Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Đời sống tâm linh của cư dân nghề cá (Nguyễn Hữu Hiếu)
Đời sống tâm linh của cư dân nghề cá (Nguyễn Hữu Hiếu) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
02/06/2011

ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA CƯ DÂN THEO NGHỀ CÁ Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI

* Nguyễn Hữu Hiếu

          Hiện nay, một số đình làng ở các xã, huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng  Tháp còn lưu giữ được sắc “Đại Càn Quốc gia Nam Hải” bên cạnh sắc “Thành hoàng bổn cảnh”, Đặc biệt là các xã ven sông Tiền của Đồng Tháp, đình làng nào cũng còn lưu giữ loại sắc phong này. Theo thông lệ triều Nguyễn, cứ ba năm thì xét cấp hoặc gia phong cho các thần được nhân dân thờ ở các thôn (xã ngày nay); mỗi lần cấp một lá sắc cho thần Thành hoàng bổn cảnh và một lá cho vị phúc thần nào đó mà thôn đang thờ. Điều đó cho thấy các đình nói trên, bên cạnh thần Thành hoàng còn thờ thần Đại Càn. Vậy, nội dung sắc Đại Càn nói gì, thần Đại Càn là ai và tại sao vùng Đồng Tháp Mười có nhiều xã thôn tồn tại loại tín ngưỡng này?

          Tạm chọn những tờ sắc còn lưu giữ ở đình Bình Hàng Trung (Cao Lãnh - Đồng Tháp) làm đối tượng khảo sát. Đình này còn giữ sáu lá sắc, ba sắc cấp cho Đại Càn Quốc gia Nam Hải như vị tôn thần. Trong đó tờ sắc xưa nhất cấp ngày 27 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ V (tức ngày 26 tháng 12 năm), có nội dung như sau:

          Sắc Đại Càn Quốc gia Nam  Hải Hàm hoằng Quang đại Chí đức, tứ vị thượng đẳng thần, hộ quốc tý dân nẫm trứ linh ứng. Minh Mạng nhị thập nhất niên trị ngã Thánh tổ Nhân hoàng để ngũ tuần đại khánh tiết, khâm phụng bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Tử kim phỉ ưng cảnh mệnh, miến niệm thần hưu khả gia tặng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác tứ vị Thượng đẳng thần, nhưng chuẩn Kiến Phong huyện Bình Hàng Trung thôn y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai.

          Thiệu Trị ngũ niên thập nhứt ngoạt nhị thập thất nhựt.

          (Đóng dấu ấn “Sắc mệnh chi bảo”)

          Dịch nghĩa:

          “Sắc bốn vị thượng đẳng thần Hàm hoằng Quang địa Chi đức làm lớn mạnh Nam Hải nước nhà giúp dân cứu nước từng nhiều lần hiển hiện linh ứng. Năm  Minh Mạng thứ hai mươi mốt gặp ngày lễ lớn mừng thọ năm mươi tuổi của Thánh Tổ Nhân hoàng đế ta, kính lời phụng chiếu ban ơn, đã làm cho nâng bậc. Nay ta vân theo mệnh sáng của Trời, nghĩ nhớ đến lúc tốt của thần tặng thêm là Bốn vị Thượng đẳng thần Hàm hoằng Quang  đại Chí đức Phổ bác, vẫn chuẩn cho thôn bình hàng Trung, huyện Kiến Phong thờ phụng như cũ. Thần thì phải giúp đỡ bảo vệ dân đen của ta. Kính đấy.

          Ngày 27 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ V.

          (Nhằm ngày 27 tháng 12 năm 1845)

          (Đóng dấu ấn “Sắc mệnh; chi bảo”)

Hai tờ sắc kế tiếp, được gia phong thêm bốn mỹ tự nữa là Hiển hóa Trang huy. Như vậy, trong tờ sắc cấp sau cùng vào ngày mùng 8 tháng 11 năm Tự Đức thứ III (tức ngày 11 tháng 12 năm 1850), Bốn vị thượng đẳng thần được ban tặng  Hàm hoằng  Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy”. Câu: “Minh Mạng nhị thập nhất niên trị ngã Thánh tổ Nhân hoàng đế ngũ tuần đại khánh tiết, khâm phụng bảo chiếu đàm ân, lễ linh đăng trật” Có nghĩa là: Năm Minh Mạng thứ 21 gặp ngày lễ lớn mừng thọ 50 tuổi của Thánh tổ ơn, đã làm lễ cho nâng bậc.  Trong sách Đại Nam Thực Lục (1) có nói rõ Để chào mừng trọng thể ngày sinh nhật thứ  50 của mình vào năm 1840, ngày Tết Nguyên Đán năm Canh Tý, tức năm minh Mạng thứ 21 (ngày 3 tháng 2 năm 1840), vua Minh Mạng (có miếu hiệu là Thánh Tổ nhân hoàng đế) đã ban bố 18 điều ân điển; trong đó điều thứ năm ghi “Thần kỳ cả nước trước đã được phong tặng, thì đều được gia phong gia tặng”.  Đoạn này của tờ sắc phong nhắc lại sự kiện ấy. Việc này lẽ ra phải được thực hiện; song, vào ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý (20 tháng 1 năm 1841) Minh Mạng băng hà. Nên bốn năm sau, đến đời Thiệu Trị mới thực hiện. Vấn đề đặt ra ở đây là tờ sắc nói trên có phải là lá sắc đầu tiên phong cấp cho thôn Bình Hàng Trung  hay không? Theo cờ chiếu ngày 3 tháng 2 năm 1840 nêu trên của Minh mạng, thì nhân lễ ngũ tuần đại khánh tiết của nhà vua, triều đình sẽ  gia phong  (nâng bậc) cho tất cả thần linh đã được phong tặng: như vậy, có lẽ tờ sắc này không phải là tờ sắc phong tặng, vì theo nguyên tắc phong thần của triều Nguyễn, mỗi lần gia phong thì thân được cấp thêm hai Mỹ tự (2). Có thể đây là thôn được thanh lập từ lâu, nhưng chưa được sắc cấp phong. Lập luận như vậy, để thấy rằng thôn Bình Hàng Trung ra đời rất sớm, trước năm 1820 khá lâu. Điều này phù hợp với bảng kê danh sách tên xã thôn Nam Kỳ do Trịnh Hoài Đức lập vào đầu thế kỷ  XIX.

Thần được ban tặng “Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy”, có nghĩa là rộng rãi, khoan dung, lớn lao, rực rỡ, đức độ chót vót, ơn khắp mọi nơi, biến hóa hiển linh, nghiêm chỉnh đẹp đẽ (3) . Đây là các mỹ tự nói về đức tính của nữ (Tính âm) qua một hệ thống nhân cách hóa - thần linh. Theo quy định vào năm Tự Đức thứ III”… vị nào liệt ở thượng đẳng, thì thiên thần gia tặng chữ Túy mục, thổ thần gia tặng chữ Hàm quang, Sơn thần gia tặng chữ Tuấn tĩnh, thủy thần gia tặng Hoàng hợp, dương thần gia tặng chữ Trác vĩ, âm thần gia tặng chữ Trang huy…” (4) Điều đó cho thấy tứ vị thượng đẳng thần Đại Càn là nữ thần biển. Còn lý lịch của thần như thế nào.

Trong sách Việt điện u linh tập (VĐULT), phần Tục bổ (5), trang 128, có chép truyện  Kiều Hai môn từ (ở phủ Diễn Châu, huyện Quỳnh Lưu, làng hương cầu) như sau:

“Phu nhân họ triệu, công chúa nhà Nam Tống, mẹ con ba người, phu nhân là con gái út. Niên hiệu Thiện Bửu năm đầu đời Trần Nhân Tông, tướng Trương hoằng Phạm đánh úp quân nhà Tống ở núi Giai Sơn: quân Tống đại bại, quan Tả thừa tướng Lục Tú Phu ôm vua Đế Binh nhảy xuống biển, quan quân nhảy xuống chết theo hai vạn người; phu nhân mẹ con ba người vịn mạn truyền trôi đến chùa Hải Giai, nhà sư thương đem về nuôi nấng; sau vài tháng, phu nhân da thịt hoàng nguyên, diện mạo đẹp đẽ, nhà sư muốn tư thông, phu nhân nhất thiết cự tuyệt. nhà sư xấu hổ, nhảy xuống biển tự tử.

Ba mẹ con cùng khóc bảo rằng: “mẹ con ta nhờ sư mà sống, sư vì mẹ con ta mà chết, lòng ta sao an”, rồi cũng nhảy xuống biển chết cả.

Thi thể phu nhân trôi đến cửa biển Kiền Hải (tục danh là Cửa Cờn) phủ Diễn Châu, nước ta, tuy chết lâu mà ngọc diện vẫn như sống, người bản xứ thấy làm lạ, vớt lên chôn cất hẳn hoi, sau thấy có nhiều linh dị, mới lập đền thờ phụng. Hễ thuyền biển gặp cơn gió to sóng lớn, nguy cấp, van van với phu nhân thì đều được bình an vô sự. các cửa biển có đền thờ cũng đều linh ứng.

Trên đường tìm hiểu căn nguyên của sự thần hóa này, người đời sau cho rằng không loại trờ khả năng đền thờ thần là do đám di thần nhà Tống chạy sang nước ta dựng lên, nhằm khơi đậy lòng trung quân ái quốc trong đám dân vong quốc được ngụy trang  bằng việc thờ phụng một người đàn bà chết trên biển, trong khi câu chuyện có tới ba người. Người ta còn ghi nhận việc vua Trần Anh tông được bà báo mộng trong chuyến Nam chinh vào năm 1312, để thần tích tăng thêm phần thuyết phục (6). Như vậy,  “Phu nhân” được thần hóa thành nữ thần biển với quyền năng phù hộ độ trì dân đi biển, nhưng bên trong còn mang yếu tố ca ngợi tấm gương trung trinh tiết liệt; song vẫn không che được bản chất quyến rũ của nữ tính, làm chết một nhà sư.

Ở một góc độ khác, cho rằng để lôi cuốn tranh thủ đám di thần nhà Tống tham gia vào công cuộc chống quân Nguyên xâm lược, vua Trần giả dạng chim bao và phong thần cho cả bốn bà Đại Càn Thánh nương. Hoa kiều và dân ta xem Đại Càn thánh nương là thần biển. Khi nhà Thanh lật đổ nhà Minh, một số người Hoa do Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu dẫn thuộc hạ sang nước ta tị nạn. Lúc bấy giờ nhà Thanh phong cho thần biển mà người Trung Quốc đang tôn thờ sanh hiệu Thiên hậu Thánh mẫu. Để lấy lòng dân Minh hương, vua chúa nhà Nguyễn nhiều lần gia phong cho Địa Càn Thánh nương, như ở đình Tân An (quận I, thành phố Hồ Chí Minh0, thần được phong các mỹ tự Vi hợp Hoằng quang  Đại chí Pjoor đức Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần (8).

Trong Ô Châu cận lục (9), tác giả chép truyện thần biển cửa Cờn giống như VĐULT, song có thêm chi tiết thần là con gái út của bà thái hậu nhà Tống cùng chết với mẹ và hai chị, tức là bốn người (Tứ vị thánh nương) và còn có truyền thuyết khác về thần Đại Càn. Cho rằng từ lâu trên đất nước Việt Nam đã có nữ thần là chánh hậu  của vua Hùng thứ XIII. Trong một cuộc tranh giành ngôi báu, một thứ phi sai người cắt bộ sinh dục của hoàng tử con của chánh hậu vừa mới sanh. Nghĩ rằng, bà thánh hậu sanh quái thai là điềm xấu, vui đầy cả hai mẹ con bà ra hải đảo ở ngoài cửa Cờn. Hai mẹ con chết hiện về báo mộng dân làng ác rằng mình là thần nước Nam; xác được vớt lên chôn cất và lập đền thờ. Người dân đều cầu khấn đánh được nhiều cá, rất linh ứng, được dân coi như vị phục thần linh thiêng ở biển Nam. Khi cúng tế, thường bày ra tục múa hoa đỏ (vũ hồng hoa).

Sách Ô; Châu cận lục  được Dương Văn An hoàn thành vào năm 1555, cho thấy thần cửa Cờn đã được Nho hóa với danh hiệu Tứ vị thánh nương, được hầu hết các cửa biển lập đền thờ cúng; song trên dường nam tiến của người Việt, tục thờ thánh biển này chịu ảnh hưởng văn hóa Chăm rất đậm, với tín ngưỡng phồn thực qua biểu tượng linga. Với tư cách một khoa bảng Nho học, ông đã gay gắt phê phán cách thờ cúng dung tục đó: “Cựu tục, thổ nhân bất tri dĩ dâm vật dị thần”. Thờ bà (nữ Thần) với biểu tượng linga (sinh thực khí nam) không phải là để biểu thị ưu thế nữ tính của thần mà thực chất là muốn nói lên sự phối hợp nam nữ (âm dương theo Nho giáo) là nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở của thuyết phồn thực. thế nên có tác giả (10) cho rằng gốc của Tứ vị thánh nương có thể là thần Po Riyak (Po Rayak), thần sóng biển của người Chăm. Po Riyak là danh hiệu thần hóa của Ja Themeng Kei, một công thần của vua Pô Romé (11), vì là nam thần nên được vua chúa nhà Nguyễn (?) phong là Nam Hải cự tộc Ngọc lân tôn thần (hay Nam Hải Long vương), được  thờ ở các miếu có tên là Long vương miếu; đây là một dạng đền thì thần biển Chăm - Việt.

Thần Sóng Biển (Po Riyak) của người Chăm càng về phương nam càng được Việt hóa theo hai hướng: theo miền biển và địa bàn sông rạch.

- Quá trình Việt hóa ở vùng ven biển phương nam, thần Sóng Biển từng bước được đồng hóa với thần cá Ông, chuyên phù trợ cho người đánh cá hay di chuyển trên biển. Trong tâm thức của người Chăm, cá voi cũng là một vị thần Biển; song trong nghi thức thờ phụng, họ không thờ xương cốt (Ngọc lân) cá ông. Ở hướng này thần Sóng Biển được đồng háo với thần cá Ông và được suy tôn Nam Hải cự tộc Ngọc lân tôn thần”. Vì là nam thần nên đến cuối thế kỷ XVIII được nhà Nguyễn sắc phong là Nam Hải Long vương thờ ở các đền “Ngọc lân” ở một số ven bờ biển phía nam.

- Tín ngưỡng thần Sóng Biển được Việt hóa và phát triển trên địa bàn sông rạch có dấu hiệu cắt đầu từ Bình Định với danh hiệu Đại Càn; vào Nam Bộ với đặc điểm địa hình sông nước danh hiệu Đại Càn tứ nương hay Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị tôn thần trở nên phổ biến hơn.

Ngoài ra, nếu chú ý đến sự biến âm của khẩu ngữ, thì các tên gọi: Cửa Cờn. Kiền Hải, cần Hải, hương hải, Càn Hải có lẽ xuất phát từ một khẩu ngữ gốc nào đó. Theo nhà Chăm học Sử Văn Ngọc thì nói theo giọng chăm, từ gì cũng nghe như có dấu huyền; song, khi phiên âm các học giả thường ít chú ý đến và bỏ mất thanh huyền này. Và pô Inư Nưgar (Pô Inư nagar) đọc theo giọng Chăm là Pô nư Càng. Như vậy, các tên gọi trên đều xuất phát từ nơi có một đền thờ thần Biển, gọi là Cờn, Càn, Cần, Kiền mà nguồn gốc là Pô Nư Cành. Rõ ràng là ở đây có sự biến âm từ Cành  ra Cờn, Cần, Kiền và sự hiện diện của Pô Nư Cành (Pô Inư nưgar) trong mỹ hiệu “Đại Càn Quốc gia Nam hải…”  Theo thiếng Chăm, Pô  có nghĩa tôn xưng là Ngài, Đáng, Đức… từ đó trở thành “Đại” trong “Đại Càn” (12).

Lập luận dài dòng trên đây, nhằm đích làm rõ thêm quá trình Việt hóa tín ngưỡng Mẹ Xứ Sở (Pô Inư nưgar) của người Chăm. Tín ngưỡng Mẹ Xứ Sở của người chăm hội nhập vào hệ thống thần linh người Việt bắt nguồn từ động thái rước vị nữ thần vốn là “tinh của đại địa Nam quốc” của vua Lý Thánh tông sau cuộc Nam chinh vào năm 1069, từ vùng biển Hoàn Hải về Thăng Long và sắc phong mỹ hiệu “Hậu Thổ Đại kỳ nguyên quân” (VĐULT).

Trên đường Nam tiến, Tứ vị thánh nương được Việt hóa ngày càng cao và yếu tố biển dần dần mờ nhạc, yếu tố sông đậm nét dần khi càng đi sâu vào đất Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, tín ngưỡng phồn thực với ước vọng chủ yếu là cầu mong có nhiều cá. Mặc dù ở đây vừa tiếp nhận thần biển mới do  đám di thần  nhà Minh mang vào, nhưng yếu tố đồng bằng vẫn chiếm ưu thế. Tất nhiên không tránh khỏi sự trộn lẫn pha tạp trong nghi thức thờ phụng. Cho nên trong sắc phong cho thần với các danh hiệu có khác nahu như: Đại Càn thánh nương (như sắc ở đình Tân An, quận I), Tứ vị thánh bà (đình An Nhơn, quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí minh), Tứ vị thánh nương hoặc Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị tôn thần (như sắc ở đình Trường Thạnh (nay thuộc xã Thạnh phước, Mộc Hóa, Long An), đình Hằng Thạnh (nay thuộc xã Long Hòa, huyện Bình Đại, Bến Tre) và nhiều đình nay thuộc các huyện Cao Lãnh, Thanh Bình, Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông của Đồng Tháp), song không có danh hiệu nào được phong kèm theo mỹ tự Hoàng hợp (tức mỹ tự dành cho thủy thần thần biển), mà phần lớn được gia phong mỹ tự Trang huy (mỹ tự dành cha âm thần nữ thần), theo quy định vào năm Tự Đức thứ III đã nêu ở trên. Tức là tính nữ, hàm súc ý niệm phồn thực được đặt biệt chú ý.

