳnh ngọc Trảng, “Con sấu bội ơn” trong Truyện dân gian Kkơ Me, hội văn nghệ thuật Cửu Long, 1987, tr.77.

(13) Xin xem thêm Châu Ôn, “Một vài thể loại văn học dân gian Khơ Me đồng bằng sông Cửu Long” trong  Tìm hiểu vốn văn hoá dân tộc Khơ Me Nam Bộ,  Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, 1988, tr.173.

(14) Chúng tôi dùng theo thuật ngữ của Đặng Quốc Minh Vương, cụm từ tinh - ranh được dùng với ý nghĩa không đề cao cũng không phê phán. Tuy nhiên, do yêu cầu của bài viết nên chúng tôi dùng thuật ngữ tinh - ranh với ý nghĩa chủ yếu là ngợi ca. Xem thêm Đặng Quốc Minh vương, Kiểu truyện con thỏ tinh - ranh trong truyện cổ Việt Nam,  Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Tp.Hồ Chí Minh, 2005.

(15)Xem thêm Khing Hoc Dy (tuyển dịch tiếng Pháp) và Trịnh Thu Hồng (tịch tiếng Việt), Truyền thuyết và truyện kể Khơ Me, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2002, tr.87, 123.

Cập nhật ( 08/04/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online