Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Văn hóa kiến trúc chùa Việt ở Bạc Liêu (Tĩnh Toàn)
Văn hóa kiến trúc chùa Việt ở Bạc Liêu (Tĩnh Toàn) PDF In E-mail
Người viết: Tĩnh Toàn   
15/12/2011

VĂN HÓA KIẾN TRÚC CHÙA VIỆT TIÊU BIỂU Ở BẠC LIÊU

* Cư sĩ Tĩnh Toàn

          Bạc Liêu có 116 tự viện đang sinh hoạt trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam được nhà nước công nhận gồm 5 hệ phái là Bắc tông, Nam tông, Thiền tông, Khất sĩ và Phật giáo người Hoa. Trong đó có một số các tự viện có giá trị lịch sử trăm năm và đây là tài sản văn hóa tín ngưỡng quí báu của Phật giáo tỉnh nhà nói riêng và của tỉnh Bạc Liêu nói chung. Lịch sử hình thành và phát triển của các tự viện mang tính nhân văn sâu đậm, gắn liền với bối cảnh xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” là câu nói dân gian gắn kết với đồng sống cộng đồng và ngôi chùa làng đã trở thành trung tâm văn hóa sinh hoạt tâm linh của đồng bào ở khu vực, là chỗ dựa tinh thần để gửi gấm tâm tư tình cảm của mình với niềm tin tưởng vô biên nơi sự nhiệm mầu của Chư Phật, Bồ Tát.

Tùy theo địa hình và sinh hoạt chính trị xã hội ở từng khu vực, có những ngôi chùa đã trở thành cơ sở cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến, có ngôi chùa trở thành điểm nhấn của phong trào phát triển văn hóa dân tộc trong đó có lĩnh vực nghi lễ cổ truyền Phật giáo, phong trào đờn ca tài tử, có ngôi chùa trở thành trung tâm giáo dục Phật giáo… từ đó các tự viện đã nghiễm nhiên trang bị cho mình những nét văn hóa đặc thù phục vừa phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu phát triển văn hóa dân tộc tại bản địa và đóng góp vào sự nghiệp đầu tranh chống ngoại xâm giành độc lập tự do cho tổ quốc.

          Việc xây dựng một ngôi chùa là việc cực kỳ quan trọng nên người ta phải chọn thế đất, xem phong thủy, chọn ngày giờ và cung thỉnh các vị cao tăng làm lễ đặt đá khởi công xây dựng sau khi hội đủ các điều kiện cần thiết. Khi công trình hoàn thành các vị chọn ngày làm lễ Khánh thành theo nghi thức đặc biệt của Phật giáo, ngoài ra còn có lễ An vị Phật khi thỉnh tượng Phật về chùa hay các tượng Phật được nghệ nhân tôn tạo tại chỗ. Trong khuôn khổ tham luận với đề tài Văn hóa kiến trúc chùa Việt tại Bạc Liêu, chúng tôi xin được trình bày ở phạm vi 3 ngôi chùa mang tính đại biểu cho các chùa Việt trên địa bàn thành phố Bạc Liêu, đó là chùa Long Phước, chùa Giác Hoa và chùa Vĩnh Phước An.

 

I. Chùa Long Phước Bạc Liêu:

          Chùa Long Phước tọa lạc số 3/234, đường Tỉnh lộ 38, thuộc khóm 6, phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Tên gọi là Long Phước Tự. Chùa Long Phước còn được gọi là chùa Cô Bảy bởi gần chùa có am Cô Bảy. Chùa được xây dựng năm 1840 có tên là Vĩnh Hinh Tự bởi lúc bấy giờ địa danh nầy là thôn Vĩnh Hinh.

          Chùa Long Phước không phải là một ngôi chùa đơn thuần mà là một quần thể kiến trúc hài hòa gồm 20 hạng mục:

          - Cổng Tam quan giáp lộ giới có mái che uốn cong bằng vật liệu bê tông cốt thép, đắp nổi  chữ CHÙA LONG PHƯỚC, cổng phụ bên phải có dòng chữ Hán ĐẠI TỪ ĐẠI BI, cổng phụ bên trái dòng chữ ĐẠI HỈ ĐẠI XÃ. Theo trục đứng có 2 đôi liễn đối. Cổng chùa là ranh giới giữa đạo và đời, tam quan hay tam quán có nghĩa là : Không quán tức vạn pháp qui không, Giả quán tức vạn vật vô thường, Trung quán tức con đường trung đạo, đó là căn bản triết lý của đạo Phật. Mặt trong cổng Tam quan có dòng chữ hán LONG PHƯỚC TỰ.

          - Từ cổng Tam quan đi vào 30m bên trái là Nhà trẻ mồ côi Long Phước, tiếp đến  khoảng đất trống có hồ sen rồi đến cổng vào chùa hai bên là bờ tường bao bọc. Vào cổng bên trái là hội trường rộng, đàng sau là Văn phòng trường Phật học, nhà tăng và thiền đường, kế tiếp phòng phát hành; bên phải là khu hoa viên có tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát, hai nhà để cốt. Trước mặt là văn phòng Ban trị sự Tỉnh hội, tiếp theo là nhà Tổ đường, Chánh diện, tăng xá tất cả được kết cấu  theo trục ngang, sau nhà Hậu tổ là khu vực nhà bếp và Ni xá.

          - Chánh điện chùa Long Phước với mặt tiền về hướng Nam, theo kiến trúc chữ Tam. Tiếp nối mặt tiền chánh điện hai bên  là hành lang kế đến là gian thờ Tam Bảo giữa đỉnh mái cấu trúc theo hình lục giác, cao hơn vòm mái khoảng 1,5m, mái lợp ngói móc, có cấu trúc hai tầng, phía trước trên đỉnh mái ở 2 góc có lầu chuông và lầu trống. Chánh điện được xây bằng bê tông cốt thép, mặt trước chánh điện có hình chữ Vạn, phía trên cửa chính có đắp chữ Long Phước Tự trên là chữ Việt dòng chữ dưới là Hán văn. Cửa chính làm bằng gỗ  cũng theo lối tam quan. Đi vào chánh điện, bên phải là lầu chuông, bên trái là lầu trống. Nội hàm bên phải thờ Tiêu Diện Đại Sĩ, bên trái thờ Hộ Pháp. Trong gian nhà chánh điện có hai hàng cột bê tông dẫn đến tam cấp tôn trí tượng Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni trên cùng tầng 2 có một tượng Phật Thích Ca nhỏ hơn, hai bên tả hữu có tượng 2 Phật A Di Đà, bên phải có tượng Bồ Tát Quán Âm, trước bậc tam cấp là đèn Dược Sư  sau bàn thờ Phật bên phải thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát, bên trái thờ Quan Công.

- Bên trái chánh điện là nhà mát lợp ngói móc đã phủ màu rêu phong nối liền nhà Tổ đường, mặt chính quay về hướng Nam, nóc bê tông vòm mái theo hình chóp, trên đỉnh có hình chữ Vạn, bên dưới có bàn tay và bánh xe pháp luân . Trước án tiền là tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, mặt sau có hình HT Tâm Tịch, HT Huệ Hà. Tiếp theo dãy bàn dùng thực hiện nghi cúng quả đường. Chính giữa là bàn thờ Tổ sư Đạt Ma, vị tổ thứ 28 sau Tổ Ca Diếp và cũng là Sơ tổ của Thiền đông độ Trung Hoa, các tầng tiếp theo là thờ các vị tổ, các bài vị, di ảnh HT Huệ Hà. Bên phải bàn thờ tổ là bàn thờ vong nam , bên phải thờ vong nữ. Tại đây Chư tôn đức tăng ni thực hiện nghi thức lễ Tổ trước khi tiến hành các cuộc lễ quan trọng khác.

          - Theo trục ngang tiếp theo là văn phòng BTS, Giảng đường, phòng khách. Bên phải Chánh điện là tăng xá có một lầu, kế đến là các tháp, nơi yên nghỉ của HT Phổ Chí, HT Chơn Pháp, HT Huệ Hà. Các tháp có hình lục giác và nhiều tầng, trong đó tháp HT Huệ Hà có phần đặc biệt với kiến trúc cổ kính với đường nét tinh xảo.

          Trên mặt bằng rộng được dàn trãi nhiều hạng mục mang ý nghĩa truyền thống sinh hoạt tâm linh, lại có nhiều cây cảnh đã góp phần tạo nên một không gian thanh thoát và nên thơ. Tại trung tâm sinh hoạt mang sắc thái văn hóa , giáo dục, từ thiện, nghi lễ, tổ chức, hành chánh, hạ trường, sinh hoạt đạo tràng v.v… khách đến du lịch hành hương, tấp nập mà không ồn ào, đó là nét sinh hoạt đặc thù của Phật giáo bởi bước vào cổng chùa mọi người đều lắng long thanh tịnh. Các cuộc lễ diễn ra quanh năm, khách thập phương đến ngày càng nhiều đã góp phần làm tăng thêm giá trị của di tích. Chùa được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2001.

 

II. Chùa Giác Hoa:

          Chùa Giác Hoa tọa lạc trên một ốc đảo có diện tích khoảng 30 hecta, trước mặt chùa là một nhánh kênh đổ ra sông Cái Dầy xuôi về Ngã Năm. Hiện nay Chùa thuộc ấp Xóm Lớn xã Châu Thới huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Chùa do Cô Hai Ngó tức Ni sư Diệu Ngọc khởi công xây dựng năm 1919. Đương kim trụ trì là sư cô Thích Nữ Nghiêm Thành. Chùa được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2002, quá trình đã 2 lần tu sửa, vào năm 1972 sửa phần mái của đông lang và tây lang; Năm 2003 trùng tu đông lang và tây lang. Hiện nay đang trùng tu xây mới công trìng chính của di tích là chánh điện và nhà hậu tổ.

          Chùa Giác Hoa là tự viện sinh hoạt theo hệ phái Phật giáo Bắc tông. Chùa được thiết kế theo kiểu nội công ngoại quốc với thế thiên tĩnh nối tiếp sau hậu đình. Trong khuôn viên chùa là một tổng thể gồm nhiều hạng mục công trình gồm cột phướng, 2 miếu, tượng Quán Âm, chánh điện, phủ thờ, khu nhà ở, khu mộ tháp.

          Hai ngôi miếu được bố trí là tiền miễu hậu chùa cân đối 2 bên thờ Ngũ hành và Thổ thần, được xây tường, lợp ngói hình mũi hài, bờ nóc có trang trí hoa văn hình sông nước. Chính giửa là Quan Âm các tôn trí rất đẹp, mái uốn cong đắp nổi hoa văn và tôn trí thánh tượng Quán Thế Âm chiều cao gần 3 m với khuôn mặt hiền hòa từ ái. Công trình quan trọng là Chánh điện được thiết kế xây dựng công phu, hệ thống mái gồm 2 cấp, lợp ngói máng và ngói hình mũi hài, đầu giềng mái có diềm ngói hình lá đề cách điệu và cấp mái trên cùng được chia thành 2 phần rõ rệt: Phần thứ nhất được chia thành 3 nóc mái, nóc mái nằm giữa có hình vòm tròn, đỉnh nóc có chóp nhọn và ở cuối các bờ mái đều có trang trí hoa văn hình sông nước; Hai nóc mái còn lại có dạng hình chóp tứ giác, trên đỉnh của hai nóc có đính tượng song điểu và ở cuối các bờ mái đều có trang trí hoa văn hình song nước; Phần thứ hai chỉ có một nóc mái  nhưng lớn hơn các nóc mái ở phần 1 và cấu tạo tương tự như các nóc mái ở các ngôi miếu của người Hoa. Bờ nóc cong hình thuyền, hai đầu được trang trí hoa văn , chính giữa là tháp cao 3 tầng,; mặt trước và sau của bờ nóc có khảm đôi chim phụng đang hướng vài các cành hoa tứ quí, ở phần cuối các bờ mái cũng được trang trí hoa văn hình song nước.

          Mặt tiền chánh điện được thiết kế giống như chính diện của các tòa nhà Pháp nhưng thấp hơn, cửa vào chánh điện theo lối tam quan, các cột phía trước, cột ở đông và tây lang đều trang trí hoa văn có nét văn hóa thời Phục Hưng.

Nội hàm kiến trúc với kết cấu chủ yếu bằng gỗ với 4 hàng cột đỡ mái và chia làm 3 gian. Gian giữa thờ Phật, trên cùng là Cửu Long phún thủy thếp nhủ vàng, tác phẩm chín rồng phun nước tắm Phật Thích ca Đản sanh là là một công trình điêu khắc mô tả sống động với đường nét lung linh trên chất liệu gỗ quí hiếm mà cho đến hôm nay phần thếp vàng chưa hề phai nhạt. Tượng Phật Thích Ca chính giữa lớn nhất, có các tượng Phật A Di Đà, Quan Âm, Di Lặc, Phổ Hiền, Đại Thế Chí , Văn Thù . Gian trái thờ Bồ tát Địa Tạng, Ngọc Hoàng, Giám Trai, Quan Công; gian phải thờ Diêm Vương, Tam thế Phật và Tổ Bồ Đề Đạt Ma.

          Hai hàng cột dọc giữa chánh điện có chạm khắc các câu liễn đối, trang trí hình rồng sơn son thếp vàng, các đầu hồi đều được chạm đầu rồng, tại các điểm giao nhau lại có hoa văn kết đặc biệt. Trên gian thờ Phật và thờ Tổ có 2 bức hoành phi được chạm lộng rất công phu hình song long trong tư thế động. Tại các gian thờ đều có những bao lam chạm khắc. Trên tường trang trí các họa tiết hoa lá, có bài trí 3 bộ tranh kiến treo tường với hình ảnh 54 vị Phật; đây là một công trình kiến trúc với cảm quan nghệ thuật độc đáo mà những nghệ nhân đã thể hiện đường nét tuyệt vời vào thời điểm trăm năm trước.

          Sau chánh điện là  sân thiên tĩnh, nối liền chánh điện với phủ thờ gia tộc là hai dãy hành lang có bờ tường và mái che. Mái phủ thờ lợp ngói ống, đầu giềng có diềm ngói hình lá đề cách điệu, các bờ nóc và bờ mái trơn không trang trí hoa văn; mặt tiền phủ thờ bằng gỗ  với cửa tam quan tiếp xúc với sân thiên tĩnh, bên trên có bức hoành phi sơn son thếp vàng được chạm khắc tinh vi hình song long chầu nguyệt nới 4 chữ Hán “ Thế Giang Hạ Gia”. Các bộ phận cấu trúc bên trong phủ thờ hầu hết bằng gỗ, có 3 gian dùng để thờ các vị trong gia tộc Ni sư Diệu Nga và các vị trụ trì, 2 chái dùng làm phòng nghỉ các vị sư. Hai mặt bên hông của phủ thờ và mặt sau được xây tường, mặt sau có 3 cửa ra và 6 cửa sổ. Ở gian giữa, nơi đặt bàn thờ Ni sư Diệu Nga có khánh thờ được chạm trỗ công phu theo phong cách Quảng Đông, bên trang khánh thờ có 5 vách ngăn được chạm khắc tinh vi hình rồng và hoa lá cách điệu lộng lẫy.

          Hai bên phủ thờ có Đông đường là nơi dùng tiếp khách và nơi ở của các tu sĩ; Tây đường dùng làm nhà bếp, nhà kho và nơi nghỉ dành cho Phật tử đến công quả.

          Sau phủ thờ, phía bên trái là nhà vong, bên phải là nhà ở của Ni sư Diệu Nga, ngôi nhà được xây tường, bên dưới là hồ chứa nước mưa để uống, bên trên được chia thành 2 gian, một gian thờ Quán Âm Bồ tát, một gian dùng để nghỉ. Khoảng giữa hai công trình nầy là phần mộ tháp của Sư Thích Hồng Minh và Sư cô Thái Thị Sửu, bên góc phải của Giảng đường là tháp HT Minh Khai.

          Đây là một công trình kiến trúc đặc biệt quí hiếm ở Nam bộ, sự hài hòa trong tư tưởng Tây, Tàu, Việt đã hình thành một tuyệt phẩm nhân gian, tạo nên một phong cách riêng của Bạc Liêu, mái chùa đã đẫm màu cùng đất cùng cây cùng cỏ và tồn tại với năm tháng thăng trầm, nhìn xa toàn cảnh như một bức tranh thủy mặc mà người nghệ sĩ tài ba với cây cọ vẽ điêu luyện đã sáng tạo, người ta sẽ dễ nhận biết rằng ở đây có một thiên tài hội họa, nhìn gần thì dấu ấn chùa Việt thanh tịnh cổ kính, có sự chắt lọc tinh hoa văn hóa kiến trúc dân tộc đã hòa nhập vào đời sống tâm linh của người dân bản địa, bởi nói đến chùa Cô Hai Ngó thì ai cũng đều biết với niềm kính tin và ngưỡng mộ.

 

III. Chùa Vĩnh Phước An:

          Chùa Vĩnh Phước An tọa lạc đường Cao Văn Lầu, phường 2, Tp Bạc Liêu. Lúc đầu chùa có tên chữ là An Hội Phúc tự được xây dựng vào năm 1886, đến năm 1904 đổi tên là Vĩnh Phước An tự thời kỳ nầy chùa do HT Huệ Quang trụ trì. Ngài chuyên về nghi lễ cổ truyền Phật giáo có HT Minh Bảo, Sư Nguyệt Chiếu; Ngài đã nhận Cao Văn Lầu làm đệ tử xuất gia tại chùa và cũng chính nơi đây Ngài đã qui tụ nhiều nhân vật kỳ tài như  Nhạc Khị, Bảy Kiên, Trịnh Thiên Tư, Tư Bình, Ba Chột, Cai Đệ… đã nuôi dưỡng phát triển nhạc cổ và đờn ca  tài tử; chính bản Dạ cổ hoài lang  được sáng tác tại chùa và đã bắt đầu kỷ nguyên mới cho phong trào đờn ca tài Nam bộ. Năm 1969, HT Huệ Quang viên tịch, các thành viên trong gia tộc tiếp tục quản lý cho đến nay vẫn chưa có vị trụ trì chính thức.

Chùa có cấu trúc chữ Đinh, tiền đường là ngôi nhà kiểu Tây có tam quan nhưng không phải cổng mà có lối vào ở 2 bên để đến chánh điện. Mái chùa với 2 tầng lợp ngói âm dương diềm mái có hình lá đề, nóc mái có hình thuyền bài trí lưỡng long triều nguyệt, hai đầu nóc mái uốn cong bởi hoa văn, bên dưới là đôi công với hoa lá cỏ cây, tất cả được nắp bằng những mảnh gốm sứ, sườn nóc có hình Lão Tử tay cầm quạt. Nối tiếp là 4 vòm nóc, mỗi nóc lại có 2 tầng mái. Chánh điện ba mặt xây tường, các vòm mái được kết cấu từ hệ thống cột gỗ đắp những liễn đối chạm hình rồng tinh xảo.  

Nội hàm kiến trúc chánh điện gồm hai dãy cột chia chánh điện làm 5 gian có các bao lam được chạm lộng nhiều nội dung khác nhau như hình lá, hoa, đôi chim …Chính giữa, ở ngôi Tam Bảo tầng trên cùng thờ Di Đà Tam Tôn; tầng kế tiếp Phật Di Đà, có tượng Phật Thích Ca Đản sanh, bên cạnh có Diêu Trì Kim mẫu, Bồ Tát Quán Thế Âm; tầng dưới cùng có  tượng Ngọc Hoàng, Khổng Tử, Lão Tử. Cách tôn trí thể hiện tư tưởng tam giáo đồng nguyên, không rõ sự sắp đặt nầy có từ bao giờ bởi có một số vị trí chưa phù hợp với kinh điển Phật giáo. Đối diện Ngôi Tam bảo là một chân đèn 7 tầng, đằng sau có tượng Phật A Di Đà, 2 bên là tượng Quan Âm và tầng dưới là 2 vị Hộ pháp. Bên phải ở gian đầu chánh điện là tượng 2 vị Thiên vương và đôi chim hạc, tiếp đến là 5 vị Thập điện Diêm vương, tượng Bồ tát Địa Tạng. Bên trái đối xứng là 5 vị Thập điện Diêm vương, Lục Tổ và Bồ tát Quan Âm, tầng dưới là thất vị Tinh tú có đôi chim hạc. Kế tiếp là bàn thờ các người nữ bài vị có tên là Dương Thị Anh , Cô Hai Ên là những người có công lao trong việc xây dựng và trùng tu sửa chửa chùa. Sau bàn thờ Tam Bảo, bên phải là tượng Quan Công, bên trái có tượng Lục Tổ Huệ Năng, Phật Di Lặc và Tổ Đạt Ma.

Nối tiếp Chánh điện và nhà Hậu tổ là nhà Thiên tỉnh hai bên có lầu chuông lầu trống với kiến trúc nhà lầu với vòm mái cong, khoảng không gian chính giữa là tượng Bố Tát Quán Âm.

Nhà Hậu tổ chính giữa thờ Tổ Đạt Ma, HT Huệ Quang, HT An Hóa và có các bài vị, phía trước có tượng Phật Chuẩn Đề. Khuôn viên bên ngoài có tháp HT Huệ Quang.

          Được biết, trước đây quần thể kiến trúc chùa ngoài ngôi chánh điện nối liền nhà Hậu tổ bởi 2 bờ tường thẳng tắp thì hai bên còn có nhà tăng, nhà trù, phía trước là sân ngoài có 2 miễu thờ và một số công trình phụ khác, nhưng nay không còn mà thay vào đó là những tư gia. Chùa Vĩnh Phước An có hơn 60 pho tượng lớn nhỏ nhưng đã bị thất lạc một phần, các tượng được sơn phết một cách tùy tiện không đúng tiêu chuẩn bảo tồn. Các pho tượng lại xếp đặt không theo thứ tự lớp lang, có lẽ do người  ta đem xuống lau chùi sơn phết và đặt lại không đúng vị trí ban đầu.

 

Kết luận:

 

          Văn hóa kiến trúc tự viện là một bộ phận cấu thành của văn hóa Phật giáo, nhìn một ngôi chùa không ghi tháng năm xây dựng nhưng các nhà nghiên cứu có thể đoán biết được tự viện ấy được hình thành trong giai đoạn nào, đi sâu vào kiến trúc người ta có thể biết bối cảnh xã hội trong giai đoạn đó và đặc điểm sinh hoạt của Phật giáo địa phương trong những giai đoạn nhất định, sự phát triển của Phật giáo gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội, văn hóa Phật giáo trong những giai đoạn nhất định của lịch sử đã là mạch sống của văn hóa dân tộc vì thế việc bảo tồn và phát triển công trình văn hóa thể hiện qua kiến trúc tự viện Phật giáo rất cần thiết. Chúng ta cần xác định giá trị, mục tiêu và định hướng việc bảo tồn, trùng tu, xây dựng cho phù hợp với lộ trình phát triển của xã hội mang bản sắc dân tộc, phục vụ đời sống tinh thần vật chất ngày càng cao của thế hệ hôm nay và mai sau.

 

Ý kiến đề xuất:

 

1. Chùa Long Phước:

          Chùa Long Phước là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, thời gian qua có hiện tượng xuống cấp, nền gạch men ở Chánh điện bị suy xuyển, tường có một vài nơi bị loang lỗ, nhà hậu tổ cũng có hiện tượng tương tự. Trong phạm vi tham luận nầy chúng tôi có ý kiến trong việc bảo tồn di tích là phải làm sao gia tăng sự bền vững của công trình lịch sử mà không thay đổi cấu trúc và vật liệu. Nơi đây là một trung tâm sinh hoạt Phật giáo của tỉnh với các giá trị vật thể và phi vật thể được thể hiện qua nhiều thời kỳ lịch sử, vì thế  chúng ta cần có sự đầu tư để bảo tồn các giá trị ấy với sự tham gia của các chuyên gia.

          Theo kế hoạch, Ban Trụ trì chùa Long Phước đang lập thủ tục xây dựng mới chánh điện, trong dự án nầy quí vị cần lưu ý đến việc xây dựng mới phải bảo đảm nhu cầu sử dụng hiện tại mà không gây ảnh hưởng đến công trình lịch sử kiến trúc Phật giáo; đồng thời làm tăng giá trị văn hóa khi cải tạo mở rộng công trình lịch sử, chúng ta cần có kế hoạch phân công cho những người tham gia trực tiếp trong quá trình bảo tồn và phát triển quần thể kiến trúc Phật giáo nầy. Nơi đây sẽ còn nhiều phát triển trong tương lai vì vậy nên có sự qui hoạch tổng thể mang tính chất lâu dài.

 

2. Chùa Giác Hoa:

          Công trình lịch sử đã được tháo dỡ toàn bộ Chánh điện, Hậu tổ và phủ thờ; hiện đang thi công trùng tu toàn bộ di tích. Việc nầy có phép của UBND tỉnh và các ngành chức năng, giám sát thi công công trình có sự phối hợp của Viện Bảo tàng và Ban Văn hóa Tỉnh hội. Tuy nhiên có một số vấn đề cần lưu ý là việc sử dụng các vật liệu kiến trúc của công trình trước đây phải ghi rõ niên đại để phân biệt các kiến trúc mới được thay thế và phục chế lại

 

3. Chùa Vĩnh Phước An:

          Do thế hệ truyền thừa quản lý không phải là tu sĩ, họ không chịu gia nhập Giáo hội mặc dù Tỉnh hội đã làm việc nhiều lần, từ đó nhiều bất cập đã sãy ra; chùa không có trụ trì nên không có Phật tử và khách thập phương đến mặc dù đây là một tự viện có bề dầy lịch sử với kiến trúc công phu, tài tình,  đồ sộ mang giá trị văn hóa nghệ thuật rất cao, có vai trò quan trọng trong việc duy trì phát triển nghi lễ cổ truyền Phật giáo, đồng thời sản sinh những nghệ sĩ tài hoa lỗi lạc. Công trình kiến trúc ngày một xuống cấp, cảnh vật đìu hiu u tịch; đối diện là khu di tích cố Nhạc sĩ Cao Văn Lầu được nhiều người biết đến và các đoàn thăm viếng thường xuyên. Điều mà Tỉnh hội và các cơ quan chức năng, những nhà khoa học trăn trở về số phận một ngôi chùa cổ thuộc dạng quí hiếm tại khu vực đồng bằng, tương lai sẽ về đâu? Phần lựa chọn giải pháp cho vấn đề nan giải nầy chúng tôi xin nhường lại cho quí vị đại biểu có ý kiến đóng góp tìm ra một phương án khả thi.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !