Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Phan Thanh Giản với vùng đất Bạc Liêu (Trần Phước Thuận)
Phan Thanh Giản với vùng đất Bạc Liêu (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
27/11/2011

PHAN THANH GIẢN VỚI VÙNG ĐẤT BẠC LIÊU

* Trần Phước Thuận

Phan Thanh Giản là một nhân vật rất đặc biệt, cuộc đời và sự nghiệp của ông đã được con người của nhiều thế hệ - nhiều thời kỳ đem ra bàn bạc, có nhiều người đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của ông rất cao cho ông là người trung tín tiết nghĩa, nhưng cũng có lắm người lại chê trách ông đủ điều, thậm chí có người còn lên án ông là kẻ bán nước; cả đến những nhà nghiên cứu khoa học ngày nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau về ông. Thực ra Phan Thanh Giản là con người có tài, tánh hạnh lại rất tốt, nhưng cuộc đời của ông lại là một bi kịch, không những lúc còn sống đã nhiều phen lên bổng xuống trầm mà đến lúc chết cũng không được yên ổn – chiếc bia Tiến sĩ của ông cũng như cuộc đời của ông có lúc bị người ta đục khoét hủy bỏ, có lúc lại được trùng tu xây dựng lại. Nhưng dù được khen tặng hay bị chê trách, trong hơn trăm năm qua Phan Thanh Giản vẫn được nhân dân thờ phụng nhiều nơi ở Nam bộ như một vị linh thần ; không những ở Vĩnh Long, Bến Tre, Bình Dương  mà cả đến một vùng đất xa xôi ở cuối miền đất nước như Bạc Liêu cũng có miếu thờ ông.

 

Phan Thanh Giản tự Đạm Bá (cũng có tự là Đạm Như) hiệu Lương Khê biệt hiệu Mai Xuyên, ông sinh ngày 12 tháng 10 năm Bính Thìn (1796) ở thôn Tân Thạnh, huyện Tân An, dinh Long Hồ (sau đổi là huyện Vĩnh Bình phủ Định Viễn tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc xã Bảo Thạnh huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre). Ông mồ côi cha năm lên 7 tuổi, nhà nghèo nhưng rất hiếu học nên ngay từ thuở nhỏ ông đã được một số Mạnh Thường Quân giúp đỡ cho ăn học, ông học rất giỏi – học đâu nhớ đó nổi tiếng khắp một vùng, năm Ất Dậu (1925) thi Hương đỗ Cử nhân trường Gia Định sang năm sau Bính Tuất (1926) thi Hội đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, đã được Quốc triều Đăng khoa lục ghi nhận “ Ông là người đỗ đại khoa trước nhất của Nam kỳ. Lực học tinh thuần, tính hạnh chính trực”.

 

Từ đó đến năm 1962, ông liên tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong suốt ba triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức. Do tính cương trực thường can ngăn nhà vua nên nhiều lần bị giáng chức, cách chức nhưng nhờ sự ngay thẳng thành thật của ông nên sau đó đều được phục hồi ; đến năm 1851 Phan Thanh Giản được phong làm Kinh lược phó sứ Nam kỳ lĩnh tuần phủ Gia Định, kiêm coi tỉnh Biên Hoà và các đạo Long Tường, An Hà. Đây là điều kiện thuận lợi để ông phục vụ đất nước và con người Nam bộ – quê hương   của ông.

 

Ngay từ lúc mới nhận chức ông đã đi kinh lý nhiều tỉnh ở phía Nam để xem xét dân tình, những nơi nào đất đai chưa được khai phá ông luôn đôn đốc làng tổng mộ dân khai hoang lập ấp và tạo mọi điều kiện để mở mang dân trí. Ông đến Bạc Liêu (lúc đó là tổng Thạnh Hòa thuộc phủ Ba Xuyên) nhận thấy đây là một thị trấn nhỏ nhưng tiềm năng kinh tế rất lớn, đất đai ở đây lại rất màu mở nhưng có nhiều chỗ còn bỏ hoang chưa khai thác nên ông đã lập kế hoạch  vận động lưu dân ở các nơi về đây sinh sống, có chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với những người ở xa, và tưởng thưởng xứng đáng đối với những người chiêu mộ lưu dân khai khẩn đất hoang thành lập thôn làng, có lẽ vì vậy nên người Triều Châu đến sinh sống ở Bạc Liêu càng lúc càng đông, đến nổi trong thời gian đó đã xuất hiện câu ca dao “Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu”.

 

Lúc bấy giờ, lưu dân từ các nơi về Bạc Liêu ở đều được khuyến khích làm ăn, riêng nông dân được trang bị các phương tiện canh tác để phá rừng, cuốc năn, phát cỏ làm ruộng rẫy ; chẳng bao lâu diện tích của bốn làng Vĩnh Hương, Vĩnh Hinh, Tân Hưng và An Trạch liên tiếp được mở rộng ra (đến năm 1890 bốn làng này được nhập lại gọi là làng Vĩnh Lợi và nay là phần đất của thị xã Bạc Liêu).

 

Trong thời gian này, ông đã cùng Nguyễn Tri Phương (lúc đó là Kinh lược sứ Nam Kỳ) dâng sớ lên vua Tự Đức xin tám điều quy định về chính sách xã hội, nội dung của tám điều này đều xuất phát từ lợi ích của quê hương đất nước và quần chúng nhân dân. Nhất là những quy định về quyền lợi của lưu dân trong những ngày đầu khai hoang lập ấp.

Phan Thanh Giản còn là người biết lo đến đời sống tinh thần của nhân dân, ông nhận thấy ngôi đình làng ở đây qúa nhỏ lại được làm bằng cây lá đơn sơ rất dễ bị hư mục nên đã vận động bà con cùng nhau người góp công kẻ góp của để xây dựng thành một ngôi đình khang trang (đình Tân Hưng ở phường 3 thị xã Bạc Liêu hiện nay), và để an lòng bá tánh ông còn viết sớ xin với triều đình Huế ban sắc thần cho đình này. Kết qủa vua Tự Đức đã chuẩn tấu ban sắc thần cho đình Tân Hưng vào ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý niên hiệu Tự Đức thứ V (nhằm ngày 08 tháng 01 năm 1853 DL).

 

Phan Thanh Giản đã sớm nhận ra trình độ văn hóa của người Bạc Liêu lúc bấy giờ rất thấp, nên ông đã đưa thầy đồ từ các tỉnh xa về đây để dạy chữ Hán ; theo ý của Nguyễn Tri Phương (Kinh lược sứ Nam kỳ) ông đã cho xây dựng Tiên Sư miếu (sau đổi tên thành Tiên Sư cổ phủ và ngày nay là Tiên Sư cổ miếu, hiện tọa lạc tại trung tâm thị xã Bạc Liêu) để thờ các vị tiền hiền có công khai mở đất đai, xây dựng thôn làng, phố thị; đông lang và tây lang của miếu được nới rộng để làm lớp học. Mặc dầu lớp học này tồn tại không lâu vì tình hình an ninh trật tự sau đó rất rối ren, nhưng có thể nói miếu Tiên Sư là điểm dạy học đầu tiên ở Bạc Liêu và Phan Thanh Giản chính là người đã tốn nhiều công sức trong việc khai mở nền giáo dục ở vùng đất xa xôi này. Để nhớ ơn ông, người Bạc Liêu đã lập thần vị thờ ông tại Tiên Sư cổ miếu từ hơn trăm năm nay. Do có những đặc điểm về lịch sử như thế nên Tiên Sư cổ miếu hiện nay đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu ra quyết định bảo vệ di tích lịch sử văn hoá (QĐ số 877/QĐ.UB ngày 15 tháng 09 năm 1997 ).

 

Những việc làm của Phan Thanh Giản đã để lại những dấu ấn  rất sâu đậm trong lòng người, nên sau khi ông tuyệt thực lìa đời tại Vỉnh Long (1867) có nhiều người đương thời và nhiều người sau đó rất cảm phục đức độ và nhân phẩm của ông. Phạm Phú Thứ người cùng đi sứ sang Pháp với ông để chuột lại ba tỉnh Miền Đông Nam kỳ, trong bài văn tế Phan đã nói “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo” ; Nguyễn Thông cũng cho rằng cái chết của Phan Thanh Giản là cái chết tiết nghĩa có quan hệ đến phong hoá nên đã tâu với vua Tự Đức ban thưởng cho ông … ; cả đến cụ Nguyễn Đình Chiểu – một người có lập trường rất rõ ràng và cứng cỏi trong việc bất hợp tác với Pháp, thế mà trong bài thơ điếu Phan Thanh Giản bằng chữ Hán cũng đã khẳng định “ Lịch sĩ tam triều độc khiết thân” (một người duy nhất đã trãi qua ba triều vua nhưng vẫn trong sạch) và trong trong bài văn tế Lục tỉnh sĩ trận vong cụ cũng nói “Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ hết lòng mưu quốc“. Năm 1876, lại có một người trong hoàng tộc nhà Nguyễn là Tùng Thiện Vương Miên Thẩm cũng bất chấp Phan Thanh Giản là người đang bị kết tội, đã sưu tập toàn bộ các bài thơ của ông, viết lời tựa và cho khắc in.

 

Riêng về người Bạc Liêu từ lâu đã xem Phan Thanh Giản là một trong những bậc tiền hiền khai cơ mở đất, nên nếu có dịp nhắc đến ông thì mọi người đều thương xót ngậm ngùi cho số phận nghiệt ngã của một con người suốt đời phải lận đận lao đao vì chuyện nước non để cuối cùng phải tự giải quyết đời mình bằng chén thuốc độc, lại còn bị một số người đương thời và người đời sau lên án. Đối với cái chết của ông, đa số người ở đây đều cảm thấy vô cùng đau đớn trong cái cảnh mà nhà thơ Dương Tử  Giang đã minh họa “ Phan Thanh Giản ngậm hờn pha thuốc độc” ; cho nên từ hơn thế kỷ trước nhiều người đã bất chấp những lời đàm tiếu không tốt về ông – bất chấp luôn cả cái án trảm giam hậu của vua Tự Đức “ban” cho ông – đã mạnh dạn lập thần vị phụng thờ ông tại Tiên Sư cổ miếu, hương hoa bốn mùa cúng tế từ lúc ông qua đời cho đến ngày nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

 

1- Bảo Tàng Bạc Liêu, Hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Đình Tân Hưng Bạc Liêu.

2- Bảo Tàng Bạc Liêu, Hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Tiên Sư Cổ Miếu Bạc Liêu.

3- Cao Xuân Dục, Quốc triều Hương khoa lục, TP.HCM – 1993.

4- Cao Xuân Dục, Quốc triều Đăng khoa lục, TT Học Liệu –1962.

5- Dương Tử  Giang, Một thế kỷ mấy vần thơ – 1955.

6- Phan Hùng – Trần Phước Thuận – Lâm Thành Đắc, Điều tra đánh giá và giải pháp khôi phục bảo tồn các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ở Bạc Liêu. Đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Bạc Liêu – 2001.

7- Phan Huy Lê, Phan Thanh Giản con người, sự nghiệp và bi kịch lịch sử . Bài tổng kết Hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long năm 1994.

8- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre, Quê hương Bến Tre đối với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, Báo cáo khoa học tại Hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long năm 1994.

9- Trần Huy Liệu, Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử  số 55 – 1963.

10- Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam bộ.

11- Phan Trung Nghĩa – Trần Phước Thuận, Lịch sử khẩn hoang vùng đất Bạc Liêu. Đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Bạc Liêu – 2003.

12- Thanh Phương – Đoàn Tư, Địa chí Bến Tre. Trang 616 – 618.

13- Huỳnh Minh, Bạc Liêu xưa và nay – 1966.

14- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. NXB Giáo Dục Giải Phóng – 1973.

15- Phan Xuân Thọ, Phan Thanh Giản. Tủ sách Tân Việt – 1957.

16- Trần Phước Thuận, Bàn về bản dịch sắc thần đình Tân Hưng trong sách Bạc Liêu xưa và nay. Tạp chí Hán Nôm số 51 - 2002.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !