Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Từ tư tưởng Phật đến quan niện tu tại gia (ThS Trần Minh Thương)
Từ tư tưởng Phật đến quan niện tu tại gia (ThS Trần Minh Thương) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
15/12/2011

TỪ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN TÂM NIỆM TU TẠI GIA CỦA NGƯỜI BÌNH DÂN Ở VÙNG SÓC TRĂNG - BẠC LIÊU

* Th.S Trần Minh Thương

Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam

1. Không gian văn hóa và chủ nhân văn hóa vùng đất mới

Ở thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt, Chu Đạt Quan, một người Trung Quốc đến Chân Lạp vào năm 1296 – 1297, đã mô tả vùng đất như sau: Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây. Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy. Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm. Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng (dẫn theo Chu Đạt Quan: Chân Lạp phong thổ kí, Nxb Thế giới, 2009).

         Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, vùng đất Sóc Trăng – Bạc Liêu xưa thuộc đất Ba Thắc (Bassac), thuộc Chân Lạp. Trước khi chính quyền chúa Nguyễn chính thức tiếp quản vùng đất này, năm 1739, từ Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ khai thác tiến về phía sông Hậu, lập thêm bốn đạo Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang, Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Sóc Trăng). Trong đó, Trấn Di thuộc đất Ba Thắc và năm 1778, phủ Ba Thắc thuộc quyền quản hạt của dinh Long Hồ.

Tháng 10, mùa đông năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Ánh cho họa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (sau gồm Vĩnh Long - An Giang) cho liền lạc nhau. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong dinh Long Hồ. Dinh này ban đầu đặt lỵ sở ở Cái Bè (thôn An Bình Đông, Cái Bè ngày nay), sau dời qua ấp Long An, thôn Long Hồ. Sau đó lại dời đến bãi Bà Lúa (trên cù lao Hoàng Trấn), đổi tên thành dinh Hoằng Trấn. Năm Canh Tý (1780), chúa Nguyễn lo ngại ở đây có nhiều người Khmer, nếu có biến thì bãi Bà Lúa quá xa không ứng phó kịp, nên đổi thành dinh Vĩnh Trấn, và dời trị sở về thôn Long Hồ (Vĩnh Long ngày nay).

Đại Nam nhất thống chí viết rằng: Đất Ba Thắc (sau là phủ Ba Xuyên tỉnh An Giang) nguyên là đất Cao Miên, đến đầu thời trung hưng cơ nghiệp chúa Nguyễn của Nguyễn Ánh (tức là khoảng sau năm 1788, sau khi lấy lại được vùng đất Nam Hà từ tay nhà Tây Sơn), Nguyễn Ánh lập đất đó thành phủ An Biên và cho người Man (người Cao Miên) lập đồn điền ở đây. Đến năm Nhâm Tý (1792) Nặc Ấn, tức Narayanaraja III (1779-1796) từ Xiêm La trở về Cao Miên. Nguyễn Ánh cắt đất Ba Thắc trả về cho Nặc Ấn. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), quan phiên (người Cao Miên) là Trà Long xin đặt quan cai trị [đất ấy], Minh Mạng liền đổi tên phủ là Ba Xuyên và cho đặt chức an phủ sứ để quản phủ này. Cũng cần nói thêm phủ An Biên (có lẽ thuộc dinh Vĩnh Trấn) này có lẽ khác với phủ An Biên của Hà Tiên nhà Nguyễn chỉ mới đặt ra vào năm Minh Mạng thứ 7 năm 1826) Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu viết: ....Con Tôn là Ấn thay lên làm vua, nước Trà Và đến xâm lược, Ấn chạy sang nước Xiêm ở bên ấy. Sai Chiêu Trùy Biện giữ nước. Đến lúc Ấn về lập tức sai sứ đem phương vật sang cống ta. Vua cho đất Ba Thắc (năm Minh Mệnh thứ 16 lại đặt chỗ này làm phủ Ba Xuyên).... Như vậy, đất Ba Thắc của Cao Miên, bắt đầu thuộc chúa Nguyễn (do Nặc Ong Nhuận tức vua Ramathipadi II, khoảng năm 1756-1757 dâng cho chúa Nguyễn Phúc Khoát cùng với đất Trà Vinh) giai đoạn 1757-1792; rồi lại về Cao Miên giai đoạn 1792-1835; đến sau đó lại thuộc Việt Nam (thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn).

Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Vĩnh Trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh, đất Nam Hà thuộc nhà Nguyễn được lập thành 5 trấn là: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Trấn Vĩnh Thanh (tức Vĩnh Trấn) gồm 1 phủ (trước là châu) là Định Viễn và 3 huyện là Vĩnh An (trước là tổng Bình An), Vĩnh Bình (trước là tổng Bình Dương), Tân An. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong huyện Vĩnh Bình). Năm 1820, trấn Vĩnh Thanh có 1 phủ (Định Viễn) là 4 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định và Tân An. Srok Treang thuộc huyện Vĩnh Định. Năm Minh Mạng thứ 13 Nhâm Thìn (1832), trong cuộc cải cách hành chính lớn nhất thời nhà Nguyễn độc lập, Minh Mạng chia 5 trấn Nam Kỳ thành 6 tỉnh, riêng trấn Vĩnh Thanh được chia thành 2 tỉnh: Vĩnh Long và An Giang.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn thành lập phủ Ba Xuyên cho thuộc vào tỉnh An Giang (tỉnh An Giang nhà Nguyễn), từ đất Ba Thắc cũ. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện là Phong Nhiêu (Bãi Xàu), Phong Thạnh (Nhu Gia) và Vĩnh Định (Ba Xuyên).

Thời Pháp thuộc, Pháp bãi bỏ Lục tỉnh, chia Nam kỳ ra làm 4 khu vục với 19 hạt (arrondissement). Sóc Trăng được thành lập và trở thành một trong 19 hạt của Nam Kỳ bấy giờ. Tuy nhiên không lâu sau thì chính quyền Pháp tái lập tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng trở thành một phần của tỉnh Bạc Liêu.

Ngày nay Bạc Liêu và Sóc Trăng là hai trong số 13 tỉnh ở miền Tây Nam bộ. Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 2.520,6 km² và dân số (2009) là 856.250 người

Sóc Trăng có diện tích tự nhiên 3.223,3 km² và dân số (2009) là 1.289.441 người. Trên địa bàn hai tỉnh này có nhiều dân tộc sinh sống, chủ yếu là người Kinh, người Khmer và người Hoa sinh sống. Nhiều người Việt (kinh) theo Phật giáo Bắc Tông. Một số Phật tử theo phái Tứ ân hiếu nghĩa hay Phật giáo Hòa Hảo. Trong khi đó Phật giáo Nam tông chi phối cộng đồng người Khmer ở vùng đất này khá sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, đạo đức lối sống và chính trị.

Từ lâu, chùa Khmer là điểm sinh hoạt văn hoá – xã hội của đồng bào. Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục), do sư cả đứng đầu. Thanh niên Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, tạo nên bản sắc dân tộc của mình trên một nền tảng văn hoá chung. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp, …

Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục, tập quán và có nền văn hoá nghệ thuật rất độc đáo. Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn, đội ghe ngo… Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc, ngày lễ lớn như: Chol Thnam Thmay (lễ năm mới), lễ Phật đản, lễ Sel Dol–ta (xá tội vong nhân), Oóc–om–bok (lễ cúng trăng), …

Ở hầu khắp các gia đình nông thôn Tây Nam bộ nói chung và Sóc Trăng – Hậu Giang – Bạc Liêu nói riêng, nhà nào gần như cũng có bàn thờ (trừ những gia đình đồng bào theo đạo Công giáo). Họ thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã quá cố, và thờ Phật, Trời, thờ cả Thổ địa, Thổ thần, … Qua tìm hiểu từ những bậc cao niên, chúng tôi nhận thấy hiện tượng tu tại gia mang những triết lý giáo dục nhân sinh sâu sắc.

2. Tâm niệm tu tại gia

2.1. Thế nào là tu tại gia

Chữ Tu ở đây hiểu theo nghĩa mạng trời gọi là tính, nương theo tính trời gọi là đạo, sửa mình theo đạo gọi là giáo (Thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo - Sách Trung dung). Vậy, Tu nhân tức là sửa mình theo đạo làm người (nhân đạo), mà đạo làm người không hề xa với đạo trời...

