Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Sơ Lược Tính Chất Chữ Hán-Nôm và Hán Việt (Tri Nguyên)
Sơ Lược Tính Chất Chữ Hán-Nôm và Hán Việt (Tri Nguyên) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
15/06/2011

Sơ Lược Tính Chất Chữ Hán-Nôm và Hán Việt 

* Tri Nguyên

Trong lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta mượn nhiều chữ nước ngoài để phát triển ngôn ngữ thêm phong phú và đa dạng. Sự phát triển của chữ Nôm và Hán Việt đánh dấu giai đoạn đặt biệt trong ngôn ngữ Việt Nam. Chữ Nôm được hình thành từ chữ Hán, do chữ Hán mà chúng ta tạo thành những chữ âm Nôm, nghĩa Việt. Chữ Hán Việt cũng bắt nguồn từ chữ Hán nhưng lại được phiên âm ra Việt, được hiểu theo nghĩa Hán hoặc nghĩa Việt. Vì chữ Hán liên quan đến văn học Việt Nam nên trong bài viết này chúng tôi xin sơ lược tính chất của nó, đôi nét về chữ Nôm và Hán Việt.

          Hầu hết các chữ viết trên thế giới đều theo dạng ráp vần, dùng chữ cái để ghi lại âm thanh của từ và khi nói ra thì hiểu được nghĩa. Chữ viết Quốc Ngữ của Việt Nam cũng như vậy, thí dụ như dùng chữ ‘b’ (bờ) và ‘a’ (a) để ghi lại âm thanh ‘ba’.  

Tuy nhiên tính chất của chữ Hán không theo dạng trên, mà mỗi chữ có tính cách độc lập: “ [chữ Hán lại không kết hợp mật thiết với ngữ âm: mỗi chữ là một dấu hiệu của âm tiết, không thể chỉ ra âm đọc một cách rõ ràng...Có thể chia chữ Hán ra thành hai nhóm lớn; Một nhóm thuần tuý biểu ý, không có phần biểu âm; một nhóm chữ hình thanh có hình biểu âm]” (Trần, Văn Chánh & Lê, Anh Minh: 2002, 17)

 

Chữ Hán được cấu tạo theo sáu nguyên tắc gọi là Lục thư: Tượng hình,Chỉ sự, Hình thanh, Hội ý, Chuyển chú, Giả tá. Nhưng tóm lại, có 3 cách chính tạo chữ, chuyên về hình thức và thường dùng: Tượng hình, Hội ý và Hình thanh. Còn ba cách kia: Chỉ sự, Chuyển chú và Giả Tá không chính thức là cách tạo chữ mà chỉ thêm yếu tố về âm thanh.   

 

Nguyên tắc đầu tiên cấu tạo chữ Hán là Tượng hình. Người Hán dùng phương pháp vẽ vật và tượng hình để tạo ra chữ viết. Các chữ được viết theo phương cách này gọi là chữ hình tượng. Thí dụ như chữ ‘  : nhân: người’, thì họ vẽ một người đang quỳ gối. Sau theo lối viết ‘giản thể’  nên chữ được đổi dần thành ‘ ’. Chữ ‘ : nhật: mặt trời’ nay được viết gọn đi thành ‘ ’. Đến ngày nay, bởi vì cách viết chữ biến đổi nên khi nhìn vào một chữ sẽ không nhận ra nó là hình của vật gì.

 

Nguyên tắc thứ hai cấu tạo chữ Hán là Chỉ Sự. Chữ tượng hình là do nhìn các hình dạng của vật có thực mà tạo nên, ngược lại chữ Chỉ sự là con người suy tưởng ra. Chữ này được vẽ ra theo khái niệm trừu tượng về những sự vật vô hình. Hứa Thận một nhà học giả soạn từ điển nổi tiếng ở Trung Hoa (58- 147) định nghĩa như sau “ Thấy mà nhận biết, xét mà rõ ý, như chữ thượng ( ), chữ hạ ( )” (trích từ, Trần, Văn Chánh & Lê, Anh Minh: 2002, 19). Ngoài ra còn nhiều chữ khác thuộc loại chữ Chỉ sự như:

 (nhất: một)

( nhị: hai)

(cổn: trên dưới thông nhau)

( vi:vây quanh)

 

Tuy các hình này do sự tưởng tượng của con người mà đặt ra chữ. Nhưng có người cho rằng chữ Chỉ sựTượng hình có đặc điểm giống nhau là nhìn hình nhận biết ý nghĩa. Điểm khác nhau là chữ sáng tạo theo trí tượng tượng và chữ căn cứ theo hình vật mà đặt nên chữ.

           

Hội ý là chữ được ráp nối từ chữ Tượng hìnhChỉ sự. Vì khả năng diễn đạt của hai chữ trên có hạn,  nên ráp một vài dấu hiệu để tạo ra chữ mới. Thí dụ như chữ ( : thái: hái). Chữ ‘ ’ đứng một mình là “trái cây”, chữ ‘ ’ có nghĩa là tay. Kết hợp hai chữ này lại là dùng ‘tay’ để lấy ‘trái cây’ là ‘hái’.

 

Theo như các nhà bình luận về ngôn ngữ, tiếng Trung Hoa nghèo về phần âm điệu bởi vì tiếng Tàu là đơn âm. Trong các nguyên tắc cấu tạo chữ, Hình thanh khác với các dạng ghép chữ khác là dùng phần dấu hiệu chỉ ý nghĩa và phần khác thì chỉ âm. Khi muốn viết chữ khác thì có thể thay đổi hình và giữ âm lại. Ví dụ như chữ  ( : chu: một loài trùng tên chu). Chữ  (chu) do chữ ( :trùng) để chỉ nghĩa và chữ ( :chu) là âm, ghép lại. Nếu đổi bộ “trùng” thành bộ  (thủy) ta có chữ  (chu) chỉ con sông có tên Chu ở tỉnh Sơn Đông. Dựa vào nguyên tắc trên, đa số chữ Hán được tạo ra bằng cách giữ “âm”, ghép “hình”. Dấu hiệu chỉ ý nghĩa và âm không có vị trí nhất định, có thể xoay chuyển lẫn nhau để tạo ra chữ mới.

 

Chuyển chú là những chữ cùng chung bộ chữ, có ý nghĩa tương đồng, bổ sung cho nhau. Như Hứa Thận đã giải thích “Chữ chuyển chú là lập nên một đầu bộ, cùng một ý nhận nhau, bổ túc cho nhau, như chữ khảo ( ), chữ lão ( ) (trích từ, Trần, Văn Chánh & Lê, Anh Minh: 2002, 25). Ngoài ra còn các chữ ( : điên: đỉnh, chóp) và ( : đỉnh: đỉnh, chóp). Hai chữ này đều thuộc bộ ( :hiệt). Trong tiếng Việt có những chữ tương tự nhau loại chuyển chú, ta gọi là đồng âm, đồng nghĩa nhưng khác chữ. Ví dụ như chữ ‘bịnh’ và ‘bệnh’ đều có nghĩa là đau ốm, không khỏe, âm đọc cũng gần nhau.

 

Chữ Giả tá là loại chữ mượn âm của chữ đã có sẵn để đặt ra chữ cho một sự vật mới xuất hiện. Ví dụ như mượn chữ ( :đồ: con đường) sau dùng cho chữ ‘đồ’ trong “đồ đệ”. Chữ Giả tá mượn chữ khác nói lên ý nghĩa mới chứ không tạo chữ mới.  

 

 

Nhiều người đặt câu hỏi rằng trước khi chữ Hán du nhập Việt Nam, người Việt dùng chữ gì để ghi nhớ và miêu tả tiếng nói của mình? Nhưng cho tới nay, vẫn chưa có xác định rằng người Việt có chữ viết riêng trước chữ Hán. Xét theo lịch sử, nước người Việt tiếp xúc và bị đô hộ bởi Trung Hoa trong một quá trình dài, cho nên chữ Hán là chữ chính thức được sử dụng lúc bấy giờ.

 

Theo nhà văn Phạm Thế Ngữ, chữ Hán được truyền vào nước ta từ năm 111 trước T .L đến năm 39 sau T.L ( ‘năm’ ?, 58). Nhiều đời vua như Hán Vũ, Hán Quang, Tích Quang đã gửi người và mở trường dạy chữ Hán cho người Việt Nam thời bấy giờ. Hơn nữa do dân ta giao thiệp, buôn bán qua lại nước Trung Hoa cho nên chữ Hán phát triển rất nhanh. Sau hết là sự truyền bá của các đạo như Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Đạo Phật được truyền sang nước nước ta bằng hai đường, từ Trung Hoa và từ Ấn Độ theo lối Chiêm Thành. Kinh điển từ chữ Phạn (Sanscrit) sang chữ Hán là chính, nên tới ngày nay chữ Hán vẫn còn được lưu truyền trong Tăng đồ Phật giáo Việt Nam.

 

Các nhà văn học đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau để xác định việc sáng tác chữ Nôm. Giả thuyết của Phạm Huy Hổ cho rằng chữ Nôm có từ thời Vua Hùng Vương trước Tây Lịch ( 2879-258). Một giả thuyết khác gợi ý chữ Nôm có từ thời Hàn Thuyên đời nhà Trần. Đào Anh Duy cho rằng chữ Nôm có thể xuất hiện vào đời nhà Lý (905), (Vũ, Văn Kính: 2002, 12). Những các giả thuyết trên đều thiếu bằng chứng vững vàng, chưa chắc thuyết nào đúng sự thật. Tuy nhiên gộp chung, các giả thuyết cho rằng chữ Nôm xuất hiện ở thế kỷ thế chín, mười và mười một là nhiều hơn hết.

 

Sự phát triển của chữ Nôm đã đánh dấu bước quan trọng trong tinh thần độc lập về văn tự của người Việt Nam. Thời xưa, dân tộc ta hoàn toàn sử dụng chữ Hán trong các nhu cầu xã hội như giáo dục, tôn giáo, hành chính; học, thi cử chữ Hán, cho đến các giấy tờ, văn thơ đều dùng chữ Hán. Nhưng vì chữ Hán khó học và dễ quên cho nên người mù chữ chiếm đa số. Do đó chữ Nôm được sáng lập để đáp ứng thỏa đáng về mặt xã hội hay các khía cạnh khác.

 

Vài phương pháp quen thuộc cấu tạo chữ Nôm gần giống chữ Hán như Giả tá, Hình thanh, hội ý.  Phương pháp Giả tá là mượn chữ Hán nhưng là âm Việt, được chia làm 4 phần;

1.      Mượn chữ đồng âm và đồng nghĩa (lấy nguyên âm Hán Việt, hiểu theo nghĩa của chữ Hán). Ví dụ như: ( : an: an bình, an phận, an lạc)  

2.      Mượn âm chữ Hán nhưng nghĩa khác biệt (chỉ mượn âm, không dùng nghĩa chữ Hán. Ý , nghĩa lại theo ý nghĩa chữ âm Nôm. Ví dụ chữ ( : ngã, nghĩa là ta, âm Nôm cũng đọc ngã nhưng hiểu là người bị ngã, cây cối ngã,… vất té).

3.      Mượn nghĩa chữ Hán nhưng khác âm ( hiểu theo nghĩa chữ Hán hay đọc trệch âm). Ví dụ chữ ( : xa là xe, khi đọc âm Nôm là xe)

4.      Mượn chữ Hán nghĩa dị biệt, âm hơi giống ( mượn âm của chữ Hán nhưng âm thanh cũng không hoàn toàn là âm Hán). Ví dụ chữ ( :mãi nghĩa là mua, nhưng âm Nôm đọc là trệch đi là mái, mại, mấy, mé, mảy…)

 

Phép Hình thanh hay còn gọi Hài thanh dùng hai hay nhiều chữ Hán hay nửa của hai chữ Hán ghép vào nhau, nửa chữ này ghép với nửa chữ kia để tạo thành chữ Nôm. Vì loại chữ này tùy theo người viết sắp sếp nên có nhiều chữ và kiểu khác nhau. Chữ viết này không thống nhất và theo nguyên tắc nhất định. Tuy là dùng chữ Hán ghép lại thành chữ Nôm nhưng khi người Trung Hoa đọc thì họ cũng không hiểu là gì. Ví dụ như chữ (quơ:  , gồm bộ thủ ( ) là tay để gợi ý và chữ qua ( ) gợi âm. Nhưng đọc cả chữ theo âm Hán Việt là pha nghĩa là sườn núi).

 

Phép hội ý là phương pháp ghép hai chữ Hán đều có nghĩa để chỉ về ý một âm Nôm nào đó. Ý nghĩa của chữ Nôm này thì tập trung của cả hai chữ Hán ghép lại. Ví dụ như chữ ( trùm:  là người đứng đầu một xứ, gồm chữ nhân  là người và chữ thượng  là trên có ý chỉ là người ở trên.

 

 

Từ thời thượng cổ, Trung Hoa là nước văn minh nhất nhân loại. Sự ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đã lan tràng sang các nước Á Châu trong vùng, trong đó có Việt Nam. Dân tộc ta tiếp thu văn hóa Hán sâu đậm qua nhiều thế kỷ bị đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Ngôn ngữ Việt Nam được phong phú và đa dạng là nhờ phần chữ Hán Việt âm, gọi là chữ Hán Việt. Chữ Hán Việt được tạo ra từ chữ Hán nhưng được phát âm riêng theo lối chữ Việt.  

 

Người Việt học tiếng Hán vào thời nào thì viết và phát âm theo thời kỳ đó. Có ba thời kỳ thay đổi trong ngữ âm của Hán văn; đời nhà Tần Hán gọi là âm thượng cổ, đời nhà Đường Tông gọi là âm trung cổ và đời Nguyên Minh gọi là âm hiện đại. Âm Hán Việt chúng ta được ảnh hưởng sâu đậm nhất là ngữ âm đời Đường và vẫn duy trì tới nay ( Lê, Nguyễn Lưu: 2002, 179).

 

Trải qua nhiều sự phát triển liên tục của các thời đại, vốn từ Việt mượn từ Hán văn chiếm phân nửa kho từ của ngôn ngữ Việt Nam. Chữ Hán Việt được sử dụng trong đời sống hàng ngày cho nên có nhiều chữ rất quen thuộc, chỉ đọc lên là nghe được, hiểu được. Nhà văn Nguyễn Tài Cẩn nói rõ như sau “[đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn, bỡi lẽ hệ thống phụ âm, nguyên âm Hán Việt đã lọt vào trong hệ thống ngữ âm Việt Nam, trở thành hết sức tự nhiên]” (trích từ Lê, Nguyên Lưu: 2002, 188).

 

Cấu tạo và sự hình thành của từ Hán Việt là nhờ vào các âm tiết từ chữ Hán. Sau khi phiên ra âm Việt từ chữ Hán, ta có một âm tiết, đem âm tiết ghép vào ngôn ngữ Việt Nam là yếu tố cấu tạo từ Hán Việt. Từ tố Hán Việt được chia làm hai thành phần: Một,  âm tiết Hán Việt chỉ cho một từ tố Hán Việt, ví dụ như Nguyệt ( mặt trăng) trong “ nguyệt cầm”, “bóng nguyệt”. Duyên trong “cơ duyên”, “duyên kiếp”. Hai, âm tiết của tiếng Việt cho hai, ba từ tố khác nhau nhưng đồng âm, ví dụ như : Thiên  (trời) trong “thiên hạ”, Thiên  nghìn trong “thiên lý”, Thiên  (nghiêng) trong “thiên vị”, Thiên  (chương sách).

 

Từ Hán Việt được chia làm hai dạng; từ đơn tiết (đơn âm tiết) và từ đa tiết (đa âm tiết). Từ đơn tiết,  một từ tố Hán Việt dùng độc lập hoàn toàn để tạo từ đơn tiết. Có năm trường hợp sử dụng loại từ này:

            -Chỉ các sự vật, hiện tượng (vốn từ này chưa có khi tiếp xúc với người Hán) như: tuyết, sách, học, tập, ôn, đông, tây, nam, bắc…

            -Chỉ các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động (đã có sẵn trong tiếng việt), từ Hán Việt dùng cho nghĩa bóng, nghĩa đen, nghĩa về tinh thần, tình cảm như: trọng dùng với nghĩa tôn trọng, không dùng với nghĩa nặng như trọng lượng; khinh dùng cho nghĩa coi thường, khinh bỉ, không dùng cho nghĩa nhẹ như khinh khí công hoặc khinh khí cầu; tâm dùng với nghĩa tình cảm nhưng không dùng nghĩa tim.

            -Chỉ các hiện tượng, tính chất, hành động nhưng biểu thị ý nghĩa đặt biệt trong trường hợp chuyên môn như chữ địa trong ông địa, “cái mặt địa” (trơ ra không biết xấu hổ), trà thành chè, tống dùng trong đuổi đi, mộc là chỉ chất gỗ như thợ mộc, đồ mộc, nghề mộc.

            -Chỉ hiện tượng, các sự vật mà tiếng Việt vốn đã có nhưng bị quên lãng hay biến mất. Những từ này chỉ dùng hạn chế trong phương ngữ như chữ hoa thay chữ bông, chữ quần thay cái váy, củng, chữ vạn thay muôn.

            - Chữ dùng trong hệ thống thuật ngữ, chỉ khái niệm mới về văn học như; phú, tế, kịch. Về triết học, tôn giáo như; thánh, thần, tiên, phật, nghiệp, tu, tụng niệm. Về chính trị, kinh tế như; chức, quân, dân, binh, công.

 

Từ đa tiết được tạo thành do hai, ba từ tố trong đó có ít nhất  một từ tố Hán Việt:

            -Một từ tố Hán Việt kếp hợp với môt từ khác nguyên là chữ Việt hay Việt hoá, hai từ này thương đồng nghĩa hay gần nghĩa như; sức lực, nhận xét, linh thiêng, sách vở, suy nghĩ…Có thể dùng từ Hán Việt làm gốc để láy như; ước ao, sinh sôi, lễ lược, hồng hào từ những từ gốc Hán Việt sinh, ước, hồng, lễ.

            - Mỗi từ tố Hán Việt kết hợp với từ tố Hán Việt khác tạo ra từ ghép Hán Việt như; vô duyên, phi nghĩa, oan nghiệt, giải lao, học tập, độc ác, quốc gia, thành kiến, đầu hàng, độc lập, lương tâm, thành công lập quốc…v.v. Các từ này có thành tố chính và phụ, thành tố độc lập và không độc lập xoay chuyển lẫn nhau.

 

Trải qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam thu nhập văn hóa Trung Hoa là phần chính. Dân tộc ta vào thời kỳ đô hộ của các triều đại Trung Quốc đã sử dụng tiếng Hán như của mình trong nhu cầu xã hội, chính trị, kinh tế, tôn giáo…. Tuy vay mượn vốn ngôn ngữ khác nhưng người Việt đã tạo ra những chữ viết riêng cho mình như chữ Nôm, chữ Hán Việt và hiện tại là chữ Quốc Ngữ. Chữ Hán và Nôm không còn đóng vai trò quan trọng trong ngôn ngữ Việt Nam, thay vào đó là chữ Quốc Ngữ. Tuy nhiên chữ Hán Việt không suy tàn theo các chữ trên nhưng lại được Việt hóa, hòa cùng chữ Việt hiện đại để ngôn ngữ trở nên phong phú và đậm đà.

 

Reference:

 Pham, The Ngu ( ? ). Viet Nam Van Hoc Su Gian Uoc Tan Bien. Caliafornia ( USA): Nha xuat ban Dai Nam.

 Vu, Van Kinh ( 2002). Hoc Chu Nôm. Viet Nam: Nha xuat ban Mui Ca Mau.

Bui, Duc Tinh (? ). Van Pham Viet Nam, ( Tai ban). California ( USA): Nha xuat ban Xuan Thu.

 Vu, Van Kinh, (2002). Đai Tu Dien Chu Nom. Sai Gon: Nha xuat ban Van Nghe Thanh Pho Ho Chi Minh; Trung tam nghien cuu Quoc Hoc.

 Tran, Van Chanh & Le, Anh Minh (2002). Toan Thu Tu Hoc Chu Han. Sai Gon: Nha xuat ban Tre Thanh Pho Ho Chi Minh.

 Le, Nguyen Luu (2002). Tu Chu Han Den Chu Nom. Sai Gon: Nha xuat ban Thuan Hoa.

Cập nhật ( 15/06/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online