Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Vua Minh Mệnh (Hoa Cúc Vàng)
Vua Minh Mệnh (Hoa Cúc Vàng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
03/05/2011

VUA MINH MỆNH (NGUYỄN PHƯỚC ĐẢM) 1820-1840

* Hoa Cúc Vàng

Ông chính tên là Nguyễn Phước Đảm, sinh nǎm 1791, là con thứ tư của vua Gia Long và bà Trần Thị Dương. Con đầu của Gia Long là hoàng tử Cảnh, mất sớm vào nǎm 1801. Triều đình có người đề nghị cho con của Hoàng tử Cảnh nối ngôi để giữ đúng dòng đích, nhưng Gia Long không đồng ý. Hoàng tử Đảm được lập làm thái tử nǎm 1815 đến 1820 thì làm vua, đặt quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mệnh.

Trong khoảng thời gian ngồi trên ngai vàng, ông luôn luôn nhớ mình là một thanh niên. Ông thường nghĩ và nói chuyện với con cái và triều thần: "Trẫm đang độ tuổi trẻ, còn sáng suốt về tinh thần, mạnh mẽ về sức lực, nên trẫm hǎng chǎm việc triều chính..." Có lúc ông lại nói: "Trẫm đang tuổi thanh niên, còn sáng suốt để nghe việc và phán đoán, chỉ sợ sau đây mỏi mệt không được như ngày nay". Ông nói với các con mình: "... Các con tuổi mới trên dưới ba mươi, mà không chịu nổi nóng lạnh, sau này đến nǎm, sáu, bảy mươi tuổi làm sao mạnh mẽ được như vậy? Ta hằng nghĩ đến tự cường không dám để mình nhàn hạ...".

Rõ ràng ông là con người rất có ý thức về tuổi trẻ của mình, biết rõ tuổi thanh niên là tuổi của hành động, của khả nǎng vươn lên, nên không chịu bỏ phí thời gian. Và trong cuộc sống bình sinh, với tư cách con người đứng đầu đất nước, Minh Mệnh đã luôn luôn bộc lộ sức trai để hoàn thành nhiệm vụ. Ông làm việc ngày đêm, không quản gì mệt mỏi. Ông đề ra các chủ trương, theo dõi việc hành chính một cách sát sao, sôi nổi, lúc nào cũng hừng hực tuổi xuân. Ông làm thơ, soạn sách, viết rất nhiều. Ông chú ý cả mặt quân sự, thân hành ra thao trường chứng kiến việc luyện tập.

Ngồi trong triều, mà ông chỉ đạo các cuộc hành quân ở xa, rất kịp thời, và sát sao. Phải biết phát huy được sức mạnh của tuổi thanh niên mới làm được như thế. Ngay trong đời sống riêng tư, người ta cũng phải ngạc nhiên về sức cường tráng của ông. Không có tài liệu cho biết chân dung (hình thức) và thể lực của ông như thế nào , chỉ biết ông có nhiều vợ (chính thất, thứ thất) và rất đông các phi tần, đã có tới 142 người con: 78 hoàng tử và 64 công chúa.

 

Minh Mệnh là một ông vua chú ý đển việc củng cố và hoàn thiện hơn bộ máy quản lý đất nước xây dựng chính quyền quốc gia một cách có nề nếp khoa học, phân minh. Về mặt này, các nhà vua của các triều đại trước đây, không vượt ông được Vua Gia Long thiết lập được vương triều, dựng thành đế nghiệp, nhưng những cố gắng buổi đầu chỉ mới là đặt nền tảng mà thôi. Phải đến thời Minh Mệnh, vương triều mới thực sự là có tổ chức hoàn bị.

Phương châm của những nhà nho hành đạo là tu thân, tề gia, trị quốc. Minh Mệnh đã đi rất đúng những điều cơ bản ấy. Ông biết giữ gìn tư cách: học hỏi nhiều, phấn đấu nhiều, không để ai chê bai về đức tính con người nghiêm nghị, đúng mực. Hơn nữa, ông còn tỏ ra rất nghiêm khắc với mình và với những người chung quanh. Con cháu, họ hàng của ông không thể dựa vào uy thế hay hơi hướng nhà vua mà vượt ra ngoài bổn phận. Không những thế Minh Mệnh còn chú ý đến việc tề gia, lập ra phủ Tông nhân để trông coi các việc của hoàng tộc, cử người dạy dỗ con trai, con gái. Ông không nêu thành vǎn bản, nhưng rất tôn trọng chủ trương tứ bất của nhà Nguyên (bốn điều không: không có Trạng nguyên, không có Tể tướng, không có Hoàng hậu không có Đông cung). Ông cũng rất chặt chẽ trong việc dùng các quan lại. Người không có học vị, nhưng có tài vẫn được dùng vào chức vị lớn (như trường hợp Nguyễn Tri Phương); người đã làm quan nhưng học hành kém, vẫn bị loại.

 

Là người tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mệnh rất quan tâm đến học hành khoa cử tuyển chọn nhân tài. Bản thân nhà vua cũng rất say mê, đã từng làm thơ, soạn sách, vǎn học, khuyến khích việc biên soạn sách vở, nhất là loại sách sử, địa. Nhiều người biên soạn sách mới, dâng sách cũ, đều được nhà vua ban thưởng khuyến khích. Các bộ sách quí như: Gia Định thành thông chí, Lịch Triều Hiển Chương loại chí (và nhiều nữa) đều xuất hiện dưới triều Minh Mệnh. Một điều ngạc nhiên nữa là các hoàng tử, công chua  con vua, đa số đều là những nhà vǎn, nhà thơ xuất sắc, và đều nổi tiếng dưới triều Thiệu Trị, Tự Đức sau này, cùng với một loạt tác giả xuất sắc khác.

 

Dưới triều Minh Mệnh nhiều cuộc bạo loạn đã xảy ra: miền Bắc có các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Vǎn Vân; miền Nam có Lê Vǎn Khôi v.v... Minh Mệnh đã phải đối phó vất vả với những cuộc khởi nghĩa ấy. Vừa dẹp trừ nội loạn, Minh Mệnh còn chủ trương mở mang thế lực rộng ra ngoài. Ông đổi tên nước Việt Nam là Đại Nam, và muốn nước mình trở thành một đế quốc hùng mạnh. Và quả thực ông đã khiến cho nước ta thực sự đóng vai trò nước lớn lúc bấy giờ. Ông lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao, và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang là trấn Tây Thành. Quan lại Việt Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và tất nhiên đã gây nhiều bất bình với dân chúng đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra.

 

Minh Mệnh đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh nhận sự phong vương của nhà Thanh. Còn đối với các nước phương Tây, ông không có thiện cảm. Tổng thống Mỹ lúc đó (1832) đã cho đưa quốc thư sang xin đặt quan hệ, nhưng nhà vua cũng không tiếp. Chính sách thụ động như vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước. Ông không có thiện cảm với Thiên chúa giáo, chủ trương phải cấm đạo để giữ gìn phong tục nước nhà. Nhưng một mặt, ông vẫn cho người đi các nước ở vùng biển Đông để thông thương, mua bán hàng hóa, và cho học cách đóng tàu của người phương Tây.

 

Bản thân vua có ý thức về sự tu thân, ông cũng muốn cho dân chúng trong nước giữ gìn thuần phong mỹ tục. Ông ban các điều huấn dụ để dạy dỗ dân. Ông rất nghiêm khắc với tệ tham nhũng, dùng hình phạt nặng nề và công bố cho toàn dân biết. Ông khuyến khích và ban thưởng cho các quan thanh liêm. Để cải thiện đời sống nhân dân, ông khuyến khích việc khẩn hoang, thống nhất việc đo lường v.v... Vua Minh Mệnh mất nǎm 1841, thọ 50 tuổi. Miếu hiệu là Thánh tổ Nhân hoàng đế.

 

 

Minh Mệnh: Vị vua năng động và quyết đoán

Vua Minh Mệnh húy là Hiệu, có tên là Đởm, sinh ngày 23 tháng giêng năm Tân Hợi (1789), là con thứ tư của vua Gia Long. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820). Hoàng tử Đởm lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mệnh. Vua là người có tinh thần hiếu học, năng động quyết đoán. Từ khi lên ngôi, ông đã quan tâm đến việc chấn chỉnh bộ máy quan lại. Ai được thăng chức, bổ nhiệm đều phải đến kinh gặp vua trước khi nhậm chức. Đây là cơ sở để vua kiểm tra đức độ và năng lực cùng khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho ích nước lợi nhà. Vua là người luôn quan tâm việc nước. Khi đêm khuya vua vẫn thắp đèn xem chương, sớ đến canh hai canh ba mới nghỉ. Ông thường nói với triều thần: - Lòng người, ai chả muốn yên hay vì chuyện sinh sự để thay đổi luôn, lúc trẻ tuổi còn khỏe mạnh mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu thì còn mong làm gì được nữa. Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.

Minh Mệnh rất quan tâm đến học hành khoa cử và việc tuyển chọn nhân tài. Vua đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp năm Tân Tỵ (1821), mở lại thi Hội, thi Đình năm Nhâm Ngọ (1822). Vua còn cho đặt đốc học ở Gia Định thành, giao trọng trách cho thầy giáo người Nghệ An là Nguyễn Trọng Vũ với chức vụ Phó đốc học để chăm lo việc học tập ở Nam bộ. Bấy giờ, Gia Định chỉ có Trịnh Hoài Đức là người có học vấn cao nên được vua tin dùng, cho làm Hiệp biện Đại học sĩ, Thượng thư bộ Lại kiêm Thượng thư bộ Binh. Minh Mệnh còn lập Quốc sử quán để biên soạn lịch sử dân tộc và các triều đại. Trong việc dùng người, Minh Mệnh chú trọng cả tài, đức và đặc biệt là học vấn. Theo Minh Mệnh, người không học thì không rõ luật lệ lỡ khi xử đoán sai thì pháp luật khó dung, như thế thì sẽ làm hại cho dân. Việc dùng người không ngoài mục đích giúp yên dân, muốn yên dân thì không được phiền nhiễu dân, làm quan phủ huyện không tham nhũng, không nhiễu loạn thì dân mới yên. Vua còn nghiêm trị cả bọn quan lại tham ô. Minh Mệnh rất quan tâm đến việc quân sự. Vua cho người tìm hiểu kỹ thuật đóng tàu của châu Âu để vận dụng trong nước. Vua còn chú trọng đến việc sản xuất nông nghiệp. Ông cho hoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc bộ, lập hai huyện mới Kim Sơn và Tiền Hải. Công cuộc khai hoang và thủy lợi ở Nam bộ cũng được đẩy mạnh. Minh Mệnh đã thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía nam Hà Nội, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)...

Minh Mệnh củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước: Đặt nội các trong cung điện; cơ mật viện (1834) dùng 4 đại thần, đeo kim bài để phân biệt chức vị. Cơ mật viện cùng vua bàn bạc và quyết định việc quan trọng. Năm 1831 vua tiến hành cải cách hành chính trên quy mô lớn, chia cả nước ra làm 31 tỉnh. Từ đây tỉnh là đơn vị hành chính thống nhất trong cả nước có cương vực và địa hình khá hợp lý (làm cơ sở cho sự phân chia tỉnh, huyện ngày nay). Mỗi tỉnh có Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát để trông coi công việc. Các châu miền núi dựa theo đơn vị hành chính thống nhất với miền xuôi.

Trị vì 21 năm, Minh Mệnh lo toan công việc thường như một ngày mọi phê bảo, dụ chỉ, chế cáo đều tự tay vua viết ra với số lượng không nhỏ. Vua còn làm thơ, viết văn. Tháng 12 năm Canh Tý (1840), vua ốm nặng rồi qua đời. Minh Mệnh là một trong 13 vị vua của triều Nguyễn. Ông đã góp công không nhỏ trong tiến trình xây dựng và phát triển nước nhà. Công lao ấy người đời sau ghi tạc.

Cập nhật ( 03/05/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online