Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Giữ mãi nét đẹp của lễ hội Phật giáo (Thích Nữ Hương Nhũ)
Giữ mãi nét đẹp của lễ hội Phật giáo (Thích Nữ Hương Nhũ) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
03/05/2011

GIỮ MÃI NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA LỄ HỘI PHẬT GIÁO TRONG THỜI HỘI NHẬP

* Thích Nữ Hương Nhũ

I. Dẫn nhập

a.Khái niệm cơ bản về văn hóa: Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong lịch sử trong mối quan hệ với với con người, với tự nhiên và với xã hội.

b.Bản sắc văn hóa: là những giá trị văn hóa đặc trưng riêng của dân tộc, là sự khác biệt văn hóa giữa dân tộc này và dân tộc khác.

c. Tương đồng văn hóa: Ngược lại với bản sắc là sự tương đồng văn hóa, đó là những điểm giống hoặc tương tự nhau giữa các nền văn hóa. Sự tương đồng này do sự ảnh hưởng hoặc giao lưu giữa các nền văn hóa.

Bản sắc văn hóa dân tộc vừa gắn với những giá trị cơ bản, cốt lõi làm nên cốt cách của dân tộc, vừa được biểu thị trong sinh hoạt hằng ngày. Về nội hàm, bản sắc văn hóa là tổng hòa các giá trị, các yếu tố đa dạng, lâu đời, không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, mà hình thành và phát triển như sản phẩm của quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa "nội sinh", kết hợp và tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa của bản sắc văn hóa "ngoại sinh", hòa nhập vào các điều kiện kinh tế, địa lý, cũng như lịch sử nước nhà. Nếu một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa là cắt đứt sợi dây thiêng liêng liên kết với quá khứ của các bậc tiền bối, thì tâm lý sùng ngoại có cơ hội hoành hành và khả năng bị nô dịch về kinh tế, chính trị là khó tránh khỏi.
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời Lý - Trần Phật giáo đi đến giai đoạn cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 đi vào giai đoạn suy thoái và từ đầu thế kỷ 20 đến nay Phật giáo đi vào giai đoạn phục hưng. Hiện nay, trước những thách thức của thời đại trong giai đoạn hội nhập thì việc tiếp tục xây dựng và bảo vệ bản sắc văn hóa để quốc hồn Việt Nam luôn sáng đẹp và không hòa lẫn với văn hóa khác đã trở thành niềm tự hào của toàn dân tộc trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với các nền văn hóa dân tộc khác, đó cũng là bổn phận thiêng liêng của mỗi người dân Việt trong cộng đồng văn hóa nhân loại.

Với vai trò, chức năng và những giá trị nhân văn sâu sắc của mình, Phật giáo trở thành chỗ dựa trong đời sống văn hóa, tinh thần của đông đảo quần chúng. Các chuẩn mực của đạo đức Phật giáo có tác dụng điều chỉnh hành vi, nhân cách con người và ảnh hưởng tích cực đến quần chúng, cộng đồng xã hội, ảnh hưởng lớn lao trong nếp sống của dân tộc Việt Nam. Phật giáo không chỉ dừng lại ở công việc chia sẻ những khó khăn của xã hội như hòa bình, thịnh vượng, công bằng, mà còn hướng mọi người lấy điều thiện làm chuẩn mực sống, làm phương tiện và mục đích để đạt tới hạnh phúc cho con người. Với quan niệm nhân quả và nghiệp báo, đạo Phật đã trực tiếp góp phần làm ổn định xã hội trong một nếp sống đạo đức.
Trong hầu hết các nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, lễ hội Phật giáo trở thành một trong những phần quan trọng, trở thành một nét khắc họa lớn trong bản sắc văn hóa dân tộc, trở thành nguồn động lực khơi dậy nguồn sinh lực cho tinh thần yêu nước, thương dân, tính nhân bản, đạo đức, từ bi và trí tuệ của giòng giống Lạc Hồng. Do vậy, Bản tham luận này muốn đặc biệt nói đến vấn đề hoằng pháp thông qua các lễ hội Phật giáo.

“Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng,

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung…

Mái chùa che chở hồn dân tộc,

Nếp sống muôn đời của tổ tông”.

II. Nội dung

- Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có nhiều lễ hội. Đó là lễ hội của các miền, các dân tộc và đặc biệt là lễ hội Phật giáo. Từ xa xưa, lễ hội truyền thống đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của nhân dân vì lễ hội luôn hướng con người tới cội nguồn văn hóa, cội nguồn dân tộc. Việt nam thuộc khối văn hóa Đông Á gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, các nước Asean...nền văn hóa này ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Phật giáo – một nền văn hóa trọng tình, trọng nghĩa, chú trọng tình hơn lý.

 Lễ hội Phật giáo lại gắn bó với đời sống tâm linh và văn hóa của người dân Việt vì trong lễ hội Phật giáo thể hiện rõ nét bản sắc các văn hóa dân tộc do một nguyên lý căn bản của Phật giáo “Tùy duyên bất biến”. chính yêu tố này đã thể hiện tính tích cực, năng động và trở thành nhân tố chủ quan làm cho Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc và bảo đảm bản sắc văn hóa các dân tộc.

Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa xuân và số ít vào mùa thu. Trong số các lễ hội có những lễ hội Phật giáo chi phối một bộ phận lớn dân tộc Việt. Đó là Tết Nguyên Đán Rằm Thượng Nguyên, lễ Phật đản, lễ Vu Lan, Rằm Hạ nguyên, ngoài ra còn có lễ hội chùa Hương (Hà Tây), lễ hội Quán Thế Âm (Đà Nẵng), hội xuân Yên tử…trong khuôn khổ có hạn, bản tham luận xin đưa ra một số nét riêng của Việt Nam qua một vài lễ hội Phật giáo.

1. Tết Nguyên Đán: đặc biệt là Mùng 1 tết ở Việt Nam ta nhận thấy phần lớn các ngôi chùa đều có tấm băng- rôn : Mừng xuân Di Lặc. Theo lời đức Phật Thích ca đã nói cho các hàng đệ tử nghe về sự hạ sanh của Phật Di lặc trong đời vị lai Ngài sẽ đản sinh vào đầu mùa Xuân, ngày đầu năm mới với tất cả điềm lành cho đời Thánh đức muôn dân no ấm thiên hạ thái bình. “Sau này Bồ Tát Di Lạc Hạ Sanh lấy hiệu là Từ Thị. Khi thành Phật, quốc độ của Ngài là một quốc độ vô cùng trang nghiêm. Lầu đài đều làm bằng bảy báu. Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm... Người sanh vào Cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bịnh tật, phiền não. Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi, có đủ các thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt, vì có thứ cây sanh ra quần áo.” Như vậy hình ảnh đức Di Lặc Tôn vương Phật và quốc đọ của Ngài rất gần gũi với niềm mơ ước của dân Việt. Và với hình tướng của một vị Phật miệng cười tươi, bụng to dáng ngồi tự tại thoải mái…để tượng trưng cho tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả của Ngài. Ngày mùng một tết theo truyền thống dân tộc là ngày đầu xuân, hầu hết những dân Việt Nam mong muốn được chu tất hết mọi việc, áo mới, cái gì cũng mới đẹp, đến chùa đảnh lễ Di lặc và xin lộc đầu năm mới. Chính hình ảnh của đức Phật Di Lặc hoan hỷ vô biên vào đầu năm mới đã gieo vào tâm trí người con Phật một hình ảnh tươi vui của mùa xuân: vạn sự may mắn, kiết tường, sự yên vui và no đủ cho muôn dân.

Ngành hoằng pháp không quên nhắc nhở những người con Phật đến chùa không chỉ vì muc đích nguyện cầu những điều tốt đẹp mà chính là tu tập đức tánh từ - bi- hỷ- xả như đức Phật Di lặc. Chính sự chuyển hóa tự thân là nguyên nhân đưa chúng ta đến với đời sống an lạc và hạnh phúc.

2. Ngày rằm tháng giêng (Rằm Thượng nguyên): theo truyền thống của phần lớn các ngôi chùa Bắc tông, ngày rằm tháng giêng thường là lễ cầu an hội qua nghi thức “cúng sao – giải hạn”. Cúng sao hạn là một khóa lễ đã tồn tại lâu đời trong dân gian. Tập tục này có nguồn gốc từ Lão giáo. Sao hạn được tính căn cứ trên học thuyết ngũ hành xung khắc. Theo sự vận chuyển của ngũ hành, mỗi năm có môt vì sao chiếu mạng vào một tuổi của từng người. Còn hạn là niên hạn, là cách thức riêng ứng với sao chiếu mạng là tốt hay xấu. Tuy bắt nguồn từ Lão giáo ở Trung Hoa, nhưng tập tục này lại ăn sâu vào quan niệm của người dân Việt và trở thành một tập tục lâu đời của người Việt. Từ Lão giáo qua dân gian rồi đi vào Phật giáo, nhưng ngày nay, tập tục này được xem như của Phật giáo. ở một số chùa việc cúng sao hạn cũng thường gọi là Lễ Dược Sư Nhương Tinh Giải Hạn. Thật ra, có rất nhiều tranh luận đúng sai về việc này, vấn đề đưa ra ở đây là với tinh thần “tùy duyên bất biến”của Phật giáo, ngành hoằng pháp chúng ta cần tổ chức thuyết giảng để giúp cho các hàng Phật tử hiểu rõ hơn về mục đích của lễ hội cầu an đầu năm. Ví dụ, chúng ta cần giải thích qua hình thức cúng sao để cầu an theo tâm nguyện Phật tử, nhưng qua đó, các chùa tổ chức cho quý Phật tử nương công đức trì tụng Kinh Dược sư trong tháng giêng, kết hợp phóng sanh và không sát sanh, làm các việc thiện lành trong năm mới như cúng dường, bố thí, sám hối các việc xấu ác….và chính những việc tốt đẹp đã giúp Phật tử gieo các nhân lành nhằm hóa giải nạn tai. Chung quy, nếu ngành hoằng pháp chúng ta làm hết trách nhiệm của mình bằng cách tận tình giải thích các khoa nghi cúng lễ hoặc các hình thức lễ hội Phật giáo một cách khoa học và đúng chánh pháp thì chính các lễ hội đã tạo duyên lành cho các Phật tử quy tụ về dưới mái chùa tụng Kinh, niệm Phật và nghe pháp thoại.
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều, Lời kinh giải thoát vọng cao siêu…,Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi, Cầu nguyện dân làng sống mến yêu.

3. Lễ Phật đản

Phật Đản là ngày kỷ niệm Đức Phật đản sanh vào ngày trăng tròn tháng 4 tại vườn Lâm-tì-ni, năm 624 TCN. Theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này chính là ngày Tam hợp (kỷ niệm lễ Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Trước năm 1959 các nước Đông Á, thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Nhưng Đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên, tại Colombo, Tích Lan năm 1950, 26 nước là thành viên thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng Tư âm lịch. Ngày 15 tháng 12 năm 1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc(34 nước) đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa tôn giáo quốc tế của Liên hơp quốc, những hoạt động kỷ niệm sẽ diễn ra tại các trung tâm Liên Hợp quốc trên thế giới từ năm 2000 trở đi. Chính vì ý nghĩa và tầm quan trọng đã được công nhận tại LHQ, ngày lễ Phật đản tại Việt nam đã trở thành lễ hội lớn của dân tộc với những rừng hoa, cờ, những đoàn xe hoa mang hình ảnh đức Phật Thích ca đản sinh. Và nhân lễ hội này, giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn thường tổ chức các hoạt động hoằng pháp sâu rộng trong phật tử và quần chúng nhân dân để giúp mọi đối tượng hiểu rõ ý nghĩa của lễ Phật đản. Các nước Châu Á cũng tổ chức lễ rất trọng thể nhưng mỗi nước lại có một nét đặc trưng riêng, (xin xem thêm chú thích ở phần dưới)

4. Lễ Vu Lan

Vu-lan hay còn gọi là Tết Trung nguyên, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo, còn được hiểu là lễ báo hiếu. Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn (盂蘭盆), cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa (烏藍婆拏), là cách phiên âm Phạn-Hán từ danh từ ullambana. Ullambana nghĩa là “treo (ngược) lên”. Thế nên các dịch giả Trung Quốc cũng dùng từ Đảo huyền (倒懸), “treo ngược lên” cho từ Vu-lan, chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ địa ngục. Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ và cửu huyền thất tổ đa sanh phụ mẫu trong nhiều đời.

Đây là lễ hội của Phật giáo nhưng người dân Việt các tôn giáo khác thì không ai là không biết ngày lễ Vu lan báo hiếu - ngày Xá tội vong nhân. Truyền thống hiếu đạo của Phật giáo qua ngày lễ trọng đại này đã ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Những người con nghĩ đến việc dâng quà, phụng dưỡng cha mẹ làm vui cha mẹ. Tại các chùa tổ chức lễ bông hồng cài áo; tổ chức trai đàn bạt độ, cúng dường trai tăng, hoặc các lễ phóng sanh rất lớn. Ngành hoằng pháp thường được các đạo tràng mời thuyết giảng về lễ Vu lan để giáo dục tinh thần hiếu đạo và giải thích về cuộc sống ở các cõi giới khác như địa ngục ngạ quỷ súc sanh để giáo hóa tinh thần tu học của các hàng phật tử. các nhà tù cũng thường tổ chức phóng thích tù nhân vào ngày rằm tháng 7 – ngày xá tội vong nhân này. Các chùa riêng ở một số nước Châu Á thì tiến hành lễ Vu lan theo truyền thống bản sắc riêng (xin xem thêm chú thích ở phần dưới trang)

5. Lễ hội chùa Hương

Đây là lễ hội đặc thù của Phật giáo miền Bắc – Việt Nam. Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách nay hơn hai nghìn năm và đặt tên là Hương Sơn, theo tên một ngọn núi trong dãy Hy-mã-lạp-sơn, nơi Ðức Phật đã tu khổ hạnh suốt 6 năm. Nói đến Chùa Hương ai trong chúng ta cũng biết đây là cái nôi văn hóa Phật giáo tín ngưỡng dân tộc của bao đời. Chùa Hương theo truyền thuyết là ngôi chùa được "xây dựng bởi chư thiên và con người", là một tập hợp nhiều động, nhiều chùa trong một tổng thể cấu trúc kết hợp vừa thiên nhiên vừa nhân tạo bao gồm núi, đồi, hang, động, rừng suối, chùa tháp...là danh lam nổi tiếng của Việt Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 70km. Lễ Hội chùa Hương là lễ hội lớn nhất và dài nhất tại của miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung (từ ngày mồng 6 tháng 1 âm lịch đến hết tháng 3 âm lịch). Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây .Mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn. Những đoàn người trẩy hội. Kẻ đi ra, người đi vào, kẻ đi lên, người đi xuống bồng bềnh vào những đám mây nhẹ. Họ gặp nhau, quen hay không quen cũng vui vẻ chào nhau bằng một lời chào: " Nam mô a di đà Phật" nhẹ nhàng. đằm thắm và ấm áp… Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật. Chính vì vậy, nói đến chùa Hương là nghĩ đến con đò - một dạng của văn hóa thuyền của cư dân Việt ngay từ thuở xa xưa. Và đến nay, ngày hội bơi thuyền ở chùa Hương luôn tạo cảm hứng mãnh liệt cho người đi hội. Có thể thấy, trẩy hội chùa Hương không chỉ dừng lại ở chốn Phật đài hay bầu trời - cảnh bụt, mà trước hết là do ở sự tiếp xúc - hòa nhập huyền diệu giữa con người trước thiên nhiên cao rộng. Đó là vẻ đẹp lung linh của sông nước, bao la của đất trời, sâu lắng của núi rừng, huyền bí của hang động… Và dường như đất - trời, sông núi đẹp hơn nhờ lòng nhân ái của con người.

III. Kết luận

Những câu tục ngữ dân gian: “ở hiền gặp lành”,“Mẹ ta hoa Phật” cho thấy Phật giáo đã ngự trong tâm người Việt; Phật giáo đã ở trong lòng dân tộc, mãi mãi đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong văn hóa, đời sống tâm linh, thể hiện qua nghi lễ Phật giáo, lễ hội Phật giáo, và văn hóa Phật giáo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trên con đường “hộ quốc an dân”. Mùa Xuân của Phật giáo Việt Nam hiện hữu trong mùa Xuân dân tộc. do vậy, những người sứ giả Như Lai có trách nhiệm hoằng pháp để giáo dục tinh thần giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc qua các lễ hội dân tộc, lễ hội Phật giáo. Để kết thúc bài tham luận này xin mượn lời của PGS- TS Nguyễn thị Bích Hải (khoa Ngữ văn trường ĐHSP Huế): … “Chúng ta hoàn toàn bình tâm và hoan hỷ tiếp nhận tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới và cải biến, Việt Nam hóa, cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của đất nước mình. Trong đó, văn hóa Phật giáo, một tôn giáo từ bi, nhân ái, hòa bình đã đến với dân tộc Việt ngay từ buổi bình minh của lịch sử. Dẫu trải qua những thăng trầm trong dòng lịch sử vô thường nhưng Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, cả trong hoạn nạn và trong vinh quang”. (Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc).

Chú thích:

1. Kinh Phật Thích Ca nói Kinh Di Lặc hạ sanh thành Phật. Ngài Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh đời nhà Đường chiếu dịch ra chữ Hán.

          2. Phật đản tại Tây Tạng: Phật tử Tây Tạng thường hành hương đến đỉnh núi Kailash, thuộc dãy Himalaya, phía Tây bắc Nepal. Nó là ngọn núi thiêng của tín đồ Phật giáo Himalaya, Ấn Độ, Kỳ-na giáo và đạo Bon. Những người hành hương cho rằng, đỉnh núi này là nơi hội tụ tất cả năng lực của vũ trụ. Tại Hàn Quốc trưng bày và diễu hành lồng đèn là một trong những chương trình ấn tượng và gây nhiều xúc cảm nhất trong lễ hội mừng Phật đản.

Tại Nhật bản, Phật đản thường gắn liền với lễ hội hoa Anh đào.

- Tại Myamar, với lòng thành kính, Phật tử Miếng Điện đặt những chậu nước tinh khiết trên đầu đội đến những tự viện tưới xuống cây Bồ đề. Họ tưới cây Bồ đề để cảm ơn giống cây này đã che chở đức Thế Tôn trong những ngày thiền định trước khi chứng đạo và ước nguyện năng lực giải thoát luôn trưởng dưỡng trong họ.

- Tại Srilanka, chương trình rước và diễu hành Xá lợi gây ấn tượng và tạo nên xúc cảm nhất đối với người tham dự. Xá lợi Phật được tôn trí trên lưng những chú voi được trang điểm lộng lẫy với sắc màu mang phong cách Nam Á, theo sau là hàng ngàn Phật tử, diễu hành khắp những đường phố.

          3. Tại Nhật Bản: đặc biệt ở vùng quê, dân chúng chuẩn bị lễ Vu lan từ ngày mồng một tháng Bảy. Trong mỗi Gia cư người Nhật đều có một bàn thờ Phật một chiếc bàn vong có bài vị để đón tiếp hương linh người quá vãng. Ngày mùng bảy gọi là gia chủ hay người trưởng tộc đi quét dọn, làm cỏ và làm lễ tại ngôi mộ gia tiên, và từ ngôi mộ về đến nhà trải một dây vải trắng gọi là bom-michi để chỉ lối cho người chết trở lại nhà. Trên lối đi nhiều nơi còn treo đèn lồng ở mỗi khúc rẽ cho vong hồn khỏi lạc, và mỗi gia cư tứ bề thắp đèn lồng treo quanh máng xối Ngày 13 gọi là ngày “đón vong hồn”, ngoài mộ và trên bàn vong chưng đầy hoa đẹp. Lúc xế chiều, đốt đèn ngoài cửa tiếp đón vong hồn, ngọn đèn này thắp đến ngày 16, gọi là ngày “tiễn đưa vong hồn”. Tại một vài địa phương lại còn có tục lệ nhảy múa Vu lan gọi là Bon odori, chào mừng tổ tiên trở lại nhà sum họp với con cháu mỗi năm một lần.

- Tại Đài Loan: giới Phật giáo Đài Loan long trọng cử hành Đại lễ Pháp hội Trai tăng Quốc tế, đây là dịp để ôn lại  tấm gương hiếu hạnh của Đức đại hiếu Mục kiền Liên. Đồng thời cũng nương nhờ vào uy lực thù thắng của pháp hội để cầu nguyện cho Quốc thái dân an; Thế giới hòa bình, Chúng sinh an lạc Tại Trung Quốc: Các tư gia cũng làm cơm chay cúng ông bà trong nhà, cúng vong hồn ngoài trời. Các chùa lớn còn tổ chức trưng bày các bảo vật thờ tự, di tích của Đức Phật như: Ngọc Xá lợi, răng, tóc, móng tay Phật, đựng trong các bình ngọc, bình đá, tảng đá khắc chân Phật, các bổn kinh chép bằng chữ Sanskrist, chữ Pali khắc trên đá, trên gỗ, trên lá bối, lá cót… đem từ Ấn Độ. Đồng thời nhà chùa còn khuyến khích các gia đình giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách đem đến trưng bày các báu vật trân châu dị bảo của riêng, cho khách thập phương xa gần đến thưởng ngoạn. Vì vậy mà mọi người tấp nập đi dự, khách xa đến dựng lều bạt ở trên đất chùa và tổ chức các buổi ca vũ, hát tuồng, trổ tài thi phú, thi đua tài nấu nướng các món chay để cúng dường Phật, Tăng, cúng ông bà tổ tiên và sau đó thiết đãi nhau ăn uống vui chơi. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng “Đại Hội Vu Lan Báo Hiếu” cùng xá tội vong nhân, trở thành một lễ hội, một tập tục ăn sâu vào lòng người.

Cập nhật ( 03/05/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online