Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Ý ngĩa lễ hội Vu Lan (ĐĐ Thích Minh Lành)
Ý ngĩa lễ hội Vu Lan (ĐĐ Thích Minh Lành) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
15/08/2011

Ý NGHĨA LỄ HỘI VU LAN

* Đại đức Thích Minh Lành

Phó Trưởng ban TT Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu

Vu Lan là một lễ hội lớn của Phật giáo, đặt trên nền tảng giáo dục của nhà Phật, xây dựng con người có phẩm chất cao đẹp, phẩm chất nầy rất thích hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, vì vậy Vu Lan cũng vừa là một lễ hội dân gian rất phổ cập ở Việt Nam, đó chính là ngày rằm tháng bảy âm lịch. Lễ hội này đượm sắc thái tín ngưỡng của đạo Phật và dân tộc, mang nhiều ý nghĩa quan trọng, như: Ngày Chư Phật hoan hỷ, ngày Chư Tăng tự tứ, ngày Chư Tăng thọ tuế, ngày xá tội vong nhân, ngày báo hiếu... Lễ hội Vu Lan càng lúc càng phát triển, không dừng lại ở lãnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, mà có mặt cả trong văn hóa của dân tộc qua ca dao, tục ngữ, truyện, thơ và các bộ môn sân khấu, nghệ thuật tranh họa, kiến trúc, tạo hình.

          Vu Lan có bốn ý nghĩa:

          1. Thứ nhất là ngày Phật hoan hỷ: Bởi lẽ trong chúng xuất gia thì hàng Tỳ Kheo là bậc mô phạm, thay Phật hoằng truyền chánh pháp, hóa độ chúng sanh, vì vậy mỗi năm phải an cư kiết hạ ba tháng, từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy để trau dồi giới đức, tấn tu đạo nghiệp, làm hành trang trên bước đường tự giác, giác tha. Cho nên sau khi viên mãn ba tháng an cư, Đức Phật rất hoan hỷ vì thấy đệ tử tròn đầy giới đức sau những ngày tịnh tu đạo nghiệp, mới gọi là ngày Phật hoan hỷ.

          2. Thứ hai là ngày Chư Tăng tự tứ: Nghĩa là trong ba tháng an cư, tuy rằng chúng Tăng luôn tấn đạo nghiêm thân, nhưng vẫn còn nghi không tránh khỏi lỗi lầm dù trong ý niệm. Vì vậy, ngày rằm tháng bảy thành tâm chí thiết cầu bậc thanh tịnh chỉ cho lỗi lầm, phát lồ sám hối cho tam nghiệp chướng thân tâm thanh tịnh. Đây là việc làm cao đẹp nhất của ý nghĩa tự tứ, vì thể hiện được tánh khiêm cung, bẽ dẹp được lòng ngã mạn, hạ mình cầu xin người chỉ lỗi. Hạnh nầy người thế gian mấy ai làm được.

          3. Thứ ba là Chư Tăng thọ tuế: Theo luật Phật hàng Tỳ Kheo tính tuổi theo hạ lạp. Nghĩa là sau ba tháng an cư được thọ một tuổi đạo. Nếu không an cư thì không được tính tuổi Đạo dầu rằng trãi qua một năm của thế gian. Vì vậy, niên cao không sánh bằng lạp trưởng, mà phải căn cứ vào hạ lạp. Hạ lạp được tính vào ngày rằm tự tứ. Như vậy, chúng ta thấy Đạo Phật tính giá trị con người không dựa theo năm dài tháng rộng, niên cao tác lớn, mà nhắm vào sự tu tập giác ngộ tự thân.

          4. Thứ tư là ngày Vu Lan xá tội vong nhân: Tuy rằm tháng bảy có nhiều ý nghĩa nhưng ảnh hưởng đến truyền thống của dân tộc chủ yếu nhất là ngày xá tội vong nhân. Vì ngày đó gợi lên mùa báo hiếu, báo ân của những người con luôn ngưỡng vọng đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ.

          Theo chữ Hán, Vu Lan được dịch là “Giải Đão Huyền” nghĩa là giải cái tội bị treo ngược. Ý nói rằng Lễ Vu Lan là ngày cầu siêu, hóa độ tiên linh quá cố của người hiện tiền bị thọ báo nơi địa ngục, chịu sự hành hạ thống khổ cùng cực như người bị treo ngược. Nghĩa bóng là giải cái tội tham lam, bất hiếu của người sinh tiền và người quá vãng. Tức là làm cái hạnh ngược lại với xan tham bất hiếu. Vì thiết lễ cúng dường trai tăng, đó là lấy bố thí độ xan tham, còn tri ân, niệm ân, báo ân là độ vong ân, bội ân, bất hiếu.

Lễ nầy bắt nguồn từ Ngài Mục Kiền Liên cứu tội cho vong mẫu Thanh Đề. Bởi lúc còn sống cũng như đã chết, lòng bỏn xẽn vẫn ghìm chặt lấy tâm thức của bà. Do đó, bị nghiệp ác chiêu cảm, không ảnh hưởng được công đức tu hành đắc quả A La Hán của con dầu chỉ một bát cơm. Ngài Mục Kiền Liên phải thỉnh mười phương Tăng thanh tịnh thiết lễ cúng dường, nhờ oai lực chú nguyện của Chư Tăng sau ba tháng an cư kiết hạ mới chuyển hóa, siêu độ tâm bỏn xẽn nghiệp chướng của bà. Như vậy, chúng ta thấy từ một tâm thanh tịnh hòa quyện tạo thành một sức mạnh vô hình, tác động vào tâm thức của người hiện tiền được tăng thêm phước thọ, người quá vãng thì tiêu trừ tội chướng thoát khỏi u đồ. Như vậy, Lễ Vu Lan không riêng chỉ quan trọng cho giới Phật tử mà còn là truyền thống đặt thù của dân tộc Việt Nam. Ngày cao đẹp nhất của những người con biết hướng về cội nguồn xa xưa. Bởi vì, mỗi người con được sinh ra đều từ huyết thống Ông Bà Cha Mẹ, thân trước truyền cho thân sau. Máu còn thắm nhịp tim còn đập là chúng ta còn nhớ những ân đức cao dày đó. Nhất là ân đức của cha mẹ không lấy gì đong, đếm, lo lường được. Cho nên ca dao Việt Nam phải mượn biểu tượng núi Thái sơn cao vời vợi và nước trong nguồn chảy không vơi để ví ân đức của cha mẹ. Bởi cha mẹ một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Nước mắt mồ hôi đã hòa vào ruộng đồng, dòng sông lạch nước, liếp cải bờ rau để nuôi con khôn lớn mà không một lời than van. Cha mẹ ở thị thành thì bị chủ thầy gò ép, phải chịu đựng đắng cay để nuôi con ăn học.

Khi lớn khôn cha mẹ dắt con vào đời, chấp nhận gian truân cay đắng để chở che, hy sinh tất cả vì con, vui trong niềm vui của con và khổ khi thấy con mình khổ. Nếu nói nghĩa mẹ ân cha thì “ Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân Kinh” cho chúng ta thấy, cha mẹ đã chăm chút tình thương cho con mình từ lúc mới tượng hình và tiếp tục đến ngày con khôn lớn, nhưng tình thương yêu đó không dừng lại bởi người con trưởng thành mà cha mẹ chín mươi vẫn thương con bảy mươi. Có thể nói không có giấy mực nào tả hết công ơn của cha mẹ, nên tiền nhân phải mượn núi cao, bể rộng để so sánh nhắc nhở.

Ý vị bài ca dao đó như nhắc nhở phận làm con phải biết ơn, nhớ ơn và đền ơn, tức là báo hiếu. Vậy chúng ta phải báo hiếu như thế nào? Báo hiếu thì có hai phương diện vật chất và tinh thần. Báo hiếu về vật chất là khi cha mẹ còn sinh tiền thì không cãi lời cha mẹ, phải săn sóc cung phụng đầy đủ những nhu cầu trong cuộc sống. Phát triển cơ ngơi sự nghiệp tài năng làm rạng danh dòng họ. Tang chế giỗ quải linh đình khi cha mẹ qua đời. Nhưng sự lo lắng nầy phải xuất phát từ đáy lòng của người con hiếu thảo, đó mới thực là ngọn lửa sưởi ấm lòng cha mẹ lúc về già, được an vui trong những tháng ngày còn lại. Trong thực tế có những gia đình con cái giàu có mà nhưng cha mẹ rất buồn tủi đắng cay. Tuy có món ngon vật lạ, nhưng phải nhận những tình cảm lạnh nhạt, thái độ khinh nhờn của con cái! Họ nuôi cha mẹ coi như việc làm bố thí. Nếu đánh đổi lấy cuộc sống đạm bạc, nhưng tràn đầy tình thương hiếu thảo thì bất cứ ai cũng sẵn sàng. Cho nên có rất nhiều cha mẹ không ở với con cái khá giả mà lại ở với đứa nghèo thiếu. Vì ở nơi đó cha mẹ cảm nhận được tình thương ấm áp do lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà cha mẹ.

Thật ra, vật chất không phải là yếu tố duy nhất để báo hiếu mà phải kèm theo một tấm lòng yêu cha mến mẹ thật sự. Tạo được sự an vui về tinh thần cho nên cha mẹ. Ở điểm nầy, chúng ta thấy Đức Phật dạy cách báo hiếu về mặt tinh thần, là hướng dẫn cha mẹ kính tín quy ngưỡng Tam Bảo, gần gũi thiện tri thức, giác ngộ được lời Phật dạy, phát tâm sống đúng theo chánh pháp. Tam Bảo giúp cho họ nhận ra những việc làm cần thiết cho quãng đời còn lại. Thấy được giá trị của cuộc sống, không còn mặc cảm của tuổi già, tâm hồn an vui thanh thản. Hiện tại thanh thản thì ngày mai nhẹ nhàng. Vì việc làm hiện tại là chất liệu cho tương lai. Đó cũng là hành trang cho việc tái sanh sau khi mãn phần. Để tạo thắng duyên cho cha mẹ sau khi qua đời, chúng ta làm bất cứ điều thiện gì hồi hướng cho thân trung ấm. Gợi người nhớ những việc thiện đã làm, thần thức nghĩ nhớ được như vậy chắc chắn tái sanh về cõi thiện. Theo lời Phật dạy pháp tối cao là chúng ta thiết lễ cúng dường Chư Tăng thanh tịnh, nhờ các Ngài hồi hướng công đức cho thân trung ấm dễ xả bỏ được ác nghiệp, tái sanh về thế giới tốt đẹp.

Ngoài ra việc báo đáp thâm ân cũng không dừng lại ở đời nầy. Bởi dòng sanh tử đã trãi qua nhiều kiếp, thì chúng ta cũng thọ lãnh ân đức của rất nhiều cha mẹ, gọi là “thất thế phụ mẫu.” Phật dạy nếu cha mẹ bảy đời quá vãng bị đọa chốn u đồ hoặc sinh về cõi nhơn thiên cũng nhờ công đức nầy mà thoát khỏi cảnh lầm than, người đã tái sanh thì hưởng được phước báo lợi lạc. Ngoài việc báo hiếu cho kẻ còn người mất trong lục thân quyến thuộc, chúng ta còn nghe âm ba da diết của văn tế siêu độ cho thập loại cô hồn.

Ý nghĩa về Vu Lan rất quan trọng trong truyền thống của Phật giáo cũng như dân tộc Việt Nam. Đối với Phật giáo thì ngày Lễ Vu Lan là cái ngoặc thời gian để xác định được sự tu tập, giá trị đạo đức của người xuất gia, được cụ thể qua nhiều ý nghĩa như ngày Chư Phật hoan hỷ, Chư Tăng tự tứ, Chư Tăng thêm tuổi đạo, còn ngày Vu Lan xá tội vọng nhân đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Nó được hình thành bằng chất liệu của tình thương, một loại chất liệu mọi người đều có; hẹp thì từ gia đình, rộng thì xã hội, rộng hơn nữa thì cả cộng đồng nhân loại, đâu đâu cũng có tình thương. Chính tình thương nầy làm động cơ thúc đẩy những người con biết ơn, báo hiếu. Nhờ vậy truyền thống nầy duy trì từ đời nầy sang đời nầy sang đời khác. Nó ăn sâu vào tầng lớp của quần chúng như một mạch sống, một đạo lý, một món ăn tinh thần. Có lẽ vì vạy, nên lễ Vu Lan càng ngày càng phát triển hơn.

Vậy thời đại chúng ta phải báo hiếu như thế nào? Chúng ta biết hiếu không phải lời nói suông, mà cụ thể qua tình thương chân thật, như người có phước còn cha mẹ bên cạnh, thì phải trân trọng giữ gìn tình thiêng liêng cao quý đó. Phải vun bồi chăm sóc tâm hiếu, hạnh hiếu đúng pháp Phật dạy, để tạo một gia đình phước đức đầm ấm. Nếu như cha mẹ đã khuất bóng, thì hãy nổ lực tu hành, tạo nhiều công đức hồi hướng cho cha mẹ thoát khỏi nghiệp ác. Người đã tái sanh hưởng được phước báo thù thắng. Đối với hàng xuất gia chỉ có con đường duy nhất là tu hành đắc đạo mới có khả năng báo hiếu trọn vẹn, đem đến lợi ích lâu dài cho mọi người. Được vậy chúng ta sẽ không hổ thẹn khi nhắc nhở tâm hiếu, hạnh hiếu cho người khác nghe, và có như vậy mới đủ sức mang ánh sáng niềm tin của ngày Vu Lan Thắng Hội đi vào cuộc đời.

Cập nhật ( 15/08/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online