Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Hoằng pháp thời hiện đại (Ban Hoằng pháp Cà Mau)
Hoằng pháp thời hiện đại (Ban Hoằng pháp Cà Mau) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
18/07/2011

HOẰNG PHÁP THỜI HIỆN ĐẠI

* Ban Hoằng Pháp tỉnh Cà Mau

Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trãi qua năm kỳ đại hội kể từ khi thành lập giáo hội đến nay, với phương châm “Đạo pháp - Dân tộc, Chủ nghĩa Xã hội” dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương giáo hội, sự nhiệt tâm năng nổ của Ban Trị sự Tỉnh - Thành hội Phật giáo và hơn nữa là sự quan tâm của chính quyền địa phương các cấp đã có bước đi dài với những thành tựu rất đáng khích lệ, mọi sinh hoạt của Phật giáo đều khởi sắc, các ban ngành đều có những đóng góp tích cực. Trong đó Ban hoằng pháp là một bộ phận quan trọng góp phần tạo sắc  thái đặc thù của Phật giáo, được chư vị tôn túc quan tâm và cũng không ít lần, nhiều vấn đề thuộc lãnh vực hoằng pháp được đặt ra, nổi bậc nhất là việc hoằng pháp vùng sâu vùng xa là một vai trò trong xu hướng hiện nay. Nhưng do nhiều ý kiến bất đồng cũng như thiếu nhân lực nên vẫn còn rất nhiều hạn chế. Giờ đây, cũng cùng mục tiêu này. Ban hoằng pháp Trung ương lại một lần nữa tổ chức Hội thảo chuyên ngành mong tìm ra một phương thức thỏa đáng cho ngành hoằng pháp hiện nay.

I. Tiêu chí Hoằng pháp:

Hoằng pháp như chiếc buồm chạy ngược gió, không có gió thì buồm nằm yên một chổ. Lực đẩy của con tàu là nhờ nước chảy xuôi, nước chảy ngược thì tàu sẽ bị khựng lại, vậy muốn tàu có thêm lực đẩy là nhờ vào tay chèo của nhiều người. Với chí nguyện “Hoằng pháp lợi sanh, báo Phật ân đức” mỗi thành viên sẽ giữ một sứ mạng thiêng liêng là tạo ra một hướng đi tốt đẹp cho mọi người, sống vui sống khỏe an lành và thiết lập cầu nối cho tăng ni trẻ có xu hướng phát triển đến các vùng nông thôn vì nơi đó thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần, nhất là trào lưu văn hóa ngoại lai làm suy đồi đạo đức. Vậy có trợ lực nào làm thay đổi để sống tốt hơn, nhìn thấy hiện trạng đó, Ban Hoằng pháp với câu nói: “Quãng đại quần chúng”, đặc biệt là các em học sinh, các em lang thang cơ nhỡ, những mãnh đời bất hạnh để phụng sự đạo pháp, phục vụ xã hội tạo niềm vui hạnh phúc cho mọi người, nêu cao được giá trị của tuổi trẻ Phật giáo trong đời sống cộng đồng.

Phật giáo Luôn đồng hành cùng thời đại, bên cạnh những nổ lực cống hiến không mỏi mệt. Ban hoằng pháp cần đề ra những mục tiêu sau đây:

1. Thay đổi thái độ sống thụ động, chỉ sống cho riêng mình.

2. Phát triển tri thức cộng đồng

3. Xây dựng nền tảng đạo đức nhân bản truyền thống của dân tộc để có hướng đi rõ ràng.

Có như thế thì Hoằng pháp mới thật sự đi vào lòng người, khi xưa gót chân của các bậc đạo sư đã cất bước du phương trên toàn cõi Ấn Độ để xây dựng một xã hội an bình và nhân bản.

Hôm nay, tuổi trẻ sinh viên Hoằng pháp thể theo hạnh nguyện ấy, với sức trẻ nhiệt huyết luôn đông  đầy, tuổi trẻ dấn thân phục vụ chia sẻ với những mãnh đời bất hạnh, con tim của các vị trong Ban Hoằng phải luôn đồng nhịp đập với hàng triệu trái tim vì tình thương làm hạnh phúc cho đời.

II. Thuyết giảng:

Để theo kịp trào lưu thúc dục của xã hội, nhu cầu hoằng truyền Phật pháp của thời đại trong giai đoạn toàn cầu đòi hỏi một vị tăng Hoằng pháp phải có một kiến thức phong phú đa dạng, “đưa đạo và đời quang rạng thiền môn”. Ban Hoằng pháp phải thiết lập được các cơ sở Tự Viện chia làm các đạo tràng, giảng dạy mỗi tuần, hoặc tu bát quan trai, niệm Phật, lớp giáo lý cho thanh thiếu niên Phật tử và trẻ em. Thông thường Ban Hoằng pháp chúng ta liên tưởng đến đàn tràng… cho đến tổ chức ngày đản sanh của đức Phật hay một ngày lễ hội nào của Phật giáo đều phải có nghi lễ long trọng  và phải có thuyết giảng cùng những nội dung diễn đạt được hoàn mỹ hơn. Ngoài ra, chính nhờ thuyết giảng mà mỗi hệ phái Phật giáo mọi miền có một sắc thái riêng biệt, một sắc thái rất đặc thù nào đó. Có thể nói, chính những sắc thái riêng biệt đặc thù trong Hoằng pháp mà mỗi hệ phái đã góp phần làm cho bản sắc văn hóa của Phật giáo Việt Nam càng phong phú đa dạng hơn. Như Phật giáo Nam tông với những bài kinh Pali làm bài thuyết pháp trầm hùng, làm cho ta chuyển hóa được những ưu tư phiền muộn của cuộc đời, lắng hồn vào cõi giới siêu thoát trầm bổng có chút hiền hòa mộc mạc làm cho chúng ta mở lòng ra, gần gũi và yêu thương ta hơn.

III. Hoằng pháp tương lai:

Có khi nào chúng ta tự hỏi: “Hành trang để tăng ni trẻ chúng ta bước vào con đường Hoằng pháp, lợi lạc quần sanh là gì? Bằng cấp học vị ở thế gian ư?

Thưa không, những điều  này chưa phải là cứu cánh của người xuất gia, người xuất gia trẻ trong thời đại này phải trang bị cho mình đức hạnh trang nghiêm. Vì rằng:

“Hương các loài hoa thơm

Không bay ngược chiều gió

Hương người ức hạnh đó

Ngược gió khắp muôn phương”

Đúng vậy, đức hạnh là một tính cách cao đẹp, không hề bị chi phối biến hoại dù thời gian vô cùng, không gian vô tận, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Muốn đức hạnh thì giới hạnh phải trang nghiêm, giới hạnh nghiêm túc thì đức hạnh sáng ngời. Chỉ có Giới luật mới tạo nên đức hạnh

Của người tu, mới xây dựng được một “Thiên nhơn chi đạo sư”, một tăng ni trẻ năng động nhưng tài đức toàn diện. Trong xã hội tiến bộ này, Tăng ni trẻ chúng ta phải có nền tảng giới luật vững chắ, còn phải mẫu mực về đạo đức, trình độ Phật pháp vững vàng. Bên cạnh đó cũng cần trau dồi kiến thức thế học, dù không phải cứu cánh nhưng là phương tiện cần thiết để phục vụ cho con đường hoằng dương chánh pháp và để ứng xử thỏa đáng với mọi căn cơ trình độ của chúng sanh, nhất là trong gia đoạn này, tầng lớp trí thức đến để học hỏi nghiên cứu Phật pháp ngày càng nhiều. Nhưng chúng ta luôn phải tâm niệm rằng: “kiến thức thế gian cần nhưng chưa đủ, nó không giúp chúng ta giải thoát khổ đau”. Chỉ khi nào chúng ta thực hành giáo huấn của Như Lai, khi đó ta mới có trí tuệ sáng suốt để thẩm định lại kiến thức nào của thế gian có thể sử dụng được.

Nói tóm lại, điều quan trọng nhất của người tu sĩ Hoằng pháp là gạn lọc thân tâm, tấn tu tam vô lậu học. Như lời của một giáo thọ sư đã dạy: “Chúng ta phải lấy danh từ “Tu Sĩ” trùm lên tất cả các sĩ khác như: Tiến sĩ, Thạc sĩ,… tất cả các học vị, bằng cấp thế gian, được như vậy mới mong đem lại an lạc hạnh phúc cho chính mình và tha nhân.

IV.  Nhiệm vụ Hoằng pháp:

“Hoằng truyền chánh pháp, lợi lạc quần sanh, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”. Đây là trách nhiệm và bổn phận chung của mỗi sứ giả Như Lai để báo ơn Phật trong muôn một.

Vậy Tăng ni trẻ chúng ta làm cách nào để thực hiện bổn phận thiêng liêng cao đẹp đó, khi chúng ta vẫn còn là những học Tăng, học ni,  đá cứng chân mềm? Hoằng pháp bằng cách nào? Làm thế nào để trở thành một vị pháp sư ngồi trên pháp tòa để giảng kinh thuyết pháp? Đây là một cách hoằng pháp thiết thực và lợi ích nhất, nhưng không ai cũng đủ trình độ và cơ duyên để làm được như vậy. Điều đó thấy rõ hàng năm Giáo hội đào tạo hàng trăm, thậm chí hàng ngàn Tăng ni tốt nghiệp các lớp giảng sư, học viện, cao đẳng,…  nhưng ra làm giảng sư thật sự được mấy vị? Nói vậy, không phải để chúng ta bi quan và cho rằng việc Hoằng pháp chỉ dành cho các bậc tôn túc, các vị tài năng còn mình thì không thể kham nổi.

Con đường truyền thừa không nhất thiết là đợi đến khi làm giảng sư, mà ngay trong cuộc sống hàng ngày, từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo. Chúng ta có thể đem đạo Phật đến cho mọi người bằng nhiều hình thức, nhất là trong thời đại hội nhập này Tăng ni trẻ tham gia hoạt động xã hội nhều, có nhiều cơ hội tiếp xúc với tầng lớp tri thức trẻ, đây là đối tượng quan trọng nhất cho sự hưng vong của xã hội trong thời đại mà đạo đức con người ngày một suy đôi. Một chướng duyên lớn cho con đường hoằng pháp của tăng ni trẻ là thường có tâm lý “không đất dụng võ”. Đây là một thực tế do hay chúng ta được tu học trong một môi trường quá thuận lợi về mọi phương diện, để rồi chúng ta học hết lớp này đến lớp khác, đến khi không còn gì để học thì chúng ta không biết làm gì cả. Ai thắc mắc thì chúng ta trả lời: “không ai cho chúng tôi cơ hội phục vụ hay chúng tôi không có đất dụng võ”. Thực ra thì một số tăng ni trẻ chúng ta ngại khó khăn và không có tinh thần hay nói rõ hơn là đói pháp.

Một lần nữa, chúng ta cần khẳng định lại vai trò của tăng ni trẻ trong thời hiện đại, phải là một người thầy mô phạm, có đầy đủ giới hạnh đạo đức của một bậc chân tu. Làm thế nào để “hương đức hạnh tỏa ngát muôn phương”, khiến mọi người đều qui kính.

“Tâm tham mang tám y vàng

Giới nghi nghiêm khắc đáng hàng sa môn”

Để Hoằng pháp có tính đặc trưng chuyên môn cao, để tiện việc biên soạn tài liệu giảng dạy đạt hiệu quả tối ưu, thiết nghĩ cần phải được sự hổ trợ của chư vị tôn túc giáo phẩm cũng như các giới chuyên môn, bậc cao tăng thạc đức không giới hạn trong Ban Hoằng pháp. Muốn một pháp sự đạt hiệu quả cao nhất, tức là sự lý phải viên dung, ví như thực hiện một khoa nghi nào đó, chúng phải biết tại sao phải làm những việc như thế? Và làm những việc như thế để biểu thị ý nghĩa gì? Nếu người Hoằng pháp sự lý đều thông suốt, tất thành tựu sẽ đạt được cao hơn.

Trải qua thời gian trên 30 năm thống nhất Phật giáo Việt Nam đã có những bước dày và phát triển, có những điều đã làm được, chưa làm và có  những điều làm chưa xong. Trong đó, Hoằng pháp là trọng tâm của người con Phật , vì vậy trong hội thảo chuyên ngành Ban Hoằng pháp hôm nay, chúng tôi xin được góp một vài thiển ý, kính mong chư tôn đức các miền, các hệ phái hoan hỷ ngồi lại, cùng nhìn về một hướng, thiết nghĩ không khó khăn nào không vượt qua, không Phật sự nào không thành tựu.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online