Thông thường, nhà vua sắc phong một địa phương là nhằm hợp thức hóa việc tôn thờ vị thần đó của nhân dân đã có từ trước. Tờ sắc nói trên được cấp vào năm Thiệu Trị thứ V tức năm 1845, mà chúng ta đã cho rằng có lẽ chưa phải là tờ sắc cấp lần đầu tiên. Điều đó cho thấy nâhn dân vùng xung quanh Đồng Tháp Mười có tục thờ phụng bốn bà Đại Càn (Tứ vị Đại Càn) từ rất lâu. Tín ngưỡng này do chính lưu dân Ngũ Quãng mang vào, gặp môi trường sinh thái đặc biệt của Đồng Tháp Mười nên phát triển theo hướng riêng do sinh hoạt địa phương quy định. Trong hai thế kỷ XVII, XVIII lưu dân định cư ven Đồng Tháp Mười, lao động sinh sống chủ yếu chưa phải là làm ruộng, làm vườn; vì đất đai trũng thấp ngập úng, lại nhiều phèn. Hằng năm, mùa lũ ở Đồng Tháp Mười kéo dài hai ba tháng, cá tôm theo ngập tràn về, biến vùng trũng này thành một bồn rọng (chứa) cá. Các sách xưa Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí đã mô tả rõ điều này. Nên buổi đầu thời khai hoang, khai thác cá tự nhiên là sinh hoạt chính của nhân dân. Các khu vực sông Đốc Đông (Vàm Cỏ Tây), Cần Lố, Đốc Vàng, Sở Thượng, sở Hạ… là “ngư trường” khai thác cá. Vào mùa nước lên, từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch, thì đánh bắt cá bằng chài lưới, lờ lọp, đăng đó… Đến mùa nước rút, từ cuối tháng 10 đến ra giêng có khi kéo dài đến tháng hai, tháng ba thì cặm đăng, đóng đáy, xây nò… trên các sông rạch và đặc biệt là khai thác đìa (tát đìa bắt cá). Theo địa bạ Nam Kỳ năm 1836, toàn vùng Đồng Tháp Mười có gần 15000 khẩu đìa, có thôn như An Phong (nay thuộc huyện Thanh Bình) có đến trên 300 khẩu. Nhưng không chỉ có đánh bắt ác, mà còn chế biến, làm mắm, làm nước mắm, làm khô, nấu dầu cá… cá tươi bán đi xa đến tận Mỹ Tho, Sài Gòn và xuất khẩu sang Singapore, Hongkong… Việc chế biến, buôn bán hình thành một số nghề mới: lò làm nước mắm, thương lái cá với chiếc ghe đụt trên chuyên dùng chở cá, tấp nập từ Hồng Ngự xuống Cao Lãnh vào mùa cá. Nghề này chiếm mất nửa năm lao động của nhân dân và mang lại cho nhà nước số thuế rất lớn. Nhưng đến ấn định lại mức thu thuế rất khó, vì đìa có diện tích lớn nhỏ khác nhau, cá lại ít nhiều không giống nhau, nên cách tính thuế phải giao cho chính quyền sở tại châm chước,  giao cho dân lãnh trưng y như trước.

Riêng vùng sông Sở Hạ (sách ghi là Hầu Diện hạ) và vùng Sa-rày (sách cổ ghi là Như Cương. Cốt Sa thuộc Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp ngày nay),  trong mùa cá 1846 - 1847 đã chịu nộp thuế cho nhà nước 26.130 quan tiền, tương đương với mức thuế đánh trên 13.065 mẫu vườn hạng nhất (13).

Thuế cá mang lại một nguồn lợi rất lớn, nên có lúc chính quyền Nguyễn Ánh dùng nó làm vật trao đổi ngoại giao với nước láng giềng Chân Lạp; như năm 1795, để rảnh tay đối phó với Tây Sơn ở phía Bắc, chính quyền Nguyễn Ánh ra lệnh đem trả 68 sở thủy lợi trên hai sông Sở Thượng. sở Hạ và một số sở thủy lợi khác ở Châu Đốc cho Chân Lập (14).

Cầu mong trúng mùa là ước vọng ngàn đời của nông cư dân có nghề gắn bó với thên nhên; làm ruộng, làm cá.. ước vọng được thể hiện qua tín ngưỡng. Làm ruộng thì thờ thần Thành hoàng bổn cảnh, xuân thu nhị kỳ cúng thượng điền hạ điền, ba năm đáo đệ kỳ yên cúng cầu an, cầu phong điều vũ thuận mùa màng bội thu. Vua nhà Nguyễn thấy nghề cá ở Đồng Tháp Mười mang lại só thu thuế to lớn, nên sắc phong quốc gia Nam Hải cho thần Đại càn để độ trì các thôn có đông dân làm nghề cá. Tức là xếp thần của người làm nghề cá vào hệ thống thần quốc gia, biểu thị mối quan tâm của triều đình đối với đời sống tâm linh của lớp cư dân này mà trên thực tế họ đã tôn thờ qua tục cúng “cầu ngư” đã có từ lâu.

Hình thức tế lễ dù mỗi nơi có khác nhau, nhưng nội dung tín ngưỡng cầu ngư vẫn thể hiện ước vọng được thần cung cấp nhiều cá. Thường trong tế lễ có cảnh bóng rỗi (múa bóng). Múa bóng là một cổ tục của người Chiêm (Chăm),  do các bóng (Muk Pajau) phụ trách, còn được gọi là lễ Dâng Bông (vì thế nên tron VĐUL gọi là vũ hoa hồng). Bà Bóng đầu đội mũ kim cô, mình mặc áo đại màu viền xanh, hoặc vàng viền đỏ, chân mang tất, đầu đội một cái mâm trên có kết hình ngôi tháp. Vừa múa bà Bóng vừa đọc một bài kệ tùy theo hoàn cảnh mà mời các vị thần thích hợp đến chứng kiến buổi lễ và ban phước lành cho chủ lễ và dân làng. Lễ cầu ngư phần lớn diễn ra ở đình làng. Mặc dù là thượng đẳng thần, nằm trong hệ thống thần linh quốc gia, song thần Đại Càn không được nằm trong hệ thống Thành hoàng, nên thường không có trụ sở riêng, được thờ chung với thần Thành hoàng bổn cảnh,thường là một hạ đẳng thần.

Là một dạng tín ngưỡng ngư nghiệp, nên tục cúng cầu ngư thường được diễn ra vào lúc cao điểm của mùa cá tức là vào tháng 12 âm lịch.  Cụ thể nư ở thôn An Phong (nay thuộc huyện Thanh Bình) vào các ngày 9, 10, và 11 tháng 12, ở thôn Phú Thành (nay thuộc huyện Tam Nông)vào ngày 20 tháng 12, ở thôn Mỹ Xương (nay thôn huyện Cao Lãnh) vào ngày 16 tháng 12… ở các đình có thờ sắc Đại Càn, thường phía đình có thiết trí hai miếu con: một là Bộ Ngư, hai là Cai Ngư, và chi phí tế lễ thường do các sai viên (người trúng thầu khai thác cá) đóng góp.

Riêng đình Phú Thành hiện nay tọa lạc ở ấp Long An (xã Phú Thành A) cách chợ Phú Thành A khoảng 2km dọc theo rạch Ba Răng, được xây dựng vào năm 1964. Nguyên trước đây là đình An Phú (thuộc An Phú). Những năm đàu thập niên 50 của thế kỷ XX, hai thôn An Phú và An Thành xáp nhập thành xã Phú Thành, lấy trung tâm là thôn An Phú.Qua năm tháng đình An Thành không còn. Đình An Phú được nâng cấp trở thành đình thần của xã Phú Thành như hiện nay.

Đình xây cất mặt hướng về phía tây, cổng đình nhìn thẳng ra rạch Ba Răng. Trước đình có hai miếu thờ, phía trái (phía bắc) thờ Chúa Xứ-Ngũ Hành, phía bên phải (phía nam)thờ sơn Quân-Thần Nông, ở giữa đặt bàn Thiên.

Trước đây trong khuôn viên đình, ngoài các miếu trên còn có hai miếu thờ Bộ Ngư và Cai Ngư, nay hai miếu được cải biên trở thành hai trang, thờ cúng như trước đây, được đặt trong chánh điện, với hai bài vị, ghi Cai Ngư (該 漁)và Bộ Ngư( .Đồ khí tự khá đơn giản chỉ có đôi chân đèn và lọ cắm nhang. Hằng năm vào ngày 19, 20 thắng 12 âm lịch, đang lúc mùa cá đông ken, diễn ra lệ cúng cầu ngư, với nghi thức múa bóng, thả bè…

Bên cạnh sắc Thành hoàng bổn cảnh còn có sắc Đại Càn Quốc gia Nam Hải cấp cho thôn An Phú, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường. Nay sắc đã hư nát, nội dung được ghi lại và phiên âm như sau:

Sắc Đại Càn Quốc gia Nam Hải, Hựu thiện chi thần, Hàm hoằng Quan đại Chỉ đức tứ vị thượng đẳng, huy mạng niệm thần ma khả gia tặng, Quảng hậu Chánh trực Hựu thiện Thuần nghi chi thần.

Bạc hiển hóa Trang huy thượng đẳng chi thần, Kiến Phong huyện, An Phú thôn, y cựu phụng sự. Lễ tam ngoạt thập cửu, nhị thập nhựt, bão lễ thứ hàm an lợi lạc.

Khâm tai.

Tự Đức ngũ niên, thập nhất ngoạt, nhị thập cửu nhựt.

 (Đóng dấu ấn “SẮc mệnh chi bảo”)

Do có hai sắc thần Thành thần hoàng bổn cảnh và sắc thần Đại Càn Quốc gia Nam Hải, nên đình Phú Thành, hằng năm có hai lễ chính:

- Lễ cầu an: diễn ra vào ngày 19, 20 tháng 3 âm lịch, nội dung cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, là lệ lớn nhất.

- Lễ cầu ngư: Diễn ra vào ngày 19, 20 tháng chạp âm lịch, nội dung cầu cho các tôm dồi dào.

Hằng năm đến ngày lễ, sắc thần được cung nghinh bằng đường thủy đi vòng qua tất cả các ấp của xã Phú Thành A rồi quay trở về  đình an vị sắc. Cuối cùng sắc thần được cất giữ cẩn thận tại nhà một thành viên uy tín của ban thế tự (16).

Cá biệt ở thôn Mỹ  Xơng (nay thuộc huyện Cao lãnh), có miếu thờ riêng được nhân dân quen gọi là miếu Đại Càn. Đó là một ngôi cổ miếu bên bờ sông Càn Lố, song, do chiến tranh tàn phá, sập nhiều lần, mới được trùng tu sau năm 1975. Miếu gồm có chính điện và một võ ca, kiến trúc theo kiểu đình làng Nam Bộ, do kinh tế nhân dân địa phương còn nhiều khó khăn, nên việc trùng tu có tính tạm bợ. Hầu hết các khí tự đều mới tạo, chỉ có bài vị là từ vật ngày xưa lưu lại. Đó là một màng gỗ quý khắc hai chữ Hán “Đại Càn”, chắc trước đây sơn son thiếp vàng rất đẹp, nay đã long tróc; song vẫn còn phảng phất dáng dấp đó. Bài vị đặt trên bàn thờ ngay giữa chính điện, với các khí tự như bàn thờ  thần Thành hoàng. Hai bên bàn thờ cũng có bàn thờ tả ban, hữu ban.

Theo nhân dân địa phương, miếu được dựng lên cách đây khoảng 150 năm. Có một số truyện dân gian về nguyên nhân dẫn đến việc dựng miếu. Chung quy là trong làng có nhiều người hằng năm đến mùa nước rút thường vào Đồng Tháp Mười làm nghề cá, mặc dù trong làng đình Mỹ Xương có thờ sắc Đại Càn Quốc gia Nam Hải, nhưng cũng chỉ là phối tự và hằng năm lệ cúng Đại Càn ghép chung với nghi thức cúng thượng điền, nên nhiều người không hài lòng, nhưng không thể đề đạt tách ra được, vì lệ làng xưa nay là thế. Hơn nữa các làng xung quanh, bà Đại Càn cũng chỉ là thần phối tự, không có cơ sở thờ tự riêng, dù là thượng đẳng thần. Nhân một năm nọ, cũng vào mùa nước rút tức vào mùa cá, không biết từ đâu có một chiếc bè chuối, cột trong những nghi thức cúng bái bà Đại Càn trôi trên sông càn lố đến tấp vào làng, dân làng xô ra nhiều lần, nhưng bè vẫn tấp vào. Nhiều người già cho rằng, như thế là bà Đại Càn trôi trên sông Càn Lố đến tháp vào làng xô ra nhiều lần, nhưng bè vẫn tấp vào. Nhiều người già cho rằng như thế là bà Đại Càn muốn ngự ở đây. Một ngôi miếu con được dựng lên ngay nơi bè tấp vào. Qua năm tháng, những người làm nghề cá khấm khá, chung nhau sửa sang miếu ngày một to rộng hơn, để tạ ơn.

Ngày chính tế, thức cúng trên bàn thờ chính, ngoài thức ăn chín còn co hoa quả và một thủ vĩ heo sống với các phụ phẩm, tượng trưng cho con heo sống; ở bàn hội đồng cúng một mâm thịt sống cùng thức nấu chín. Nghi thức cuối cùng là thả bè (chiếc ghe nhỏ làm bằng thân cây chuối kết lại trên có bày bộ tam sanh và một số thức cúng khác), với ngụ ý tiễn thần và tổ tiên về quê cũ. Ngoài hình thức tế lễ cộng đồng, ở Đồng Tháp Mười còn có hình thức cúng cầu ngư cá thể.

Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Cao Lãnh xuất hiện một số “triệu phú đìa”, làm giàu bằng nghề khia thác đìa. Có khi họ bỏ tiền thuê người đào đìa, nhưng cũng có người đứng ra bao thầu hay mua đìa (chỉ mua trong một vụ cá, giống như cách mua xoài lá hiện nay)… Một số người nổi tiếng trong lĩnh vực này ở cao lãnh là ông giáo Gồng, Mười Sang… Người ta bỏ tiền ra mua, bao thầu nhiều đìa khắp nơi trong Đồng Tháp Mười. Mua xong, thuê “du côn” (tiếng gọi dân anh chị lúc ấy) ở lại canh giữ, đề phòng tát trộm. Hằng năm, khi xong mùa cá, ông tổ chức cúng cầu ngư rất lớn tại Gò Tháp và thường rước bà Bóng Ba ở Cầu Xéo (Thông Lưu, Cái Bè) đến múa cúng.

Qua sắc phong Đại Càn Quốc gia Nam Hải và lịch sử cư dân Đồng Tháp Mười (vùng ven sông Tiền), ta có thể nói rằng, tín ngưỡng thờ bốn bà Đại Càn ở đây là tín ngưỡng ngư nghiệp. Tín ngưỡng này được hình thành trong quá trình giao tiếp văn hóa giữa các dân tộc Việt, Chăm, Hoa. Trong sự vận động và tiếp biến văn hóa này,  tiêu chí quy định sự tồn tại và phát triển của nó là sinh hoạt của nhân dân địa phương trong môi trường sinh thái đặc biệt của Đồng Tháp Mười trong mấy thế kỷ qua. Đây là một dạng sinh hoạt văn hóa độc đáo mang đậm nét bản địa, cần được nghiên cứu sâu, để qua đó có thể hiểu rõ hơn về nghề khai thác cá, một hoạt động vai trò kinh tế quan trọng trước khi việc trồng lúa là sinh hoạt kinh tế then chốt.

Rõ ràng trong một thời gian dài, nghề khai thác cá đã đóng vai trò quan trọng  trong xã hội của người Việt ở Đồng Tháp Mười, từ việc bảo đảm cơ sở vật chất cho sự phát triển xã hội đến hình thành nhiều thành tố khác trong đời sống văn hóa bao gồm phong tục, tập uán, địa danh, “lời ăn tiếng nói”… Nói cách khác, nghề cá ở Đồng Tháp Mười đã tác động một cách đáng kể đến đời sống kinh tế - xã hội địa phương. Nó đã tạo cho địa phương có diện mạo sinh hoạt kinh tế - xã hội mang một nét riêng soi với vùng lân cận. Có nơi chuyên nghề đào đìa bắt cá để đóng thuế ruộng như ở vùng kinh mới Rạch Chanh, vùng Mộc Hóa (nay thuộc các chuyện Mộc Hóa, Tân Thạnh, Vĩnh Hưng, Long An);  vùng sông Sở Thượng, Sở Hạ cùng một số rạch khác trên cù lao tây và ở các khu vực thuộc huyện Hồng ngự, Tân Hồng, Tam Nông… thuộc tỉnh Đồng Tháp ngày nay là những địa bàn do nhà nước (qua các thời kỳ lịch sử) quản lý cho tư nhân đấu thầu khai thác cá; nơi chuyên nghề làm mắm như ở lưu vực sông  Cần lố (nay thuộc huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp), chuyên nghề làm nước mắm, như khu vực rạch Trâu Trắng, Đốc Vàng (nay thuộc huyện Thanh Bình, Đồng Tháp). Còn những nơi khác ở Đồng Tháp Mười, nghề tiểu thủ công cũng dùng con cá làm nguyên liệu. Ngay cả quyền sở hữu đất đai ở đây nhiều nơi không phải là ruộng vườn mà là đìa, bàu, mương rạch… và người giàu có do khai thác cá được gọi là “phú nông đìa” hoặc “triệu phú đìa”.

Kết luận

Tục cúng cầu ngư cá sông (cá đông) ở các thôn vùng trong làng vùng Đồng Tháp Mười và một số địa phương khác ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là kết quả của một quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa trong suốt diễn trình khai phá vùng đất mới của Tổ quốc, với đặc điểm tự nhiên của một vùng sông nước có chu kỳ ngập lụt hăng năm. Trong hai thế kỷ XVIII, XIX, nghề khai thác cá sông, cá đồng ở đồng bằng sông Cửu Long đã mang lại một nguồn lợi lớn cho quốc khố, nên triều đình nhà Nguyễn cấp sắc phong “Đại Càn Quốc gia Nam Hải” cho các thôn làng này để nhân dân thờ phụng.

Chú thích

(1) Quốc sử quán, Đại Nam thực lục chính biên,  tập XXII, tr. 5-7.

(2) Quốc sử quán,  Đại Nam Khâm định hội điển sư lệ,  tập VIII, tr.187.

(3) Theo cách dịch của cao Tự thanh.

(4) Quốc sử quán, Đại Nam Khâm định hội điển sự lệ,  tập VIII, tr. 187

(5) Lý Tế Xuyên:  Việt điện u linh tập, Bản dịch Lê Hữa Mục, phần tục bổ của Nguyễn Văn Hiền (Nguyễn Văn Chất).

(6) Nguyễn Duy Hinh (1996),  Tín ngưỡng thần Hoang,  tập II. Nxb Khoa học xã hội, H, tr.71-72.

(7) Tạ Chí Trường (1989), Thần người và Đất Việt, Nxb. Văn nghệ, California. Tr.191.

(8) Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường,  Đình Nam Bộ, Nxb.Tp.Hồ Chí mInh.

(9) Dương Văn An (1961), Ở Châu Cận Lục,  bản dịch của Bùi Lương, Sài Gòn.

(10) Tạ Chí Trường, Sđd, tr.275.

(11) Nguyễn Đình Tư (1974), Non nước Ninh Thuận, tr.133.

(12) Huỳnh Ngọc Trảng (2002), “Câu chuyện về ông thần Thành hoàng đình Phú Nhuận”. Kiến thức ngày nay, số 414, tr.36-37.

(13) Quốc sử quán,  Đại Nam thực lục, tập XVIII, tr. 241, tập XXVI, tr.86-87.

(14) Quốc sử quán, Đại Nam thực lục,  tập II, tr.143.

(15) Ngôi đình trước đây (tức đình An Phú) được xây cất bằng gỗ tọa lạc cách ngôi đình hiện nay khoảng 1km về hướng chợ Phú Thành A. Đình Phú Thành có chiều dài 43m, ngang 15,4m và cao 9m. mái đình lợp  ngói có trang trí hình long - lân- phụng, cột bê tông, tường xi măng, gạch, nền lót gạch tàu/ Đình có hai cổng: bắc môn và Nam môn, cổng Nam môn dẫn đến nhà khách, bàn thờ tiên sư và cũng là lối duy nhất vào bên trong đình.

(16) Hiện nay, mặc dù sắc đã rách nát, nhưng vẫn được trân trọng cất giữ tại nhà ông Mười Lù - một người có uy tín lớn của ban tế tự.

Cập nhật ( 02/06/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online