Đó là khái niệm của những học thuyết, còn dân gian chỉ hiểu một nét nghĩa đơn giản nhất: Tu là sửa mình.

Tu, khó nhất là tu tại gia, cho nên có câu:

Thứ nhất tu tại gia,

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa

Bởi ở chùa có nhiều thiện duyên nên tương đối dễ tu. Ở chợ lại khó tu hơn một chút vì phải giữ lòng ngay thẳng, không gian manh lường cân tráo đấu; ở nhà lại khó hơn nữa vì bạn ác rủ rê làm ta dễ bị sân si, sa đọa.

Tu tại gia, tự mình ngày qua, tháng lại, tự mình nhắc mình phải làm lành, lánh dữ, khó khăn hơn bội phần.

Theo các người lớn tuổi vùng đất Sóc Trăng – Bạc Liêu thì “tu tại gia” bắt đầu từ khi Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xuất hiện. Tứ Ân Hiếu Nghĩa còn gọi Đạo Lành, hay nói tắt là đạo Hiếu Nghĩa, do Ngô Lợi sáng lập vào năm 1867 tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp. Sau khi vua Hàm Nghi bị đày, Đức Bổn Sư Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn lại những hoạt động tín ngưỡng.

Ngô Lợi chú trọng phát triển Phật giáo theo hình thức cư sĩ, nghĩa là tín đồ không cần ly gia cắt ái hay đầu tròn áo vuông, tín đồ mặc áo vạt hò, quần lá nem, bới tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được... Ít quan tâm đến giáo lý mà chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và lấy việc học Phật - tu nhơn làm nền tảng cho sự hành đạo.

Với sự giao thoa văn hoá trong vùng, từ phái đạo Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đến việc tu tại gia của nhiều đồng bào ở nông thôn Sóc Trăng – Bạc Liêu là điều dễ dàng nhận thấy.

2.2. Những biểu hiện của việc tu tại gia

2.2.1. Bàn thờ       

2.2.1.1. Bàn thờ gia tiên

Cũng như bao gia đình ở miền Tây Nam Bộ này, trong nhà của người dân Việt đất Ngã Năm bàn thờ gia tiên được đặt ở nơi thiêng liêng, tôn kính nhất. Bàn thờ ở chánh diện giữa gian nhà lớn hay nhà trước, hướng ra cửa cái. Ngày xưa, trên mỗi bàn thờ thường có lư hương (phần lớn được đúc bằng đồng, nhà nghèo thì dùng lư bằng sành sứ, có khi lư hương chỉ là một chai thủy tinh cắt ngang, hoặc lon nhôm rồi đổ cát, hoặc tro vào để cắm nhang. Lư được đặt ngay trung tâm của bàn thờ. Lư hương được đặt vững chãi, không xéo, không nghiêng lệch…), hai chân đèn để hai bên (bằng đồng hoặc tiện bằng gổ quý), khi cúng giỗ, hoặc đám cưới, ngày tết, trên chân đèn người ta cắm đèn cầy. Người xưa rất chú trọng đến khoảng cách giữa hai chân đèn và lư hương phải thật đều nhau. Một bên phía trong chân đèn là cái bình để cắm hoa tươi (hoa trồng trước cửa nhà, hay ngoài bờ rào). Một bên bàn thờ là một ống tre, dạt xéo dùng để đựng nhang.

Trên bàn thờ người Việt ở Ngã Năm luôn có cây đèn dầu chong cóc, phía trên ngọn đèn có ống khói để ngăn gió, đèn để ngọn lửa nhỏ cháy suốt ngày đêm, vừa để tiện đốt nhang và cũng để giữ hơi ấm để ông bà “khỏi lạnh”.

Nhiều nhà còn để cạnh đấy cái ống quẹt, phòng khi đèn tắt thì đốt lửa lại ngay. Trên bàn thờ thường có dĩa trái cây, vườn nhà có mãng cầu, đu đủ hay chuối xiêm chín thì lấy trưng lên, … chủ yếu là cây nhà lá vườn được con cháu dâng lên ông bà hưởng.

Ngày trước, ở phía sau lư hương, giữa bàn thờ người ta để miếng gỗ có khắc tên họ, tuổi, quê quán, tóm tắt công nghiệp của người quá cố, gọi là bài vị. Những nhà kỹ tính còn để hộp gỗ, trong là miếng vải tráng in dấu chân, dấu tay của người mất (xem thêm ở bài đám tang của người Việt, chúng tôi nói phần sau công trình này).

Phía trong cùng bàn thờ, bà con thường treo tranh thờ là một bức tranh khổ lớn, thường thấy nhất là tranh cảnh sơn thủy hay hình ảnh một gốc tre già và những mụt măng lô nhô phía dưới để làm nền cho những chữ Hán khổ lớn, thường là các chữ: “Từ đường” (nghĩa là Tổ tiên), hoặc “Cửu huyền thất tổ”: Cửu huyền là chín đời gồm, Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít; Thất tổ là bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ …, trên cùng là ba chữ “Đức - Lưu - Phương” (Hương thơm công đức của tổ tiên còn ngào ngạt đến thế hệ cháu con). Hai bên tranh thờ còn có những cặp đối, liễn, phổ biến nhất là:

Tổ tông công đức thiên niên thạnh (Công đức ông bà ngàn năm thịnh)

Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh (Con hiếu cháu hiền muôn đời vinh hiển)

Người giàu có thì bàn thờ được đóng bằng gỗ quý, cẩn ốc xà cừ hình long, lân, qui, phụng hoặc sơn son thếp vàng. Nhà tá điền nghèo thì thờ ông bà trên kệ ván đơn sơ, chỉ để lư hương, bình bông, … dù đơn giản hơn nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu vững chãi, vẻ thanh thoát và tôn nghiêm. Bàn thờ được quét dọn chùi lau hàng ngày, đến giỗ, tết, bàn thờ lại được chỉnh trang chu đáo (xem thêm ở phần phong tục).

Việc thờ cúng Từ đường là của mọi nhà, riêng thờ ông bà nội, cha mẹ vừa quá cố thường là con trai út, cháu nội, (những người được ông bà, cha mẹ giao phần đất hương hỏa) đảm nhiệm, ở Ngã Năm, con gái, cháu ngoại rất ít khi làm giỗ ông bà, cha mẹ. Dân gian nhắc nhau rằng:

Cá sặt muốn bắt dùng lờ

Mấy đời cháu ngoại mà thờ giỗ ông

2.2.1.2. Bàn thờ Ông độ, Mẹ sanh

Một đứa trẻ từ khi lọt lòng mẹ cho đến lúc trưởng thành đều có những vị thần phù hộ, dân gian nói nôm na là “Bà mẹ sanh”.

Dân gian tôn các vị thần coi việc sản dục như Kim Hoa Thánh mẫu (người Minh Hương gọi là Chú sanh Nương nương, người Việt gọi là Bà chúa Thai sanh, người Hoa quê ở Quảng Đông gọi là Huệ Phước phu nhân), coi việc thai sản và phù hộ trẻ sơ sinh. Dưới quyền Kim Hoa Thánh mẫu có 3 Đức thầy, (tức ba vị Tổ sư hộ sản: Tiên sư, Tổ sư, Chánh sư) và thập nhị Huệ bà, tức 12 bà mụ, coi việc sinh đẻ trong từng con giáp.

Cũng theo dân gian, một người trưởng thành từ 12 tuổi đến 60 tuổi đều có một vị thần hộ mạng, tục gọi “ông độ”, “mẹ độ”. Về hình tượng “ông độ” trong tâm thức dân gian ở Ngã Năm có nhiều quan niệm, cách tính phức tạp. Người thì cho rằng Ngũ công nương Phật (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương, Vương Linh Quan, tức thần Thiên Lôi và Văn Xương Đế quân tức thần Văn học), người khác lại tin Tử Vi Đại đế (vị Tinh Quân ở Bắc cực chuyên trị tà ma), cậu Trày, cậu Quý (hai con của nữ thần Thiên Y A Na) độ mạng phái nam. Còn thần độ mạng phái nữ là Cửu thiên huyền nữ (nữ thần cai quản 9 tầng trời), Bồ Tát Quan âm, Chúa Tiên nương nương và Chúa Ngọc nương nương.

Bàn thờ được lập bằng hình thức trang thờ. Trang đặt trên nóc tủ, có lư hương, có quần áo bằng giấy cho Bà, Ông, hàng ngày thì đốt nhang lúc chạng vạng tối, vào ngày rằm, ba mươi hàng tháng có cúng chè, nước trà, hương, hoa, … Người thờ Phật độ mạng, ăn chay vào các ngày rằm, ba mươi, mùng tám, hai ba. Cách ăn chay cũng rất đa dạng, người ăn 4 ngày, người ăn tám ngày, … trong tháng. Có người ăn tất cả các ngày trong tháng giêng, tháng bảy và tháng mười, …

Tết đến, chủ gia mua các loại đồ mã trang trí như gương lược, giày nón, cờ quạt… để “làm mới” trang thờ.

Thường cứ ba năm thì các chủ gia phải làm lễ “tạ trang”, mời các bà bóng đến rồi dâng lễ. Sau đó, là múa bóng rất rôm rả.

2.2.1.3. Bàn thờ Táo quân

Ông Táo này được thờ ngay trên cửa lò. Có khi chỉ cần cắm nhang vào mỗi chiều tối, không cần bài vị thờ tự trang trọng. Đôi khi chỉ là một miếng ván hình chữ nhật dán câu đối thờ ông : Hữu đức năng ty hỏa/ Vô tư khả đạt thiên

Lễ vật cúng Táo quân cũng rất đơn giản, có gì cúng nấy, khi chén chè, lúc chén cháo, trà, nước, hương, hoa, …

Dân gian cho rằng Táo quân suốt năm ở với thế gian lo việc củi lửa, ăn uống, Hàng năm, vào ngày 23 tháng Chạp thì trở về trời tấu trình. Theo dân gian tưởng tượng thì Táo quân là một vị quan cấp thấp, mình mặc áo bào, mặt đen, đầu đội mão cánh chuồn. Táo quân có ba người hai ông, một bà (tượng trưng cho … ba ông táo lò!). Đến ngày Táo quân về trời người ta nấu chè mua quần áo giấy và đôi hia để cúng. (Người Ngã Năm không cúng các món mặn, không có tục thả cá chép như các nơi khác). Sau ngày ấy, bàn thờ Táo quân không đốt nhang cho đến ngày tất niên (29 hoặc 30 tháng chạp) cúng rước ông bà, sẽ rước Táo quân về luôn.

2.2.1.4. Bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa

Từ thực tế điền dã, đối sánh với các tài liệu folklore của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Huỳnh Ngọc Trảng, chúng tôi nhận thấy quan niệm về Thần tài và Thổ địa của cư dân Ngã Năm không có sự khác biệt nào rõ rệt với cộng đồng người Hoa và người Việt ở những nơi khác của miền Tây Nam Bộ.

Huỳnh Ngọc Trảng cho rằng: Đến cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, thần Đất và thần Tài ở xứ ta vẫn chưa khu biệt rõ. Trong Đại Nam quốc âm tự vị (Sài Gòn, 1895), tác giả Huỳnh Tịnh Của cắt nghĩa Thổ thần và Tài thần đều là “thần Đất, thần giữ tiền bạc” và đến tận bây giờ, thần Tài và Thổ Địa vẫn cứ được thờ chung như một cặp đôi bất khả phân li ở khắp nơi, từ nhà riêng đến tiệm ăn, quán nước, thậm chí ở trên nóc tủ bán thuốc lá lẻ lề đường.

Theo tín ngưỡng của người Việt thì trên trời có Tài Bạch tinh quân, dưới đất cũng có thần Tài âm phủ. Hình tướng vị thần Tài này giống một phán quan, đen thui, trên đầu đội mũ ống cao, có dòng chữ “Nhất kiến phát tài”. Thần Đất khu vực cửa cái, làm chức năng tiếp dẫn viên cho chủ nhà. Thổ địa thường được tưởng tượng là một anh nông dân mập mạp, vui vẻ, tính tình dễ dãi, lúc nào cũng ngậm một điếu thuốc vấn và phe phẩy chiếc quạt mo.

Tục thờ Thổ địa và thần Tài phổ biến từ chợ đến thôn quê. Bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa thường dưới đất và hướng ra cửa nhà, hai bên thường có đôi câu đối:

Thổ sinh nhất kim, ngũ hành chúng trân quý

Địa trưởng vạn vật, tứ quý ca bình vinh.

Từ ngoài nhìn vào, bên trái là ông Thần tài, bên phải là Ông Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy. Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ là một bát nhang, bình bông bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái. Một số người trong khi cúng Thần Tài - Ông Địa, thường cúng kèm theo một đĩa tỏi có 5 củ tươi nguyên đẹp đẽ hay nhiều khi là cả một bó tỏi. Họ cho rằng : ông Địa thích tỏi và đây cũng là phương tiện để ông Địa bài trừ “các đạo chích vong binh” ám muội.

2.2.1.5. Bàn thờ Thông Thiên

Trước sân, nhà nào cũng có một cây cột nhỏ bề cao hơn thước, trên đóng một miếng ván vuông nhỏ sắp một lư hương, hủ gạo, hủ muối, cái ve chai để cắm bông: đó là bàn thờ Ông Thiên (có người gọi là Thông Thiên = thông với Trời, xem ra cách gọi nào cũng có cơ sở cả). Chạng vạng tối, chủ nhà (hoặc ai đó trong nhà) đốt nhang cắm từ bàn thờ ông bà quá cố ở trong nhà đến bàn thờ ông Thiên ngoài trời, … Bàn thờ hình vuông tượng trưng cho đất (thuộc âm), lư hương hình tròn tượng trưng cho Trời (thuộc dương).

Người dân vốn chất phác, phóng khoáng trong cuộc sống và sinh hoạt nên sự hỗn dung trong việc thờ tự cũng được biểu hiện rõ nét. Người ta dễ nhận thấy nhiều bàn thờ Thông Thiên đôi khi còn có kết hợp thờ ông Tà bên cạnh, có khi là mấy hòn đá đặt bên cạnh lư hương, có khi là một góc nhỏ dưới chân bàn thờ Thông Thiên. Gặp ngày giỗ ông bà, hoặc ngày lễ, ngày Tết, cúng tổ nghề, tổ nghiệp… người ta cũng kết hợp luôn để cúng "ông Trời". Nếu trong nhà có một mâm cơm cúng thì trên bàn thờ Thông Thiên cũng có lễ vật, hoặc là hoa quả, hoặc dĩa xôi, có khi rượu thịt. Ngày tất niên, gia đình nào cũng có mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ Thông Thiên, hoặc trái dưa hấu tròn đầy đặn để cúng Trời, cầu nguyện cho sự sung túc cả năm.

2.2.2. Ăn chay

Cũng tuỳ theo từng gia đình, từng người họ tự tâm nguyện với mình. Người ăn chay trường (tức chi ăn món chay không bao giờ ăn mặn), người thi ăn chay nguyên trong tháng giêng (thượng ngươn – nguyên), tháng bảy (trung ngươn) và tháng mười (hạ ngươn), có người chỉ ăn mười ngày trong tháng, có người chỉ ăn vào hai ngày rằm và mồng một hàng tháng, …

2.3. Đi chùa

Tu tại gia, thỉnh Phật về thờ trong nhà, nhưng ngày rằm, ba mươi mồng một hay các ngày lễ lớn của Phật giáo như Vu Lan, Phật đản sinh, hay ngày Tết Nguyên đán, … người ta thường đến các chùa trong vùng để thắp hương, bái Phật, nghe kinh, …

3. Ý nghĩa giáo dục nhân sinh

Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu

(Ca dao)

3.1. Phật giáo đối với gia giáo cổ truyền

Lời khuyên răn của nhà Phật không chỉ dành cho người tu hành mà còn dành cho cả xã hội và chính điều này đã khiến cho Phật giáo có những ảnh hưởng rất đáng kể đối với gia giáo cổ truyền của người Việt.

Một là nhà Phật khẳng định bất cứ ai cũng phải có bổn phận của mình, thoái thác bổn phận là điều không nên. Phạm vi bổn phận của mỗi người tuỳ thuộc vào tuổi tá, giới tính, chức nghiệp và địa vị của họ. Trong nhà, con có bổn phận làm con, cha mẹ có bổn phận làm cha mẹ, ông bà có bổn phận làm ông bà, cả nhà có bổn phận làm đối với tổ tiên, họ tộc và xã hội. Bổn phận là điều kiện để gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, cũng là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm hạnh cụ thể của mỗi cá nhân.

Hai là bên cạnh việc khẳng định trách nhiệm thực hiện bổn phận chung, nhà Phật còn bàn tới những nội dung bổn phận rất cụ thể cho mỗi thành viên trong gia đình.

Bổn phận của con cái đối với cha mẹ mỗi tuổi một khác nhưng điểm chung cho tất cả vẫn là sự tôn kính và hiếu thảo. Lúc nhỏ đó là sự ngoan ngoãn và vâng lời, thực hiện tốt những ý nguyện của cha mẹ. Khi lớn đó là tấm lòng lo toan phụng dưỡng, gánh vác mọi việc để cha mẹ được thảnh thơi và an tâm.

Bổn phận của cha mẹ đối với con cái cũng được kinh sách nhà Phật đề cập khá cụ thể, theo đó thì cha mẹ phải dốc lòng dạy dỗ con cái nên người.

Bổn phận của vợ đối với chồng và chồng đối với vợ được kinh sách nhà Phật nói tới tương đối cụ thể. Trước hết, bổn phận cao nhất của người vợ là f kính yêu chồng và giữ gìn tiết hạnh. Nhà Phật nhắc nhở rằng, phàm đã là chồng thì nên tin cậy ở vợ trong mọi sự sắp xếp lo toan việc nhà và nên sống chung thuỷ, đừng để vợ phải đau khổ vì ghen tuông.

Bổn phận đối với họ hàng thân thích là bổn phận chung. Tình nghĩa họ hàng thân thích, theo nhà Phật, trước hết là sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về cả tinh thần lẫn vật chất.

Bổn phận của chủ nhà đối với người giúp việc và bổn phận của nh giúp việc với chủ nhà, theo nhà Phật cần được phân định thật rõ rệt.

Bổn phận của học trò đối với thầy và của thầy đối với học trò được coi là một trong những bổn phận quan trọng trong quan hệ xã hội.

3.2. Phật giáo đối với đạo đức con người

3.2.1. Từ vô thường đến phép ứng xử đời thường

Nhà Phật có khái niệm vô thường (Anitya) dùng để chỉ sự không ổn định, sự không thường và sự biến đổi. Có sự vô thường diễn ra chậm chạp, gọi là tương tục vô thường nhưng cũng có sự vô thường diễn ra cấp kì, gọi là sát-na vô thường, với con người, nhà Phật thường nói với tam vô thường, gồm có:

Thân vô thường chỉ sự biến đổi liên tục của thể xác.

Tâm vô thường chỉ sự biến đổi liên tục của tâm ý

Hoàn cảnh vô thường chỉ sự biến đổi liên tục của hoàn cảnh sống.

Tóm lại, vô thường lại chính là sự thường, xuyên suốt trong mọi thời gian và không gian. Hiểu được vô thường là sự thường, con người sẽ dễ bình tĩnh trước mọi biến cố của cuộc sống và chính sự bình tĩnh này cho phép chúng ta có thể chọn lựa cho mình một thái độ ứng xử phù hợp nhất. Cao thượng và thấp hèn, anh hùng và phản bội, chính nghĩa và phi nghĩa… tất cả đều nảy sinh từ thái độ ứng xử này. Hiểu được vô thường là sự thường, con người sẽ dễ tìm sự an vui trong thanh tao, xa lánh và lên án sự trả giá.

3.2.2. Từ thuyết nhân quả đến ý thức tích đức cho đời sau

Một trong những thuyết nhà Phật được xã hội biết đến nhiều nhất chính là thuyết nhân quả. Nói theo cách nói của các nhà triết học thì nhân quả là quy luật phổ biến của vạn vật. Từ những vật thể vô tri đến thực vật, động vật và loài người, tất cả đều chịu tác động trực tiếp, thường xuyên và vô tận của nhân quả. Nhà Phật cũng cho rằng, một nhân không thể sinh ra nhiều quả và một quả cũng không bao giờ xuất hiện bởi một nhân.

Không có khái niệm tuyệt đối đơn lẻ của nhân và quả, ngược lại, cả nhân lẫn quả đều là tổng hoà của nhiều tác động khác nhau. Và cũng không hề có sự biệt lập hoàn toàn giữa nhân và quả, ngược lại, trong nhân đã chữa quả, trong quả đã hàm chữa cả nhân. Sẽ thật là sai lầm khi khẳng định rằng, thuyết nhân quả của nhà Phật chính là nguyên bản cố nhất của hai phạm trù triết học hiện đại phản ánh mối liên hệ tất yếu, phổ biến và vốn có giữa các sự vật và hiện tượng: nguyên nhân và kết quả. Nhưng, cũng sẽ là thật sai lầm nếu chúng ta không thấy được hết tính triết lí sâu sắc của thuyết nhân quả mà nhà phật đã nêu ra cách đây hàng ngàn năm.

Tính triết lí sâu sắc của thuyết nhân quả không phải ai ai trong xã hội cũng nhận thức được, nhưng, xã hội bao giờ cũng có cách ứng dụng thiết thực của xã hội. Trong quảng đại nhân dân, dấu ấn của thuyết nhân quả thể hiện rõ nhất ở những quan niệm về giáo dục đức làm người . Tổ tiên ta từng dạy: Ở hiền thì gặp lành, ở ác thì gặp ác; Gieo gió thì gặp bão; Quả báo nhãn tiền, … hay:

Cho hay những kẻ phi loài

Dầu người không giết thì trời chẳng tha.

Và, nếu chưa thấy Quả báo nhãn tiền thì chớ vội tưởng rằng không có quả báo, bởi vì nhân quả nhanh chậm rất vô thường , biết đâu: Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Cho nên, tích đức cho thế hệ sau là để lại gia sản thiêng liêng và vô giá nhất. Từ nhận thức vơi những mức độ khác nhau và từ phép ứng dụng thiết thực thuyết nhân quả vào cuộc sống, đại đức làm người được tôn vinh, vượt lên trên giá trị vật chất khác. Tất nhiên, đại đức làm người giữa bao phong trần biến đổi không phải chỉ có bấy nhiêu, nhưng, một bộ phận cấu thành có nguồn gốc từ thuyết nhân quả là điều không thể phủ nhận.

3.2.3. Từ thuyết luân hồi đến ý thức răn đe điều dữ

Nhà Phật có thuyết luân hồi. Sáu cõi luân hồi mà nhà Phật nói tới là: Địa ngục (Niraya); Quỷ đói (Pretas); Súc sinh (Tiryagyoni); A-tu-la (Âsura); Loài người (Mànusya); Tiên (Dêva)

Trong sáu cõi nói trên, ba cõi đầu với những hình ảnh rùng rợn, có giá trị như lời cảnh báo thật nghiêm khắc đối với bất cứ ai mang tâm làm điều bạc ác. Sống mà chăm làm điều thiện không phải để mơ được luân hồi vào những cói trời tốt đẹp, nhưng ít ra thì cũng thoát cảnh phải lưu đày trong địa ngục hoặc phải đầu thai làm quỷ đói và súc sinh, ít ra cũng làm người cho đáng làm người.

Noi gương lành, tránh điều dữ, đó là ý nghĩa ứng dụng tích cực của xã hội đỗi với thuyết luân hồi. Ở góc độ nhân văn thì luân hồi có thực hay không có thực cũng chẳng đáng lưu tâm bằng ý nghĩa ứng dụng tích cực này. Như trên đã nói, xã hội tiếp nhận giáo lí của các tôn giáo theo cách của xã hội và suy cho cùng thì đó cũng là cách hữu ích.

 

4. Kết luận

Tu tại gia là một hình thức thú vị của Phật giáo vùng sông nước Cửu Long, theo bước chân người mở cõi, Phật Trời luôn có mặt để phù trợ con người vượt qua mọi thử thách từ thú dữ, đến bệnh tật, hoạn nạn, ốm đau, ...

Nó mang trong mình đầy đủ những triết lý nhân sinh sâu xa của học thuyết này đồng thời cũng kết hợp hài hoà với tính cách phóng túng mà hướng thiện trừ dâm của con người miệt kinh rạch chằng chịt này.

Đây là một vấn đề thú vị cần có sự đầu tư cho những công trình nghiên cứu xứng tầm về nó.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online