Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Phật giáo Đàng Trong đôi điều cảm nhận (TS Trần Thuận)
Phật giáo Đàng Trong đôi điều cảm nhận (TS Trần Thuận) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/12/2011

PHẬT GIÁO ĐÀNG TRONG ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN

* TS. Trần Thuận

Trường ĐHKHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh

1.

Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông phong tước Đoan Quận công và cử vào trấn thủ Thuận Hóa – vùng đất biên viễn phía Nam. Nhờ tài năng và đức độ, Nguyễn Hoàng đã được dân chúng hết lòng ủng hộ. Thuận Hóa rồi Thuận Quảng (1600) trở thành sự khởi đầu cho cơ nghiệp của dòng họ Nguyễn gần bốn trăm năm trong lịch sử nước nhà, từ một nửa nước ở phía Nam gọi là Đàng Trong rồi mở rộng ra cả Việt Nam – Đại Nam. Trong hai thế kỷ XVII - XVIII, cùng với sự phát triển của Đàng Trong, Đại Việt không ngừng được mở rộng về phía Nam cho đến tận vùng đất mũi Cà Mau. Kinh tế, xã hội, văn hóa,… Đàng Trong không ngừng biến đổi và phát triển. Phật giáo thời này tuy không là quốc giáo nhưng phát triển mạnh. Các chúa Nguyễn đã hết lòng hộ trì Phật pháp, đã góp phần đáng kể cho việc phát triển Phật giáo Đàng Trong, phục hưng Phật giáo nước nhà.

         Hẳn ai cũng biết rằng, quá trình phát triển của xứ Đàng Trong gắn liền với quá trình mở cõi về phương Nam của dân tộc. Cùng với công cuộc Nam tiến, Phật giáo không ngừng lớn mạnh. Có thể nhận ra một điều rất rõ rằng, trong hơn 200 năm tồn tại của Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã hết lòng sùng mộ và ra sức xiển dương đạo Phật, bản thân chúa cũng quy y Phật Pháp, thọ Bồ Tát giới. Ngay trong danh xưng của các chúa Nguyễn cũng thể hiện rõ tinh thần gắn bó với Phật giáo: Nguyễn Hoàng được gọi là Chúa Tiên, Nguyễn Phúc Nguyên còn được gọi là Chúa Sãi hay Chúa Phật, Nguyễn Phúc Lan gọi là Chúa Thượng, Nguyễn Phúc Tần còn gọi là Chúa Hiền và Nguyễn Phúc Trăn được gọi là Chúa Nghĩa, Riêng Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu là người thọ giới Bồ Tát có hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân và được xưng tụng là Minh Vương, Nguyễn Phúc Chú (Trú) được xưng tụng là Ninh Vương,...

Từ buổi đầu tạo dựng xứ Đàng Trong, Phật giáo đã được đề cao, các nhà sư rất được trọng vọng. Phật giáo đã nhanh chóng trở thành chỗ dựa tin cậy đối với Nguyễn Hoàng và những người kế nghiệp. Các chúa Nguyễn cho xây cất nhiều chùa mới, trùng tu chùa cũ, ban sắc tứ cho nhiều chùa Phật khắp nơi ở Đàng Trong. Đặc biệt, chúa Nguyễn còn khuyến khích các vị sư trong nước cũng như từ Trung Hoa đến hoằng pháp tại Đàng Trong. Bằng những việc làm cụ thể, các chúa Nguyễn đã tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa Phật giáo và chính quyền Đàng Trong, thậm chí đã đưa Phật giáo lên vũ đài chính trị trên vùng đất mới. 

Năm 1601, sau khi từ Thăng Long trở lại Phú Xuân, Nguyễn Hoàng đã cho xây dựng chùa Thiên Mụ. Ngôi chùa mà các chúa Nguyễn không ngừng quan tâm tu bổ như ngôi chùa Tổ. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) sắc trùng tu chùa, công việc kéo dài đến đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu mới hoàn thành. Năm 1710, Phúc Chu lại cho đúc quả chuông đồng nặng 3.285 cân cúng vào chùa với tâm nguyện qua lời minh “Duy nguyện phong điều vũ thuận, Quốc thái dân an, pháp giới chúng sanh đồng viên chủng trí” (tức Nguyện cầu gió hòa mưa thuận, nước thịnh dân an, chúng sinh trong pháp giới đều được vẹn toàn trí tuệ. Quả chuông đó tồn tại cho đến nay); cho thỉnh từ Trung Hoa tam tạng kinh, luật, luận đem về để ở chùa. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu chùa làm tăng thêm vẻ nguy nga, tráng lệ, lại sai người sang Trung Hoa thỉnh Đại tạng kinh hơn ngàn bộ, đem về để tại chùa.

Năm Đinh Mão (1747), Hiếu Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho mở rộng chùa Hàm Long ở Phú Xuân và trịnh trọng đặt tên là chùa Báo Quốc rồi tự tay viết 5 chữ Sắc tứ Báo Quốc tự trên một bức hoành phi hình chữ nhật có trang trí chữ vàng trên nền xanh, hiện nay vẫn còn thấy ở lối vào cửa chính.

Năm Chính Hòa thứ 5 (1684) đời nhà Lê, Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần ban cho chùa Vĩnh Ân ở Phú Xuân một khoản tiền để tôn tạo. Ngôi chùa này được Thiền sư Nguyên Thiều khởi dựng. Khi Hiền Vương mất, Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Trăn nối ngôi, ngày 27.5 Chính Hòa thứ 10 (13.7.1689), Chúa lại ban lệnh không thu thuế đất chùa và đổi tên chùa thành Quốc Ân tự, đồng thời ban tấm biển Sắc tứ Quốc Ân tự. Sau đó, Nghĩa Vương giao nhiệm vụ cho Nguyên Thiều về Quảng Đông (Trung Hoa) mời sư Thạch Liêm sang Việt Nam (1687 - 1690). Sau một đợt hành hương, Nguyên Thiều không những đưa được sư Thạch Liêm và nhiều nhà sư khác sang, mà còn đem về nhiều loại tượng, chuông và đồ cúng lễ.

Năm Giáp Tuất (1754 – tức Cảnh Hưng thứ 15), Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ân ban Sắc Tứ Viên Tông tự cho một ngôi chùa ở Quảng Ngãi. Ngôi chùa này vào năm Thiệu Trị nguyên niên (1848), vì lý do phạm húy nên chùa đổi tên thành Diệu Giác tự tồn tại cho đến ngày nay.

Năm Ất Tỵ (1775), chúa Nguyễn ban sắc tứ cho chùa Kim Chương trên đất Gia Định (nay thuộc Chợ Lớn).

Thật xúc động khi ta biết rằng, Thiền sư Thạch Liêm (Thích Đại Sán) đến Đàng Trong không chỉ xuất phát từ lời mời của Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Trăn và chuyến đi Trung Hoa của Nguyên Thiều mà còn xuất phát từ lời mời của Quốc Chúa Phúc Chu. Trong bài tựa sách Hải ngoại ks của Thích Đại Sán do Quốc Chúa đề tặng cho biết: Ta khi còn làm Thái Tử vẫn thường hay ngưỡng mộ thầy ta ở chùa Trường Thọ. Vua cha ta lúc trước đã gửi thư hai lần mời mà không được. Mùa thu năm Giáp Tuất ta muốn thọ Bồ Tát Giới nên nối chí vua cha, ta đưa người qua rước, may được Hoà Thượng nhận lời mời…. Chúa Nguyễn Phúc Chu nhân lúc Thiền sư Thạch Liêm còn ở Đại Việt đã quy y học đạo, tôn sư làm thầy. Sự gặp gỡ giữa chúa Phúc Chu với Thiền sư Thạch Liêm có thể xem là một mối nhân duyên. Chính nhân duyên ấy đã khiến Chúa sắc cho trùng tu lại chùa Thiên Mụ trong tinh thần nhớ ơn vị thầy mà mình đã thọ giới. Sau khi trùng tu xong chùa, Chúa đã cho khắc vào bia những dòng chữ trịnh trọng: “… Nhớ lại năm xưa, mời được Đường đầu đại sư, tên chữ là Đại Sán, hiệu Thạch Liêm. Ngài là bậc thầy, nguyện lực thâm sâu, lòng thương rộng lớn, y báo chánh báo vô biên, đạo thấu ba thừa, tu có tông chỉ như cây có gốc, nước có nguồn. Ngài được truyền tâm ấn ở đất Chiết Tây Trung Quốc…”, cùng những lời lẽ nhớ thương vô vàn: “… Thầy ta đã đi rồi, ta cứ hoài thương nhớ vị cao tăng, đã từng chống gậy vượt qua núi non, quan ải, dùng thuyền chở đạo, vượt biển, băng suối đi đến trời Nam, đem câu kinh kệ tuyệt diệu để ca tụng đạo mầu…”[1](1).

Trong Hải ngoại kỷ sự, quyển một, cũng ghi rõ: … Ngày mùng 4 tháng 8 năm Giáp Tuất, người nhà gõ cửa tin cho biết có khách là sứ giả nước Đại Việt đến. Sứ giả người tỉnh Phúc Kiến, tay nâng phong thư giấy vàng cung kính, sụp lạy dâng lên cùng với các lễ vật… thưa rằng “Đại Việt Quốc Vương từ lâu ngưỡng mộ Hoà Thượng. … Kể từ tiên vương (tức Nghĩa vương) đã có thư mời, đến nay nữa là ba lần cả thảy. Mời đến ba lần cũng đã thành tâm lắm vậy…[2](2).

Cảm tấm lòng ngưỡng mộ và sùng tín đạo Phật của các chúa Nguyễn mà Thích Đại Sán đã nhận lời mời và ngược lại, bằng sự chân thành của mình, vị Đại sư này đã gửi cho Quốc Chúa một bản điều trần với bốn biện pháp quan trọng cần áp dụng để làm cho đất nước phát triển đi lên.

Với những việc làm trên đây cho thấy, các chúa Nguyễn rất mộ đạo Phật, xem Phật giáo là chỗ dựa tinh thần của chế độ, đặt Phật giáo bên cạnh Nho giáo với những chính sách và thái độ hợp lý để phát huy tốt vai trò tích cực của Phật giáo trong vấn đề hộ quốc an dân, trong việc duy trì an ninh trật tự xã hội.

Chính các chúa Nguyễn đã mở ra xu hướng tòng Nho mộ Thích ở Đàng Trong, một xu hướng gắn bó giữa vương quyền, thần quyền và lưu dân Việt mang tinh thần dân tộc sâu sắc. Việc các chúa Nguyễn sùng mộ đạo Phật, đặc biệt là việc chúa Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ Tát giới cho thấy mô hình Vua – Sư kết hợp được tiếp nối trong tiến trình lịch sử Việt Nam, khởi đầu từ hình ảnh Thái Tổ Lý Công Uẩn, đến Vua Phật Trần Nhân Tông rồi Bồ Tát Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu. Nó như một dòng chảy xuyên suốt hai ngàn năm của Phật giáo Việt Nam gắn bó với lịch sử dân tộc. Điều dễ nhận ra là, cho dù nền chính trị “quân chủ Phật giáo” hay “quân chủ Nho giáo” chăng nữa, mỗi khi có sự gắn bó chặt chẽ giữa chính quyền với Phật giáo, thì ở đó, một xã hội thuần từ có cơ hội để hình thành, phát triển. Các chúa Nguyễn dù vẫn lấy Nho giáo làm chính thống, nhưng không hề đoạn tuyệt, thậm chí còn ra sức xiển dương đạo Phật. Điều đó rất có ý nghĩa trong việc cố kết toàn dân, làm nên đại nghiệp.

Xin nói thêm rằng, bấy giờ Thiên Chúa giáo cũng có những bước phát triển nhất định. Mặc dù chúa Sãi, Túc tông, Thế tông có khi dung nạp đạo Thiên Chúa, nhưng chẳng mặn mà gì, thậm chí có khi chúa ra lệnh cấm đạo và sát đạo đối với tôn giáo mới mẻ này. Trong khi đó, các chúa Nguyễn vẫn dành cho Phật giáo một sự ưu ái và họ đến với Phật giáo bằng cả sự sùng tín cao độ. Có thể thấy rằng, tinh thần phóng khoáng của người Đàng Trong mong muốn tiếp xúc với văn minh phương Tây mới lạ và lợi dụng nó trong cuộc chiến chống lại họ Trịnh ở phía Bắc, đã khiến cho các chúa Nguyễn tỏ ra khoan hòa hơn đối với Thiên Chúa giáo so với Đàng Ngoài. Song, từ trong sâu thẳm, các chúa Nguyễn vẫn hướng về đạo Phật, một tôn giáo mang tính truyền thống, gắn bó với phong tục và tín ngưỡng của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

2.

Từ đầu thế kỷ XVII, ngay trên vùng đất Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã cho dựng chùa thờ Phật. Ta biết rằng, trên dải đất miền Trung, người Chăm vốn theo đạo Bà La Môn hoặc Ấn Độ giáo, còn Phật giáo, dù là Phật giáo Đại thừa cũng chỉ dừng lại ở tầng lớp trên của xã hội, dân chúng chưa có điều kiện để đến với Phật giáo như người Việt ở phía Bắc hay người Chân Lạp ở phía Nam. Trong lịch sử vương quốc Chăm, mỗi khi có ông vua mộ Phật thì trong nước Phật giáo có điều kiện phát triển, nhưng rồi vị vua khác lên cầm quyền không theo đạo Phật, thế là Phật giáo suy tàn,… Chính vì vậy, khi lưu dân Việt đến sinh sống trên vùng đất vốn thuộc vương quốc Champa trước đây, họ phải tự lập chùa để thờ Phật. Chính tinh thần Phật giáo của các chúa Nguyễn có tác dụng thúc đẩy nhân dân đến với đạo Phật, thu hút các vị sư sãi trong và ngoài nước đến hoằng pháp trên đất Đàng Trong. Dấu chân lưu dân Việt đến đâu, chùa Phật mọc lên đến đó. Cùng với lực lượng người Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch vào Nam bộ, trên dải đất Đàng Trong từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII đã xuất hiện nhiều ngôi chùa là cơ sở cho sự sinh hoạt tư tưởng và tín ngưỡng của lưu dân, là tiền đề cho sự phát triển của đạo Phật để thực hiện chức năng ổn định đời sống tinh thần.

Quá trình tạo lập xứ Đàng Trong gắn liền với quá trình khai khẩn của lưu dân. Cuộc sống vất vả khó nhọc lại phải đương đầu với bao thử thách khiến những người lao động không thể nghĩ đến những gì cao siêu mà cha ông họ ở quê nhà thường đề cập với một sự tôn kính: đạo Thánh hiền. Cái họ cần là những gì thiết thực hơn, phù hợp hơn với cuộc sống mới nơi đất khách quê người; những gì có thể vỗ về an ủi họ, giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt. “Họ cần trước hết là những bài học về đức làm người, cụ thể, giản dị và sinh động chứ không phải là (bởi vì cũng khó có thể là) sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn quyển với vô số những triết lý cao siêu. Và, Phật giáo với đội ngũ các nhà tu hành giàu nhiệt huyết nhập thế một cách tích cực đã mau chóng đáp ứng được điều này. Ở đâu có đất mới được mở ra là ở đó có chùa mới dựng. Tiếng chuông chùa và tiếng tụng kinh chẳng khác gì lời ru êm ái đối với cả một xã hội lầm lũi[3](3). Và chúng ta có thể nhận ra một điều rằng, đối với dân chúng, tín ngưỡng Phật giáo đã trở thành hành trang không thể thiếu được trong quá trình di dân mở đất. Nhất là “trong buổi đầu đặt nền móng tại vùng đất Gia Định, tín ngưỡng Phật giáo đã có một vai trò quan trọng, góp phần tăng cường lòng tự tin, khuyến khích sự bền chí và đã tạo được sự yên ổn và phát triển tại vùng đất mới. Nhu cầu cần có thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi qua đời là một đòi hỏi bức bách của lưu dân. Tín ngưỡng Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu ấy và đã tạo tiền đề để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển nhanh chóng của nhiều ngôi chùa trong vùng đất Gia Định lúc bấy giờ[4](4).

Ngoài chùa Thiên Mụ do Nguyễn Hoàng cho xây dựng từ năm 1601 ở Phú Xuân và Thiền Tịnh viện mà Nguyễn Phúc Tần cho xây dựng trên núi Quy Sơn (núi Linh Thái ở gần cửa biển Tư Dung) để Thiền sư Hương Hải hoằng pháp[5](5), có thể điểm qua một số ngôi chùa tiêu biểu được xây dựng ở Đàng Trong trong hai thế kỷ XVII - XVIII, hoặc do dân chúng tạo lập, hoặc do các chúa Nguyễn chủ trương xây dựng:

* Chùa Báo Quốc: Tọa lạc trên đồi Hàm Long, Phường Đúc, Thành phố Huế.

* Chùa Quốc Ân: Tọa lạc ở phía tây núi Ngự Bình dưới đồi Hòn Thiên, thuộc phường Trường An, Thành phố Huế.

* Chùa Hà Trung: Một ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế. Sư Nguyên Thiều trụ trì tại chàu này 40 năm và mất tại đây.

* Chùa Từ Đàm: Tọa lạc tại phường Trường An, thành phố Huế.

* Chùa Thiền Lâm: Được xây dựng dưới chân đồi Quảng Tố, thuộc huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tương truyền chùa do Hòa thượng Thạch Liêm tạo dựng vào cuối thế kỷ XVII[6](6).

* Chùa Linh Sơn: Chùa nằm ở thôn Hiền Lương, tỉnh Khánh Hòa. Thời Tự Đức, (1867) chùa bị cháy. Sau khi xây cất lại, đổi tên thành Linh Sơn tự.

* Chùa Diệu Giác: Nằm ở thôn Phú Lộc, xã Bình Trung, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Theo các tờ khấu trình của Lý hương làng Phú Lộc vào năm Giáp Tuất (1754 – tức Cảnh Hưng thứ 15), Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ân ban Sắc tứ Viên Tông tự cho chùa. Chùa đổi thành Diệu Giác tự từ năm Thiệu Trị nguyên niên (1848).

* Chùa Thập Tháp: Tọa lạc tại huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cách thành phố Quý Nhơn 25 km. Chùa có tên gọi là Thập Tháp (tên đầy đủ là Thập Tháp Di Đà tự).

* Chùa Hội Khánh: Tọa lạc tại số 35 đường Yersin, phường Phú Cường, Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Chùa do Thiền sư Đại Ngạn xây dựng vào năm Tân Dậu (1741).

* Chùa Bà Đen: Một ngôi chùa ở Tây Ninh được xây dựng từ thời cư dân Việt, Khmer, Chăm khai khẩn vùng đất này.

* Chùa Kim Chương: Năm Ất Hợi (1755), Thiền sư Đạt Bản lập một thảo am ở đất Gia Định (nay thuộc Chợ Lớn), lấy hiệu là Kim Chương tự. Khách thập phương đến lễ bái quy y tấp nập nên được chúa Nguyễn ban sắc tứ vào năm Ất Tỵ (1775).

* Chùa Phước Tường: Tọa lạc tại 13/32 ấp Tăng Phú I, phường Tăng Nhơn Phú, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Linh Quang (Phật Chiếu) khai sáng vào năm 1741, trên một khu đất cao.

* Chùa Từ Ân: Tọa lạc tại làng tân Lộc, huyện Tân Bình, Gia Định (nằm trong khu vực gần công viên Tao Đàn hiện nay).

* Chùa Khải Tường: Không lâu sau khi lập chùa Từ Ân, người bạn của sư Phật Ý tách ra lập một ngôi chùa đối diện với chùa Từ Ân. Chùa này có tên là Khải Tường tọa lạc trên đường Võ Văn Tần ngày nay.

* Chùa Giác Lâm: Tọa lạc tại số 118 đường Lạc Long Quân, vùng Cẩm Đệm, phường 16, huyện Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

* Chùa Tổ Đình Hội Thọ: Chùa nằm cạnh vàm Rạch Chùa, thuộc ấp Hưng Mỹ, xã Thiện Chí, tỉnh Tiền Giang. Chùa thuộc chi phái Thiền tông do Tổ sư Thiệt Diệu – tức sư Liễu Quán, người khai sáng ở núi Thiên Thai (Huế) tạo lập.

* Chùa Tam Bảo: Một ngôi chùa tọa lạc ở Hà Tiên. Lúc đầu là một am nhỏ do Mạc Cửu dựng trên vùng đất mới cho mẹ tu từ đầu thế kỷ XVIII. Về sau chùa được xây lại to lớn và khang trang, trở thành chùa Tam Bảo rất nổi tiếng. (…)

Theo kết quả nghiên cứu của của các nhà khoa học thì ở Đông Nam bộ, Cù Lao Phố là trung tâm đầu tiên mà các Thiền sư đã trụ tích tại Nam bộ. “Sử sách còn nhắc đến nhiều ngôi chùa xưa tại đây được sắc tứ, như chùa Vạn An (thôn Phước An, huyện Phước An) chùa Hộ Quốc (thôn Đắc Phước, huyện Phước Chính)… ba ngôi chùa cổ là Bửu Phong, Long Thiền, Đại Giác tiêu biểu cho sự hoằng dương Phật giáo vào miền Nam, tiêu biểu cho những điểm trụ tích đầu tiên của sơ Tổ Phật giáo Nam Bộ. Tại trung tâm Đồng Nai, những ngôi chùa cổ nổi tiếng có các trụ trì xuất thân là đệ tử tài danh của Tổ Nguyên Thiều như chùa Long Thiền, Đại Giác… Từ nơi này, Phật giáo lan tỏa xuống các vùng lân cận là Gia Định với chùa Từ Ân, Khải Tường, Kim Chương, Tập Phước, Giác Lâm…[7](7). Nhiều ngôi chùa cổ còn tồn tại đến ngày nay đã lưu giữ nhiều dấu ấn của một thời mở cõi của dân tộc ta.

Buổi đầu, những ngôi chùa ở Đàng Trong là những am nhỏ được các Thiền sư cất tạm bằng cây lá có sẵn giữa những vùng hoang vắng để tu. Khi lưu dân đến định cư tương đối đông, cuộc sống dần ổn định, chùa được xây dựng kiên cố hơn, ngày càng khang trang hơn, hoạt động rộn rịp hơn nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của dân chúng. Các sư cùng với lưu dân chung tay khai vỡ đất hoang, tạo lập cuộc sống, tu bổ nhà chùa, hoằng dương Phật pháp. Sau một thời gian tồn tại, các ngôi chùa và các nhà sư đã thể hiện rõ tầm quan trọng của mình trong đời sống xã hội và được các chúa Nguyễn lưu tâm, sắc tứ cho chùa. Chính những ngôi chùa này, cùng các vị Thiền sư “khai sơn tạo tự” đã tạo tiền đề cho Phật giáo bám rễ vững chắc trên vùng đất mới. Có thể nói, Phật giáo ở Đàng Trong thời kỳ này đã hòa vào đời sống nhân gian, chung tay xây dựng cuộc sống và hoằng dương chánh pháp, giúp người dân vượt qua khó khăn hoạn nạn, góp phần ổn định cuộc sống. Phật giáo đã tỏ rõ tinh thần nhập thế tích cực của mình, tiếp nối truyền thống Phật giáo Việt Nam từ những thế kỷ trước. Quả đúng là “Phật pháp thị nhập thế nhi phi yếm thế. Từ bi nãi sát sinh dĩ độ chúng sinh[8](8), tức là Đạo Phật là đạo nhập thế chứ không yếm thế. Từ bi là sát sinh để độ chúng sinh.  

3.

Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã được dân chúng hân hoan đón nhận vì lẽ nó phù hợp với phong tục tập quán, phù hợp với đạo lý sống cổ truyền của người dân Việt, lại có thể đáp ứng được những yêu cầu giải thoát về mặt tinh thần cho dân chúng trong thời Bắc thuộc. Các nhà sư luôn gắn bó, sẻ chia với cuộc đời thống khổ của người dân khốn khó. Ở buổi đầu thời độc lập tự chủ, các nhà sư đã trở thành biểu tượng tôn kính, không chỉ đối với tầng lớp bình dân mà cả vua quan trong triều. Thời Lý Trần, Phật giáo nước ta đóng vai trò quốc giáo, định hướng tư tưởng quốc gia. Trải qua quá trình phát triển, Phật giáo Việt Nam đã không ngừng thâu hóa, sáng tạo để thực sự trở thành Phật Việt và luôn đồng hành cùng những bước thăng trầm của dân tộc. Ngay cả thời Lê, khi Nho giáo được đề cao và trở thành “khuôn vàng thước ngọc” cho mọi chuẩn mực xã hội, Phật giáo vẫn tiếp tục là chỗ dựa tinh thần của dân chúng với những việc làm thiết thực.

Phật giáo nhanh chóng thích ứng với môi trường đặc thù của mỗi địa phương và vì thế, trong sinh hoạt tư tưởng và tín ngưỡng của quảng đại quần chúng, quan điểm Phật đã được dân gian hóa. Hơn nữa, sau khi tiếp nhận ảnh hưởng từ bên ngoài, các vị Thiền sư người Việt đã nhanh chóng bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc một cách dễ dàng, tạo nên một sắc thái riêng biệt của Việt Nam. Vì lẽ đó mà có thể nói rằng, Phật giáo đã sinh tồn cùng dân tộc. Và trong sự đồng hành ấy, dân tộc Việt Nam đã tìm thấy ở Phật giáo hệ tư tưởng tiến bộ, có thể dùng làm chỗ dựa cho cả chính quyền lẫn nhân dân trong nhiều chặng đường lịch sử, nhất là trong quá trình mở cõi về phương Nam.

Ở Đàng Trong, điểm dừng chân của các Thiền sư Trung Hoa từ những thế kỷ XVI - XVII đã được ghi lại nhiều trên vùng đất Hội An. Ở miền Đông Nam bộ, nhiều chùa cổ còn đặt bài vị và nhắc đến sự có mặt của Thiền sư Bổn Quả Khoáng Viên (đời thứ 32) và Thiền sư Nguyên Thiều (đời thứ 33 dòng Thiền Lâm Tế, được xem là đời thứ nhất dòng Lâm Tế ở Việt Nam). Chùa Đại Giác, chùa Kim Cang, chùa Long Thiền,… ở tỉnh Đồng Nai, thuộc Cù Lao Phố xưa, đã có dấu chân hoằng hóa của các Thiền sư Trung Hoa và những ngôi chùa do họ khai sáng, trụ trì. Từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn thường mời những Thiền sư Trung Hoa sang khai sơn các chùa và mở giới đàn ở Phú Xuân. Tuy nhiên, theo chúng tôi, trước khi các nhà sư Trung Hoa được chúa Nguyễn trọng vọng, sùng kính, các nhà sư Việt Nam đã có một vị thế quan trọng. Thoạt đầu là sự có mặt của các Thiền sư Viên Cảnh, Viên Khoan thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Sự hưng thịnh của dòng Thiền này diễn ra dưới thời Thiền sư Minh Châu – Hương Hải (1628 - 1715). Sau khi Thiền sư Hương Hải bỏ ra Đàng Ngoài, chúa Nguyễn mới có chủ trương rước Thiền sư Nguyên Thiều, lúc ấy đang ở Quy Nhơn ra Phú Xuân thay cho Thiền sư Hương Hải.

Sau khi khánh thành chùa Thập Tháp Di Đà ở Quy Nhơn, với lời mời của chúa Hiền, sư Nguyên Thiều đến Phú Xuân, lập chùa Phổ Thành ở Hà Trung (Phú Lộc, Thừa Thiên Huế) rồi được chúa Nghĩa Phúc Trăn yêu cầu sư về Trung Hoa thỉnh sư tăng, kinh tạng vào Đàng Trong. Khi trở lại Phú Xuân cùng với nhiều vị sư Trung Hoa và kinh sách, được chúa Nghĩa hỗ trợ mở đàn truyền giới cho số nhà sư mới từ Trung Hoa sang, số tăng sĩ mới thọ giáo cùng các nhà sư thuộc phái Trúc Lâm còn ở lại Đàng Trong. Sau sự kiện này, Đàng Trong không còn Thiền sư nào thuộc phái Trúc Lâm, tất cả đều theo phái Lâm Tế.

Từ đó, ở Đàng Trong tồn tại các dòng Thiền cơ bản với các Thiền sư nổi tiếng:

* Phái Thiền Lâm Tế: Ở các tỉnh miền Trung có các vị sư danh tiếng như Thiền sư Viên Cảnh, Viên Khoan ở Quảng Trị; Thiền sư Giác Phong, Từ Lâm ở Thuận Hóa; Thiền sư Pháp Bảng ở Quảng Ngãi; Thiền sư Tế Viên ở Phú Yên; Thiền sư Nguyên Thiều ở Bình Định,…

* Phái Thiền Tào Động[9](9) có Thiền sư Hưng Liên ở Quảng Nam, Thiền sư Thạch Liêm ở Thuận Hóa,…

* Phái Liễu Quán do Thiền sư Liễu Quán khai sáng. Liễu Quán là nhà sư ở Phú Yên, vốn thuộc dòng Lâm Tế ở Trung Hoa. Ông có 4 người đệ tử lập được 4 trung tâm hoằng đạo.

Có thể thấy, từ buổi đầu kiến lập, Phật giáo Đàng Trong đã có sự tích hợp nhiều Thiền phái trong và ngoài nước. Các vị sư nước ta (thuộc Thiền phái Trúc Lâm và Liễu Quán) cũng như những Thiền sư nước ngoài (thuộc Thiền phái Lâm Tế và Tào Động) đều có công lao lớn với sự truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong. Nhiều người trong số họ, đã góp phần làm nên cái riêng có tính chất bản địa, để từng bước tạo dựng một nền Phật giáo mang màu sắc Việt Nam, và rất riêng ở Đàng Trong, cố nhiên trong đó, các Thiền sư thuộc Thiền phái Trúc Lâm và Liễu Quán đóng vai trò nòng cốt. Đặc biệt Thiền sư Liễu Quán đã làm cho Thiền phái này được Việt hóa, và trở thành phổ biến trên mảnh đất Đàng Trong.

Tính đa sắc diện của Phật giáo Đàng Trong còn thể hiện ở sự gặp gỡ và hỗn dung tông phái: Tịnh – Thiền – Mật; sự hòa hợp giữa Phật giáo quý tộc và Phật giáo bình dân; giữa hệ phái Bắc tông và Nam tông,... Nói cách khác thì, Phật giáo Đàng Trong đã thể hiện sự thâu hóa tinh hoa và sáng tạo tuyệt vời để có được sắc thái mới mẻ. Điều đáng lưu ý là Phật giáo Đàng Trong theo hệ phái Bắc tông là chính và thời kỳ đầu Thiền tông chiếm ưu thế, nhưng càng về sau, xu hướng Tịnh Độ và Mật Tông ngày càng tỏ ra có phần lấn át Thiền tông, nhất là ở Nam bộ.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, từ thế kỷ XVII, có ba hướng hoằng dương đạo pháp vào vùng đất Đàng Trong. Hướng thứ nhất là hệ phái Bắc tông theo chân các di dân từ Thuận Quảng đi vào phía Nam. Hướng thứ hai đi từ Trung Hoa vào Nam bộ theo chân các Thiền sư trong các đoàn thuyền binh của Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên. Họ đến đây từ cuối thế kỷ XVII, xây dựng chùa chiền ở vùng đất Cù Lao Phố (Đồng Nai) và Mỹ Tho (Tiền Giang). Hướng thứ ba từ Chân Lạp theo chân Mạc Cửu góp phần xây dựng trung tâm phố thị Hà Tiên.

Trong khi các tông phái thuộc hệ phái Bắc tông (trong cộng đồng người Việt và người Hoa) phát triển ngày càng mạnh mẽ ở Đàng Trong, thì trên vùng đất Nam bộ vốn đã tồn tại và phát triển Phật giáo Nam tông của người Khmer. Trong quá trình cộng cư, giữa người Việt, Hoa và Khmer đã có sự giao thoa văn hóa một cách mạnh mẽ, trong đó có sự giao thoa giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian của các tộc người.

Một nét đặc biệt rất đáng được lưu tâm là Phật giáo Đàng Trong tồn tại và phát triển trong một tinh thần viên dung tam giáo Phật – Lão – Nho và các tín ngưỡng dân gian Hoa, Việt. Ta có thể nhận ra điều này khi nghiên cứu chùa Diệu Giác ở Quảng Ngãi và tao đàn Chiêu Anh Các ở Hà Tiên. Chùa Diệu Giác, ngoài gian chính ở giữa thờ Đức Phật A Di Đà đang ngồi thiền định, bên phải là Đại Thế Chí, bên trái là tượng Quan Âm Bồ Tát. Phía sau cụm tượng này là tượng Thích Ca Mâu Ni ở tư thế đứng. Có một án thờ phía tả thờ Đức Khổng Tử – một pho tượng bằng gỗ quý hiếm, niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVII; án thờ phía hữu thờ Quan Công, Chu Thượng và Quan Bình cùng ngựa xích thố,…[10](1). Và thật thú vị khi ta biết rằng, chúa Nguyễn Phúc Chu sử dụng cả đạo hiệu của mình (Thiên Túng Đạo Nhân, một danh hiệu của Đạo giáo) trong hoạt động hành chính như phê chuẩn cho một đại thần về hưu,…  

Chính sách cởi mở của các chúa Nguyễn đối với Phật giáo đã sản sinh ra những hiện tượng mới mẻ, độc đáo, phản ánh đặc trưng tính chất phong phú, đa sắc của cuộc sống cộng cư Nam bộ. Đầu thế kỷ XVIII, ở Tây Nam bộ xuất hiện một thi xã đặc biệt của xứ Đàng Trong: Tao đàn Chiêu Anh Các.

Cái độc đáo của Chiêu Anh Các là sự hòa đồng tam giáo và sự hội nhập văn hóa. Ngoài lực lượng đông đảo các nhà nho còn có các nhà sư và đạo sĩ như Hòa thượng Hoàng Long, Tô Dần Đạo sĩ. Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tứ mở ra từ năm Bính Thìn (1736), trong số hơn 75 thành viên tham gia xướng họa ở đây có cả người Hoa gốc Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu và người Việt. Họ đến từ nhiều nơi khắp cả Đàng Trong (từ phủ Triệu Phong, phủ Qui Nhơn đến phủ Gia Định) và cả Trung Hoa.

Ở Đàng Trong, Phật giáo cung đình đã hòa với Phật giáo dân gian. Ta thấy, các chúa Nguyễn, đặc biệt là chúa Nguyễn Phúc Chu, một vị chúa sùng kính đạo Phật đến mức thọ giới Bồ Tát, đã tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều ngôi chùa Phật. Trong khi đó, nhiều ngôi chùa do dân bỏ tiền ra xây dựng hoặc của dòng họ dùng làm từ đường rồi “cải gia vi tự”. Không ít ngôi chùa vì có công với vua chúa nên được sắc tứ. Nhưng sự phổ biến là nhiều ngôi chùa do nhân dân và các Thiền sư tạo dựng, trùng tu rồi các chúa Nguyễn ban sắc tứ danh. Ở đây không chỉ vì chính các ngôi chùa và sư sãi có công lao trong việc ổn định đời sống xã hội, mà còn xuất phát từ cái tâm Phật giáo của các chúa Nguyễn. Trong các giới đàn có sự hỗ trợ của chính quyền chúa Nguyễn, không chỉ có các nhà sư mà còn có những quan chức nhà nước, những quý tộc tôn thất bên cạnh những Phật tử bình dân. Họ cùng thọ giới, quy y, cùng hướng tâm vì đạo pháp.

4.

Chiến tranh là con dao hai lưỡi, nó có thể góp phần thúc đẩy cho Phật giáo thăng hoa, nhưng cũng có thể làm cho Phật giáo suy tàn. Trong hai thế kỷ XVII - XVIII, trên đất nước ta diễn ra hai cuộc chiến tương tàn: Cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn diễn ra từ 1627 đến 1672 và cuộc chiến giữa Tây Sơn với hai tập đoàn Trịnh – Nguyễn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra từ 1771, lúc phát triển thành phong trào dân tộc đã đánh bại 5 vạn quân Xiêm và 29 vạn quân Thanh xâm lược, bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng. Tuy nhiên, cả hai cuộc chiến tranh, ngoài nhiệm vụ dân tộc trong khởi nghĩa Tây Sơn, là sự tiêu diệt lