Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow C.Nghệ T.Tin arrow Hướng dẫn sử dụng phần mềm Cakewalk pro 9 (Nguyễn Thành Luân)
Hướng dẫn sử dụng phần mềm Cakewalk pro 9 (Nguyễn Thành Luân) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
13/09/2011

Hướng dẫn sử dụng phần mềm Cakewalk pro 9

* Nguyễn Thành Luân

Phần 1: Làm quen với phần mềm Cakewalk pro 9

I. Giao diện chính

II. Cửa sổ làm việc

Phần 2: Một số chức năng thường dùng

I. Các thao tác cơ bản trên Cakewalk

II. Một số thanh công cụ thường dùng

III. Một số thao tác cần thiết xử lý track Audio

IV. Một số thao tác cần thiết xử lý track Midi

V. Giới thiệu sơ lược các trình đơn chính

Phần 1: Làm quen với phần mềm Cakewalk Pro 9

Cakewalk là một phần mềm xử lý nhạc chuyên nghiệp (sequencer), chạy trên nền hệ điều hành Windows được kế thừa và trang bị các công cụ giản tiện để hỗ trợ cho việc xử lý nhạc. Các tính năng có trong Cakewalk rất tương tự như những phần mềm soạn thảo văn bản thông dụng, từ việc đánh dấu một đoạn đối tượng cần thao tác cho đến việc cắt dán các đoạn đối tượng đó giúp cho Cakewalk trở thành một môi trường làm việc chuyên nghiệp và phổ biến (Các phiên bản mới nhất hiện nay của Cakewalk là Cakewalk Pro Audio 9, Sonar và Cakewalk 2002). Trên tinh thần giúp người sử dụng làm quen với Cakewalk nên trong tập tài liệu này tôi chỉ trình bày ngắn gọn các chức năng cơ bản mang tính tra cứu.

I. Giao diện chính

Tương tự như những chương trình ứng dụng khác chạy trên nền Windows, cửa sổ Cakewalk cũng có các nút Minimize window (thu nhỏ cửa sổ).

1. Các trình đơn

Khi di chuyển chuột đến một trong các dòng chữ trên trình đơn thì tại vị trí dòng chữ đó sẽ đổi thành hình nút bấm. Khi bấm trái chuột, các chức năng trong đó sẽ hiện lên dưới dạng một danh sách, ta có thể di chuyển chuột lên xuống hoặc bấm phím mũi tên để di chuyển thanh sáng lựa chọn rồi bấm phím ENTER để xác nhận. Có thể kích hoạt trình đơn bằng cách bấm phím Alt hoặc tổ hợp phím Alt và một ký tự có gạch chân để mở trình đơn đó (Ví dụ trình đơn Realtime gạch chân chữ R, ta bấm Alt R thì trình đơn này sẽ được kích hoạt). Phần lớn các chức năng (funtion) trong nhiều phần mềm chạy trên nền Windows được tìm thấy trong trình đơn (menu), chúng được liệt kê theo dạng đề mục và bên cạnh mỗi dòng chữ gợi nhớ tính năng đều có ghi phím tắc để người sử dụng có thể gọi trực tiếp đến chức năng mong muốn mà không cần mất thời gian vào trình đơn. Ví dụ : chức năng play trong trình đơn realtime có ghi phím tắc sapce, ta chỉ việc bấm phím space để gọi nó.

2. Thanh công cụ

Song song với việc dùng phím tắc để gọi các chức năng của phần mềm, ta cũng có thể dùng chuột để gọi nhanh chức năng đó thông qua các thanh công cụ. Thanh công cụ có thể hiểu là một tập hợp các nút bấm mà các nút bấm mà mỗi nút bấm đó tương ứng với một chức năng đó. Ta thấy trước một thanh công cụ thường có hai đường sọc đứng, khi bấm giữ trái và di chuyển chuột thì thanh công cụ này sẽ thay đổi vị trí trong cửa sổ chính. Nếu đặt nó ngoài vùng công cụ thì thanh công cụ này sẽ trở thành một cửa sổ nhỏ. Để thêm hoặc bỏ bớt một thanh công cụ nào đó ta bấm phải chuột vào vùng thanh công cụ và lựa chọn trong danh sách được hiển thị sau đó.

II. Cửa sổ làm việc

Cakewalk có rất nhiều cửa sổ con mà cửa sổ làm việc là một trong những cửa sổ con thường dùng nhất. Nó liệt kê tất cả các thông tin về track như volume, thuộc tính track (audio hay Midi), ***ồn tín hiệu vào, đường tín hiệu ra trên sound card.. Mỗi hàng trong cửa sổ làm việc ứng với một track. Cakewalk có tất cả 256 track xếp theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Để xem các track có chỉ số lớn hơn ta dùng chuột kéo thanh cuộn đứng bên phải.

1. Vùng thông tin track

Vùng ghi thông tin track bao gồm các cột : chỉ số thứ tự track, name, M, S, R, source, key+, vel+, time+, port, effect, chn, bank, patch, vol, pan, size. Bên dưới có thanh cuộn ngang để người sử dụng có thể xem các cột bị khuất. Ta có thể dùng chuột gắp thả để thay đổi trật tự các cột này theo ý muốn.

- Name: đặt tên cho track để dễ theo dõi trong quá trình thu và mix.

- M: mute - tắt âm thanh đang phát trên track đó. Bấm trái chuột để chọn hoặc bỏ chọn.

- S: solo-chỉ phát âm thanh trên track có đánh dấu S. Bấm trái chuột để chọn hoặc bỏ chọn

- R: record-thu tín hiệu vào track, thu track có thể là MIDI hoặc audio. Bấm trái chuột đ ể chọn hoặc bỏ chọn

- Source: chọn ***ồn tín hiệu thu vào từ các đường trên sound card hoặc các đường MIDI

- Port: chọn đường xuất hiện trên sound card

- Effect: nối các effect vào track

- Chn: chanel-kênh MIDI, từ 1 đến 16

- Vol: volume-tăng giảm âm lượng track ứng với các giá trị t ừ 0 đ ến 127

- Pan: chọn phát left hay right, 64: cân bằng left-right, 0: phát bên left, 127: phát bên right

- Patch: chọn tiếng phát trên Midi track khi dùng bộ tiếng phần cứng bên ngoài.

- Key: tăng giảm cung cho track Midi.

- Vel: mức độ mạnh nhẹ của track Midi

Chú ý: khi sửa đổi các giá trị trên những cột Vol, Key, Vel thì tất cả các nốt nhạc trên track sẽ tăng (hay giảm) giá trị theo giá trị nhập vào và nó chỉ tác dụng nết phát từ đầu track.

2. Vùng ghi track

Ở góc dưới vùng ghi track có các nút phóng to,thu nhỏ track theo chiều ngang và chiều dọc. Bên trên là thước đo thời gian bản nhạc, trên thước này ta có thể dùng chuột tô một đoạn bất kỳ để chọn đoạn đánh dấu track. Ví dụ dùng chuột đánh dấu đoạn từ 3 đến 6 thì khi bấm trái chuột vào bất kỳ một track nào thì đoạn tương ứng trên track đó sẽ được đánh dấu. Trong vùng ghi track còn hiển thị con trỏ dưới dạng một đường kẻ đứng, nó cho biết một đoạn nhạc trên track đang được truy xuất đến. Ta cũng có thể đặt con trỏ này ở bất kỳ nơi nào trong vùng ghi track bằng cách bấm trái chuột lên thước đo bên trên

Phần 2: Một số chức năng thường dùng

I. Các thao tác cơ bản trên Cakewalk

Phần lớn các môi trường chạy trên nền hệ điều hành windows đều tuân theo một số chuẩn chung, các tính năng được “giấu” trong các trình đơn hay các biểu tượng trên thanh công cụ và khi kích hoạt chúng sẽ được trình bày trong những hộp thoại (dialogbox). Cakewalk trang bị cho ta những khả năng thao tác giản tiện và hiệu quả trong các thao tác xử lý âm thanh. Bên cạnh đó chương trình giúp đỡ (help) và các file video kèm theo trong đĩa cài đặt. Cakewalk sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho người sử dụng trong việc tra cứu các tính năng cần thiết.
- Đặt chuột vào track cần đánh dấu tại vị trí bắt đầu mà ta muốn đánh dấu, kết hợp phím Alt và giữ trái chuột rồi kéo đến vị trí mới.

Chú ý: Ở góc dưới bên phải cửa sổ làm việc có nút (vẽ nút trong sách vào) (Snap to grid). Khi lún nó có các tác dụng đặt con trỏ hiện hành đúng khuôn (đúng vào vị trí đầu các ô nhịp - bấm phải chuột để thay đổi thuộc tính), do đó nếu muốn đánh một đoạn bất kỳ không chẵn ô nhịp ta phải bật nút này lên.

1. Đánh dấu nhiều track cùng lúc

Kết hợp phím Shift hoặc Ctrl trên bàn phím và bấm trái chuột vào chỉ số track mà ta muốn đánh dấu. Hoặc nếu các track cần đánh dấu nằm liên tiếp trên cửa sổ làm việc ta có thể bấm và giữ trái chuột vào chỉ số track đầu sau đó kéo xuống các track liền sau.

Việc đánh dấu nhiều track cùng lúc giúp người sử dụng có thể thay đổi thông số cho tất cả các track đó một cách dễ dàng. chức năng này thường dùng cho fiel Midi khi muốn tăng hoặc giảm cung cho toàn bài.

2. Copy một đoạn track

Để copy một đoạn track trước hết ta đánh dấu đoạn đó như trên đã trình bày, tiếp theo vào menu edit chọn copy, bấm trái chuột vào chỉ số của track cần copy đến, lại vào menu edit và chọn paste. Khi đó tại vị trí con trỏ hiện hành trên track mới ta sẽ thấy xuất hiện đoạn track đã được copy.

Cách khác: sau khi đánh dấu đoạn track xong ta kết hợp phím Ctrl và bấm trái chuột vào đoạn track đã đánh dấu và kéo đến track mới.
Ngoài ra ta cũng có thể dùng tổ hợp phím Ctrl-C để copy, Ctrl-V để dán, Ctrl-X để cắt bỏ đoạn track nào đó tương tự như những môi trường soạn thảo văn bản đã biết.

3. Xóa bỏ một đoạn track

Để xóa bỏ ta đánh dấu đoạn track đó, bấm phím delêt (Del) trên bàn phím. Chú ý: việc xóa bỏ một đoạn bằng phím sẽ không làm những phần còn lại dồn lên (nếu ta dùng phím Del). Trên đây là hình ảnh trước và sau khi xóa một đoạn track bằng phím Del .

          II. Một số thanh công cụ thường dùng

          1. Thanh công cụ Select

          Dùng để xác định đoạn track cần đánh dấu trong đó có hai nút bấm ở hai bên sẽ xác định vị trí bắt đầu và kết thúc, phím của hai nút này là F9 và F10. Ta cũng có thể nhập trực tiếp giá trị thời gian vào mỗi ô thời gian, sau đó bấm trái chuột vào track cần đánh dấu trên mỗi chỉ số track. Trong quá trình phát lại (playback) để nghe và kiểm tra những lỗi sai trên track đã thu, vận hành viên sẽ cảm thấy phát sinh nhu cầu đánh dấu để có cách “đối xử” riêng với phần sai đó, thanh công cụ select lúc này sẽ phát huy tác dụng của nó nhờ phím tắc và trở thành một thế mạnh trong việc sử dụng phần mềm. Bạn hãy thử xem!

2.Thanh công cụ View

Thanh công cụ này cho phép ta mở thêm các cửa sổ con để xem và sửa đổi những thông tin khác ngoài dạng tín hiệu trên track audio và track Midi. Mỗi nút trên thanh công cụ này sẽ ứng với một cửa sổ con. Trong mỗi cửa sổ con này lại có những nút chức năng phục vụ cho riêng cửa sổ con đó… Piano roll view : hiển thị bàn phím piano trên đó có các nốt nhạc và trường độ nốt tương ứng với track Midi hiện hành. Ta có thể thay đổi nốt nhạc bằng cách bấm và giữ trái chuột vào nốt đó rồi đặt nó đến vị trí mới, hoặc để thay đổi trường độ nốt ta đặt chuột vào vị trí đầu hoặc cuối nốt nhạc rồi kéo dài nốt đó ra. Khi dùng chuột mở rộng cửa sổ này về phía trên, bên dưới sẽ là vùng để ta tạo effect cho nốt bằng bút vẽ … Event list : hiển thị thông tin track hiện hành. Cửa sổ này cho ta biết thông tin về nốt hiện hành như : chỉ số track (Trk), ô nhịp của nốt (MBT), thời gian (HMSF), kênh Midi (Chn), chủng loại nốt (Kind), dữ liệu nốt (Data : đô, rê, mi …), mức độ mạnh nhẹ và âm lượng nốt. Cửa sổ này là một trong những hình thức sửa đổi dữ liệu nốt nhạc bằng con số cụ thể, tùy nhu cầu sửa đổi mà ta sẽ insert (chèn) hoặc delete (xóa bỏ) các lệnh điều khiển tương ứng, chẳng hạn như volume, pan, velocite… Khi sửa dụng insert lệnh điều khiển cần chú ý những điểm sau:

- Nếu phát từ đầu track thì trước tiên Cakewalk sẽ đọc lệnh ở những cột pan, vol, vel… và thực hiện lệnh đó với những giá trị đã nhập, giá trị đó có tác dụng cho đến khi con trỏ hiện hành đọc đến nốt nhạc có insert lệnh mới.

- Nếu phát giữa đoạn track thì Cakewalk không đọc lại các giá trị trong những cột nêu trên mà chỉ đọc lệnh tại nốt có insert lệnh mới mà thôi.

- Khi quan sát trên những track Midi có insert lệnh ta sẽ thấy có những đường vạch thẳng đứng, dạng hiển thị rất khác thường so với track không insert lệnh. Nếu muốn bỏ những dòng insert này ta phải chọn track rồi mở cửa sổ event list và bấm phím delete tại những dòng lệnh muốn bỏ… Staff view : hiển thị nốt và khuôn nhạc trong các track Midi được đánh dấu. Ta có thể xem, sửa đổi, hay tạo ra một track nhạc nào đó… Audio view : xem dạng tín hiệu audio trên track được đánh dấu. Trong cửa sổ mới này, người sử dụng có thể thay đổi nội dung đoạn track như: cắt, dán, copy, làm nhỏ dần hay lớn dần một đoạn bất kỳ.

1. Thanh công cụ Loop

Đặt vòng lặp (phát lặp đi lặp lại) cho một đoạn nhạc bằng cách tô đen đoạn đó rồi bấm nút “Select loop to selection”. Ta cũng có thể chọn đoạn lặp bằng cách nhập trực tiếp đoạn thời gian bắt đầu và kết thúc vào ô thời gian “Loop From” và “Loop Thru”. Để bỏ chế độ lặp vòng ta nhấn nút Loop On/Off.
Để thay đổi vị trí các điểm đánh dấu lặp vòng, dùng chuột kéo các hình lá cờ trên thước đo thời gian hoặc nhập lại giá trị thời gian như trên đã trình bày. Vòng lặp này rất tiện lợi trong việc nối các effect vào track audio để vừa nghe vừa điều chỉnh thông số hoặc ứng dụng vào quá trình thu liên tiếp các track Midi. Để diễn giải dễ hiều hơn cho chức năng này, người viết xin nêu ra đây một ví dụ cụ thể:

Thu Midi 4 ô nhịp tiếng trống trong đó track 1 cho kit, track 2 caster, track 3 trống tom, track 4 cimbal… ta tiến hành như sau:

- Đánh dấu 4 ô nhịp liên tiếp trên thước đo thời gian.
          - Đặt vòng lặp bằng cách bấm nút “select loop to selection” trên thanh công cụ loop.

- Vào menu option/global/general đánh dấu vào mục “Allow MIDI Recording whithout an Armed Track”, lúc này nút record trên thanh công cụ transport sẽ thường xuyên bật sáng và nó cho phép ta thu MIDI liên tục lên các track.

- Chọn tiếng, port… cho mỗi track. Bấm chuột vào chỉ số track của track đầu tiên cần thu rồi bấm nút record hay phím tắc R để bắt đầu thu. Khi đó con trỏ trên cửa sổ làm việc sẽ chạy từ vị trí đánh dấu bắt đầu của vòng lặp đến vị trí cuối. Và quá trình di chuyển đó cũng là lúc nó tiến hành thu trên mà ta đã click vào chỉ số track.

- Khi con trỏ quay trở về vị trí đầu có nghĩa là nó đã thu xong track thứ nhất, ta bấm phím mũi tên xuống trên bàn phím để chọn thu qua track tiếp theo. Quá trình cứ thế cho đến hết.

2. Thanh công cụ Record

Thanh công cụ này sẽ xác lập chế độ thu track như: sound on sound-thu phủ lên trên track đang có với lần thu sau không xóa mất lần thu trước, overwrite-thu đè và thay thế lên đoạn track đang có như cách thu băng cassette, auto punch-chỉ thu một đoạn có đánh dấu theo trình tự sau:

- Punch in time: nhập thời gian bắt đầu của đoạn đánh dấu.

- Punch out time: nhập thời gian kết thúc của đoạn đánh dấu.

- Set punch to selection: nếu trên thước đo thời gian đã xác định một đoạn đánh dấu (đánh dấu đầu và cuối) thì khi bấm nút này Cakewalk sẽ tự động đặt chế độ thu “auto punch” theo đúng đoạn đã chọn. Chế độ thu auto punch cho phép người vận hành phòng thu chỉ thu đúng đoạn đã đánh dấu cho dù trước và sau đó ca sĩ vẫn hát bình thường.

- Ứng dụng này rất tiện lợi cho việc sửa câu khi mà dữ liệu trên track chỉ sai ỏ một vài đoạn rất nhỏ.

Chế độ thu một đoạn giúp ta thay thế đoạn nhạc bất kỳ không đúng ý muốn bằng một đoạn nhạc khác sẽ được thu sau đó. Ví dụ: track 1 thu giọng ca của ca sĩ có đoạn từ 05:03:014 đến 06:12:120 bị sai, ta vào record option chọn cách thu thứ ba (auto punch) và nhập thời gian bắt đầu sửa 05:03:014 vào ô “Puncho in time” và thời gian kết thúc sửa 06:12:120 vào ô “Punch out time”, bấm OK. Lúc này trên track 1 sẽ xuất hiện hai dấu mũi tên màu đỏ chỉ thị chiều đi vào và đi ra trên đoạn đã xác định thời gian, khi bấm thu ca sĩ vẫn hát bình thường nhưng máy sẽ không thu cho đến khi con trỏ hiện hành di chuyển đến vào vùng được đánh dấu bằng cách trên. Khi con trỏ đi ra khỏi vùng này, máy sẽ ngưng thu.

Các thao tác đơn giản nhất để xác định đoạn auto punch:

- Cho Cakewalk phát track mà ta muốn thu thay thế (auto punch một đoạn).

- Nghe đến vị trí bắt đầu của đoạn cần sửa, bấm phín tắc F9 để chọn đánh dấu đầu. Ta tiếp tục nghe cho đến cuối đoạn cần sửa bấm F10 để chọn đánh dấu cuối. Khi đó trên thước đo thời gian sẽ tự động tô đen đúng đoạn ta cần.

- Bấm nút “set punch to selection”, khi đó Cakewalk sẽ đặt cho ta cỡ auto puch theo đúng đoạn mong muốn.

Chú ý: Sau mỗi lần đặt thu chế độ auto punch xong ta nên đặt lại chế độ sound on sound. Đồng thời nên dùng chức năng combine để nối các đoạn rời rạc. Một khuyến cáo cho mỗi chế độ thu như sau:

- Sound on sound là lựa chọn mặc định, do đó sau mỗi lần chuyển chế độ ta nên đặt lại chế độ này vì mục đích an toàn.

- Overwrite chỉ dùng cho đoạn từ vị trí cần thay thế cho đến hết track.

- Auto punch nên ứng dụng để sửa câu, đặc biệt là những đoạn nằm ở khoảng giữa của track.

3. Thanh công cụ Position

Khi track được tô đen, ta dùng hai nút nhảy tới đầu và cuối đoạn để đặt con trỏ đến đúng vị trí đánh dấu đầu cuối. Khi đó trên ô thời gian sẽ hiển thị vị trí thời gian tại nơi con trỏ đang đứng. Ta cũng có thể nhập trực tiếp giá trị vào ô thời gian này để đặt con trỏ đến vị trí mong muốn.

4. Thanh công cụ Transport

Trình tự các nút như sau: đặt con trỏ về đầu track, dừng phát nhạc (stop), phát các track nhạc chọn solo hoặc các track không chọn mute (play), đặt con trỏ đến cuối track (track dài nhất), thu track (record), reset - đặt lại các giá trị trong bộ nhớ máy tính về trạng thái ban đầu, ứng dụng của nút này trong trường hợp máy có sự tranh chấp bộ nhớ do chạy quá nhiều chức năng hoặc phần mềm làm cho rối loạn hệ thống đôi khi phát ra tiếng rít ngoài ý muốn.

5. Thanh công cụ Makers

Đặt các tiêu đề để đánh dấu đoạn nhạc (đặt các điểm mốc). Ví dụ intro, điệp khúc… Các tiêu đề này gọi là maker. Chức năng này cho phép người sử dụng đặt rất nhiều cờ đánh cho bản nhạc để khi cần thiết ta có thể đặt con trỏ đến đúng vị trí đã chỉ định mà không phải mất công nghe lại cả track mà đôi khi việc nghe lại để xác định vị trí con trỏ không mang lại độ chính xác tuyệt đối.
Previous makers: đặt con trỏ về lại maker trước đó.

-                                             Next makers: đặt con trỏ đến maker kế tiếp.

-                                             Insert makers: chèn thêm một maker vào vị trí con trỏ.

-                                             View makers: xem thông tin về thời gian, ô nhịp của các maker đã chèn vào. Khi chèn thêm một maker mới thì danh sách các maker sẽ tự động được cập nhật, khi ta mở danh sách này ra và chọn vào maker nào đó thì con trỏ hiện hành sẽ nhảy đến đúng vị trí đã đặt maker.

III. Một số thao tác cần thiết xử lý track audio

Thông thường việc xử lý audio sẽ đi kèm với nhu cầu phóng lớn hình ảnh của đối tượng cần thao tác. Để theo dõi hình ảnh phóng to ta double click chuột vào track hay tô đen track và bấm nút audio view. Để tô đen một đonạ track nào đó, ta bấm và giữ trái chuột rồi tô đen trên thước đo thời gian, tiếp theo bấm trái chuột ra vùng thông tin track để tô đen đoạn track đã được chọn.

Nếu bấm phải vào vùng hiển thị sóng audio ta sẽ thấy menu sau:

1. Audio effect

Trình đơn này sẽ liệt kê tất cả các plug-in (những phần mềm tạo hiệu ứng) đã được cài đặt vào máy, đồng thời nó cho phép ta gởi các hiệu ứng âm thanh này(echo, reverb, delay) vào track audio. Trên quan điểm cá nhân người viết cho rằng không nên lạm dụng chức năng này quá nhiều khi chưa hiểu hết sự lợi hại của nó vì nó sẽ làm biến đổi dạng sóng tín hiệu của track. Cái lợi của việc tạo effect cho track audio bằng chức năng này là plug in được sử dụng chỉ ngay ở thời điểm kết nối và sau khi hiệu ứng của nó được thực hiện xong (khi bấm OK để chấp nhận), track sẽ bị thay đổi theo những thông số effect đã chọn và plug in cũng sẽ chấm dứt sự tồn tại của nó trên bộ nhớ máy tính. Điều này làm cho máy vận hành nhẹ hơn do không phải chạy đồng thời nhiều phần mềm (vì plug in cũng là phần mềm). Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của nó là làm biến đổi dạng tín hiệu gốc.

2. Split

Có thể so sánh track trên Cakewalk với một cuộn băng cassette có chứa thông tin về âm thanh, đôi khi trên đó có những đoạn bị sai nhịp (sớm hoặc muộn) hay thậm chí là không cần thiết tồn tại. Vậy muốn sửa đổi nó theo ý muốn mà không làm ảnh hưởng đến những đoạn thông tin khác ta phải làm sao? Một giải pháp đơn giản và hữu hiệu là cắt để cô lập đoạn đó rối “đối xử riêng”. Đó là lý do Cakewalk trang bị cho ta chức năng Split. Nhiệm vụ của split là cắt track thành nhiều phần, vết cắt tại vị trí con trỏ hiện hành hoặc có thể nhập giá trị thời gian vào ô “at time (sample)”. Sau khi cắt, đoạn track nằm giữa hai vết cắt sẽ độc lập với những đoạn khác, ta có thể xóa (delete), dời, tăng giảm âm lượng hoặc mức độ cân bằng khi phát trên hai loa (pan)… cho riêng đoạn đó.

3. Combine

Ngược lại với chức năng split, chức năng combine cho phép người sử dụng nối các đoạn rời rạc trên cùng một track lại với nhau, ứng dụng của chức năng này rất tiện lợi cho mục đích chuyển track sang phần mềm “sound forge” (phần mềm chuyên xử lý audio) và track sẽ không bị tách rời và hiển thị trên nhiều cửa sổ khác nhau (phần mềm Sound Forge sẽ được trình bày trong tài liệu khác). Việc nối đó cần được xác định bởi thao tác tô đen các đoạn cần nối. Muốn tô đen được nhiều đoạn khác nhau trên cùng track đó, ta kết hợp phím Shift trên bàn phím và bấm trái chuột vào từng đoạn riêng biệt.
Chức năng này thường dùng khi track bị cắt thành nhiều phần hoặc khi thu bằng chế độ auto punch và overwrite.

4. Delete

- Events in track: xóa track hiện đang đánh dấu

- Tempo changes: xóa sự thay đổi tốc độ

- Meter/Key changes: xóa sự thay đổi đồng hồ

- Makers: xóa các cờ đánh dấu đoạn nhạc

- Split audio envents: xóa các vết cắt trên track

- Delete hole: chọn xóa dồn phần cuối lên hay chừa ra khoảng trống

5. Remove silence

Xóa bỏ những khoảng im lặng. Khi chọn chức năng này Cakewalk sẽ hiển thị hộp thoại remove silence và yêu cầu người sử dụng xác định ngưỡng tần số cần loại. Ví dụ: khi nhập -48 dB thì toàn bộ những vùng nào có âm lượng từ 48 dB trở xuống đều bị đặt về âm vô cực (không có âm thanh)
Chức năng Remove silence thường được dùng khi ta muốn loại bỏ một loạt các đoạn track audio có mức âm lượng bị coi là nhiễu thay cho việc làm thủ công nếu phải đánh dấu từng đoạn nhỏ rồi chọn chức năng mute.

6. Pitch detection

Tăng giảm cao độ cho track

7. 3dB Louder và Quieter

Tăng và giảm âm lượng gấp đôi và đương nhiên biên độ tín hiệu gốc cũng sẽ thay đổi theo.

8. Normalize

Nâng dạng sóng tín hiệu audio trên track đến mức chuẩn mà Cakewalk qui định. Mức độ nâng nhiều hay ít không do người sử dụng quyết định. Thông thường ta nên dùng chức năng này ở phần mềm Sound Forge vì phần mềm này chuyên xử lý cho track audio, hơn nữa mức độ normalize nhiều hay ít sẽ do người sử dụng lựa chọn.

Chức năng normalize trong hầu hết các phần mềm xử lý audio đều có tác dụng nâng tất cả các biên độ tín hiệu theo tỷ lệ và tác dụng cho tất cả các tần số tồn tại trên track. Trong một số trường hợp âm lượng các track không đều nhau hoặc tín hiệu thu vào quá nhỏ so với yêu cầu, ta có thể dùng chức năng này để nâng đều cho toàn bộ track, nhưng nếu lạm dụng đôi khi lại nâng luôn cả những tiếng nhiễu. Do đó trước khi thu ta nên tiến hành thu thử một đoạn nhỏ nhất và một đoạn lớn nhất để điều chỉnh các volume ngõ vào cho phù hợp, tránh tình trạng tín hiệu quá nhỏ (khi nâng lớn sẽ bị sôi) hoặc quá lớn (âm thanh sẽ bị méo tiếng hay còn gọi là bể tiếng). Âm thanh thu vào khi bị bể tiếng sẽ rất khó khăn trong xử lý nếu không muốn nói là không thể cứu vãn được. Tuy rằng sau đó ta dùng chức năng normalize để hãm bớt âm thanh nhưng tiếng mộc đã bị bể thì normalize cũng đành bó tay.

9. Envelope

Định nghĩa volume và pan bằng hình ảnh.

- Create volume: điều chỉnh volume bằng cách nâng hay hạ đường kẻ ngang trên track.

- Pan: điều chỉnh pan bằng cách nâng hay hạ đường kẻ ngang trên track, khi nâng ứng với left và hạ ứng với right.

10.Fade

Chức năng này sẽ làm to dần (fade in) hay nhỏ dần (fade out) một đoạn track được đánh dấu theo các chuẩn như sau:

- Exponential fade in: làm lớn dần đoạn track được tô đen theo dạng đường cong lõm parabol-tăng

- Exponential fade out: làm nhỏ dần đoạn track được tô đen theo dạng đường cong lõm parabol-giảm

- Inverse exponential fade in: làm lớn dần đoạn track được tô đen theo dạng đường cong lồi parabol-tăng

- Inverse exponential fade out: làm nhỏ dần đoạn track được tô đen theo dạng đường cong lồi parabol-giảm.

- Linear fade in: làm lớn dần đoạn track được tô đen theo đường thẳng đi lên

- Linear fade out: làm lớn dần đoạn track được tô đen theo đường thẳng đi xuống. Ngoài ra ta cũng có thể dùng chuột sửa lại dạng các đường fade in/out bằng cách bấm trái chuột và giữ rồi kéo đến vị trí mong muốn.

11. Reverse

Đảo ngược track theo kiểu soi gương.

Tuy Cakewalk trang bị cho ta đầy đủ những chức năng xử lý audio, nhưng với cách nhìn khách quan, người viết muốn nêu ra đây một số lưu ý và đề nghị cần thiết để tóm tắt cho phần xử lý audio:

- Không nên dùng những chức năng vừa liệt kê (ngoại trừ split, combine, delete và remove silence) vì phần mềm sound forge sẽ giúp ta làm việc đó tốt hơn và giản tiện hơn.

- Sau mỗi lần thu overwrite, auto puch, split, delete ta nên nối các phần đứt rời của track lại với nhau để tránh tình trạng rơi rớt dữ liệu ngoài ý muốn.

- Cho dù máy tính có mạnh đến đâu thì việc thu thanh nhiều track mà đặc biệt là khi nối nhiều effect đến một mức nào đó sẽ làm cho máy tính xử lý rất “vất vả và nặng nể”, đôi khi cakewalk sẽ không tiếp tục chạy và báo “drop out” (hiện tượng này cũng có nhiều nguyên nhân và sẽ được trình bày trong những phần sau). Để giải quyết tình trạng này ta nên mix các track cùng loại thành một (ví dụ track nhạc cụ, track trống, track giọng bè…) rồi xóa bớt các track không cần thiết đi (xem thêm mục trình đơn tool).

IV. Một số thao tác cần thiết xử lý track Midi

Trước hết xin nhắc lại khái niệm về MĨDI. Midi được viết tắt từ chữ “musical instrument digital interface” là giao thức truyền thông kỹ thuật số giữa máy tính và nhạc cụ. Do đó bản thân file Midi không chứa âm thanh mà nó chỉ chứa các lệnh về âm nhạc như: nốt, âm lượng, độ mạnh nhẹ, tiếng của thiết bị nhạc cụ phát cho nốt… Nói đến Midi ta còn phải quan tâm đến kênh và cổng Midi. Phần mềm Cakewalk khi nối với những phần mềm khác để phát tiếng cho Midi (ví dụ như Giga Studio) sẽ cho ta nhiều hơn một cổng Midi, trên mỗi cổng sẽ có 16 kênh Âm thanh nhạc cụ sẽ phát trên những kênh trùng hoặc khác nhau tùy theo cách ta phối bài. Có nhiều cách tạo tiếng cho file Midi như:

- Nối máy tính với Midi keyboard để lấy tiếng của keyboard.

- Nối máy tính với một sound module (bộ phát tiếng bằng phần cứng) qua đường Midi in/out.

- Sử dụng bộ tiếng bằng phần mềm trên máy tính…

Ngày nay với sự phát triển mạnh về giải thuật và công nghệ phần cứng máy tính, các phần mềm âm nhạc cũng từ đó ra đời và dần dần thay thế các phần cứng cổ điển trước đây. Việc sử dụng bộ tiếng bằng phần mềm trở nên linh động, tiện lợi và rẻ tiền hơn trong vận hành và cập nhật. Các file Midi thường được lưu dưới hai dạng:

- Midi format 0: tất cả dữ liệu âm nhạc và tất cả các kênh được truyền trên một track, các tập tin này rất nhẹ và có thể đọc thẳng trên đĩa mềm.

- Midi format 1: mỗi kênh dữ liệu âm nhạc được truyền trên một track riêng biệt, các tập tin này chứa chi tiết hơn về âm nhạc (chứa cả các lựa chọn và thông số cài đặt trên mỗi track) nên nặng hơn và phải được load vào bộ nhớ của máy trước khi vận hành. Trên môi trường Cakewalk khi ta mở file Midi và thu tiếp track audio thì khi lưu file Midi đó theo kiểu format 0 hay 1, Cakewalk sẽ cảnh báo chỉ lưu dữ liệu Midi mà thôi, do đó nếu muốn lưu tất cả dữ liệu hiện có trên file ta phải chọn kiểu lưu bundle (xem thêm mục V - giới thiệu các trình đơn).

Chọn cổng Midi cho Cakewalk

Tại sao người sử dụng phải quan tâm đến việc chọn cổng Midi? Như trên đã trình bày, bản thân file Midi không chứa âm thanh, nó chỉ có nốt nhạc hay các lệnh điều khiển nốt nhạc, do đó nếu muốn nghe và chỉnh sửa các thông số của file Midi nhất thiết phải nối máy tính với một thiết bị phát tiếng (hộp tiếng). Các đường nối này được gọi là cổng Midi (Midi port) và quá trình chọn cổng sẽ thực hiện khai báo để Cakewalk biết và làm việc chính xác với bộ tiếng đã chọn
(Vào menu option chọn Midi gắn vào máy tính mà trên cửa sổ sẽ hiển thị nội dung khác nhau. Hình 24 cho ta 4 cổng Midi trong đó 2 cổng thuộc sound card C-port và 2 cổng thuộc phần mềm Giga Studio. Đối với cổng Midi là phần cứng, ta sẽ nối được với keyboard để lấy tiếng của đàn.

1. Sử dụng tiếng của Midi keyboard

Để sử dụng theo cách này trên sound card cần có đường nối Midi hoặc phải gắn thêm cổng Midi vào máy tính. Tiếp theo chọn trên Cakewalk cổng Midi, tên của Midi keyboard và tiếng của thiết bị như hình 25,26.
Nếu trong danh sách trên không có tên keyboard ta cần, khi đó bấm nút “Define…”, trong cửa sổ mới ta bấm nút “Import…” và chọn tên cần thiết.

2. Sử dụng tiếng bằng phần mềm

Một trong những phần mềm phát tiếng cho Cakewalk được đề cập tài liệu này là Giga Studio. Ta thấy hai dòng cuối là “NemeSys MidiOut: Port 1” và “NemeSys MidiOut: Port 2”, như vậy Cakewalk đã sẵn sàng nối với phần mềm Giga Studio và khi ta chọn một trong hai cổng Midi này thì các track Midi sẽ sử dụng bộ tiếng phần mềm của “Nemesys Giga Studio Workstation”. Việc sử dụng tiếng bằng phần mềm sẽ không phải nối dây vì tất cả đã chứa trong máy tính, có lẽ đây cũng là thế mạnh của phần mềm.

3. Sử dụng tiếng bằng sound module

Sound module là một phần cứng phát tiếng cho file Midi, ta sẽ nối các đường Midi in/out của máy tính với đường Midi in/out của sound module. Khi đó các đường ra analog của sound module sẽ cho ta tiếng của nó theo quy luật nốt nhạc trong file Midi trên máy tính và có thể dùng các đường ra này đưa ngược trở lại vào đường in của sound card để thu lại thành audio, đây được xem là một trong những cách chuyển từ file Midi sang file Audio. Tuy nhiên đối với những chuyên gia về lĩnh vực thu thanh thì cách làm này không được ưa chuộng lắm vì âm thanh thu vào bị biến đổi DA (từ sound module đến sound card) và AD (từ sound card vào máy tính) nhiều lần, hơn nữa thu trên đường analog sẽ làm suy hao tín hiệu (nếu chất lượng dây kém và nối kéo dài). Để giải quyết ổn thỏa cho gút mắt này thì tốt nhất trên cả sound module lẫn sound card phải có đường optical, đây là một trong những chuẩn truyền tín hiệu nhanh nhất và sạch nhất hiện nay.

4. Thay đổi thông số nốt nhạc

Để xem và thay đổi thông số cho mỗi nốt, ta chọn track Midi cần thiết và bấm nút Staff view trên thanh công cụ view, khi đó sẽ xuất hiện cửa sổ sau:
Trên cửa sổ này có các nút chức năng như: con chuột – dùng đánh dấu một nhóm nốt nào đó hay thay đổi vị trí nốt trên khuôn nhạc, cục gồm – xóa nốt, nút “L” kết hợp với bút chì để viết lời cho bài hát, nút “C” – ghi hợp âm (Chỉ có tác dụng hiển thị khi xem hoặc in ấn), nút “T” - nhấn mạnh nốt, nút “<” – làm cho nốt nhạc mạnh dần, nút “P” - hiệu ứng pedal, tiếng ngân.
Mặt khác khi bấm phải chuột vào nốt ta sẽ thấy cửa sổ thuộc tính nốt:

- Time: vị trí nốt trên thước đo thời gian

- Pitch: dữ liệu nốt (đô, rê, mi…)

- Velocity: độ mạnh nhẹ nốt

- Channel: Kênh Midi của track chứa nốt nhạc hiện tại.

- Fret: phím đàn

- String: độ dài

Như trên đã trình bày, việc thay đổi thông số chỉ có tác dụng cho riêng từng nốt, nếu cho Cakewalk phát ngay tại vị trí của nốt thì các giá trị trong những cột vol, vel… sẽ không được Cakewalk đọc lại. Những thông số này tạm gọi là những control, chúng sẽ hiển thị đầy đủ trong cửa sổ event list, tại đó ta có thể insert (chèn thêm) hay delete (xóa bỏ) các control theo ý muốn. Nói chung phần mềm Cakewalk trang bị đầy đủ các chức năng hỗ trợ mạnh cho Audio lẫn Midi. Việc cắt dán copy… rất tiện ích và đơn giản, cùng với sự kết hợp linh động quá trình chỉnh sửa các thông số nốt nhạc sẽ tạo nên một bản nhạc hoàn hảo và “mềm mại” hệt như nó được đánh trực tiếp từ thiết bị nhạc cụ thực bên ngoài bởi một nhạc công chuyên nghiệp.

V. Giới thiệu sơ lược các trình đơn chính

1. Trình đơn File

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-F. Trình đơn này chứa đựng các chức năng cơ bản như mở file, tạo file mới… Trình đơn file trong hầu hết các phần mềm chạy trên hệ điều hành windows đều là nơi để người sử dụng mở một file mới để làm việc, để lưu trữ các dữ liệu đã làm hay để thoát khỏi chương trình đang sử dụng.

1. Chức năng new

Trong mục new có nhiều lựa chọn, mỗi lựa chọn là một dự án do Cakewalk tạo sẵn nhưng các dự án này phần lớn không được dùng, thường thì ta chọn normal (mở một dự án mới bình thường)

2. Chức năng save, save as…

Theo sau quá trình làm việc với tất cả các phần mềm là lưu lại những gì đã làm. Cakewalk cũng vây, nó cho phép ta lưu rất nhiều dạng (format) mà sau đây sẽ trình bày chi tiết hơn. Đối với một file mới mở và tiến hành thao tác từ đầu (còn gọi là dự án hay project) thì chọn “save” hay “save as” là như nhau. Cakewalk sẽ gọi cửa sổ save. Trong trường hợp mở dự án cũ đã là từ trước và khi sửa đổi người sử dụng không muốn save lại với tên file cũ thì khi đó dùng save as để đặt lại tên file mới. Cakewalk có rất nhiều cách lưu dữ liệu, thường ta quan tâm đến các kiểu sau:

- Normal: đây là cách mặc định trong đó dữ liệu chính (dữ liệu wave-âm thanh trên track audio) được lưu ở thư mục mặc định (xem thêm phần global option và audio option), còn file dự án (file làm việc chính ) sẽ lưu trong thư mục do người sử dụng chỉ định. Những file lưu dạng normal sẽ có phần đuôi “.wrk” và được Cakewalk mở lên rất nhanh dó nó không phải tải toàn bộ dữ liệu wave lên vùng đệm của Cakewalk. Chú ý: các file wrk khi copy qua máy khác mà không copy kèm theo file dữ liệu wave sẽ không đọc lên được. Mặt khác nếu trong file Midi có chứa dữ liệu wave mà ta lưu theo dạng Midi thì Cakewalk sẽ không chấp nhận, khi đó sẽ có một hộp thoại cảnh báo và nếu đồng ý thì chỉ có dữ liệu Midi được lưu lại mà thôi, nếu muốn lưu toàn bộ hai dữ liệu đó ta phải chọn kiểu “Cakewalk Bundle”. Đối với các file “thuần” Midi do bản thân nó không chứa âm thanh nên việc lưu theo kiểu normal không ảnh hưởng gì khi chép file này sang máy khác.

- Template: tạo file định dạng chung cho dự án mới trong đó ta có thể quy định các thông số như source, port… cho mỗi track. Ví dụ ta cần track 1 thu trên ngõ 1/2 phát trên ngõ 5/6 volume 120, pan 64; track 2 thu trên ngõ 3/4 phát trên ngõ 1/2 volume mặc định, pan 127… thì khi gọi chức năng open chọn dạng template, dự án mới sẽ tự động chọn sẵn các đường vào ra đúng theo template (khuôn mẫu) đã tạo. File template có phần đuôi “.tpl” và được mở lên rất nhanh do bên trong nó chỉ chứa định dạng chứ không chứa dữ liệu.
- Cakewalk Bundle: đóng gói toàn bộ dữ liệu kể cả Midi và wave vào chung một file. Dạng đuôi của file này là “.bun”, khi được gọi đến chúng sẽ mất một khoảng thời gian để tải dữ liệu wave (chứa trong file bun) lên bộ nhớ. Loại file này cho phép ta copy sang máy khác được và hoạt động bình thường.
- Midi format 0 và 1: đây là cách lưu thành file Midi đuôi “.mid”, (Xem thêm phần IV).

3. Trình đơn Edit

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-E. Giống như các phần mềm khác, trong trình đơn này trang bị các công cụ như undo (phím tắc Ctrl-Z), redo (phím tắc Ctrl-A), cut (phím tắc Ctrl-X)… Bên cạnh đó còn có các công cụ đặc biệt khác:
- Audio effect: các phần xử lý audio dạng effect sau khi cài đặt sẽ được hiển thị trên mục này.

- Midi effect: chứa các effect để tạo hiệu ứng cho track MIDI.

- Length: thay đổi độ dài ngắn nốt nhạc.

- Run CAL: phân tích một track MIDI thành nhiều track khác nhau để dễ theo dõi. Chức năng Run Cal có rất nhiều kiểu nhưng chủ yếu phục vụ cho việc tách track Midi thành những track khác nhau cho dễ xử lý. Ví du track tiếng trống trong đó bao gồm nhiều tiếng như: kit, tom, casler… Nếu tạo hiệu ứng âm thanh cho track này thì toàn bộ các âm thanh nhạc cụ trong đó đều chịu ảnh hưởng của hiệu ứng. Do đó chức năng RUN CAL khi chọn “split note to track” sẽ tách các tiếng kit, tom… thành những track riêng, mỗi track ứng với một thiết bị trong dàn trống.

- Scale Velocity: quét toàn bộ các nốt nhạc trên track Midi và đặt chúng cùng một giá trị về độ mạnh yếu.

4. Trình đơn View

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-V. Ta sẽ thấy trình đơn này chứa hầu hết các chức năng có trong thanh công cụ view.

Cakewalk ngoài việc xử lý audio như đã biết còn là một môi trường xử lý video “hậu kỳ” rất tiện lợi. Ta có thể chèn bất kỳ một file video vào môi trường đang làm việc, Cakewalk sẽ tách hình và tiếng ra riêng biệt. Sau khi xử lý track tiếng xong, Cakewalk sẽ giúp ta mix hình và tiếng lại thành một flie video như bình thường. Ta thấy có dòng Video, chức năng này sẽ hiển thị các frame video theo thời gian hiện tại.

Chức năng view console sẽ hiển thị mixer của Cakewalk, trong đó ta có thể thay đổi volume, pan cho mỗi track và lưu lại quá trình thay đổi đó bằng cách nhấn nút record trên mixer này. Khi thực hiện loại thao tác này, bên dưới track được xử lý sẽ xuất hiện thêm một track khác chứa giá trị điều khiển đã thay đổi.

5.Trình đơn Insert

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-I.

- Wave file: có đôi khi ta muốn thêm một file wave vào dự án đang làm việc (project) để tăng thêm tính phong phú thì chức năng này sẽ giúp người sử dụng chèn một file wave vào track tại vị trí con trỏ hiện hàn thay vì phải thu lại file đó vào track mong muốn

- Video file: trong trường hợp người sử dụng muốn lấy nhạc nền của một file video từ đĩa cứng hay đĩa VCD thì chức năng này của Cakewalk sẽ giúp ta chèn một file video vào và tách hình, tiếng thành hai phần riêng biệt, lúc đó cửa sổ chứa tiếng sẽ có thuộc tính như những cửa sổ thu audio bình thường và ta cũng có thể thao tác nó như những gì đã biết trong các mục trước. Nếu không cần thiết người sử dụng có thể tắt cửa sổ chứa hình đi hoặc nếu muốn mở lại thì bấm vào nút video view (phím tắc F7). Chú ý: phần lớn các file video thường có phần đuôi “dat” (nhất là các file trên đĩa VCD) do đó khi insert vào ta sẽ chọn “file of type” là *.*

- Series of controllers:

+ Time range: thời gian bắt đầu và kết thúc của đoạn track tô đen.

+ Value range: giá trị bắt đầu và kết thúc một chức năng xử lý, nó tùy thuộc vào chế độ lựa chọn trong phần Number. Ví dụ khi number là 7-volume thì khi đó âm thanh trên đoạn này sẽ to dần (hay nhỏ dần) theo giá trị từ begin đến end. Khi number là 10-pan thì âm thanh trên cả hai kênh left right của đoạn track đó sẽ lệch về bên trái hay bên phải tùy theo giá trị trong begin và end (0,127).

6.Trình đơn Realtime

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-R. Trình đơn này chứa đựng các chức năng trong các thanh công cụ: transport, record, tempo, những chức năng này đã được trình bày ở phần trên.

Ba dòng cuối của trình đơn này ta thấy có các mục tempo ratio 1,2,3. Đây là chức năng quy định tốc độ cho file nhạc đang xử lý trên Cakewalk, trong đó mức 1 quy định tốc độ chậm, mức 2 trung bình, mức 3 nhanh. Tuy nhiên ta cũng có thể nhập tốc độ cho file theo ý muốn bằng cách bấm vào ô tempo ở góc dưới bên trái màn hình Cakewalk. Chú ý các vị trí của thanh công cụ có thể sẽ hiển thị khác nhau ở những máy tính khác nhau, tùy thuộc vào sự sắp xếp và trình bày màn hình của người sử dụng.

Sự định nghĩa hay thay đổi tempo này không chỉ có tác dụng đối với các xử lý Midi mà còn áp dụng cả đối với audi. Điểm khác biệt ở đây là khi xử lý cho audio thì các giá trị nhập trong tempo sẽ được Cakewalk gởi thẳng vào dạng sóng tín hiệu của các track audio chứa wave, mỗi lần xử lý Cakewalk sẽ quét các track này và người sử dụng phải đợi máy thực thi lệnh.

7.Trình đơn Go

Các chức năng trong trình đơn này dùng để đặt con trỏ đến một vị trí mong muốn trên cửa sổ làm việc, các vị trí đặt này mang tính chính xác tuyệt đối bằng cách kết hợp với chức năng “insert maker” đã nói ở trên nó giúp cho quá trình thu và xử lý track trở nên đơn giản và nhanh chóng rất nhiều.
- Time: phím tắt F5-đặt con trỏ đến một vị trí nào đó trên track bằng cách nhập thời gian vào ô “to time”. Ứng dụng này cho phép ta đặt nhanh con trỏ làm việc đến một vị trí mong muống và vị trí này sẽ được xác định bằng một chỉ số giá trị thời gian cụ thể.

- From : Phím tắc F7-nhảy con trỏ đến đầu đoạn đánh dấu

- Thru : Phím tắc F8 - Nhảy con trỏ đến cuối đoạn đánh dấu

- Previous measure : Phím tắc Ctrl-Pgup : nhảy lùi con trỏ về ô nhịp nhỏ hơn theo thước đo thời gian

- Next measure : Phím tắc Ctrl-Pgdn : nhảy con trỏ đến ô nhịp lớn hơn trên thước đo thời gian

1. Trình đơn track

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-T. Trình đơn này cho biết các thông tin về track hiện hành và đặt lại các thuộc tính khác như tắt/mở nút mute, tắt mở nút solo, tắt mở nút arm ( record )

2. Trình đơn tools

Kích hoạt bằng tổ hợp phím Alt-O

- Clean disk : Tự động làm sạch các file không cần thiết trong vùng đệm trên đĩa. Như đã trình bày ở trên, cakewalk khi lưu file audio theo kiểu normal thì file dự án(wrk) sẽ nằm ở thư mục do người sử dụng chỉ định, file này chỉ chứa thông tin về đường vào/ra trên soundcard, giá trị vol, pan…hay các effect nối với track audio, trong khi đó file dữ liệu chính(file wave-cái mà khi play tai ta nghe thấy) lại nằm ở một thư mục khác. Chức năng cleandisk sẽ tự động tìm tất cả các file wave(là dữ liệu của các file wrk-file dự án)không còn được liên kết đến bất kỳ file dự án nào và liệt kê lên một cửa sổ. Khi đó người sử dụng có thể chủ động xóa các file này mà không sợ ảnh hưởng đến chương trình. Khuyến cáo cho những ai chưa vững về dữ liệu của Cakewalk nên nghiên cứu kỹ các chuyên mục này và không nên tự ý xóa bỏ các file có đuôi wav, nhất là khi các file này lại có những dạng tên đặc biệt ./..

Cập nhật ( 13/09/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !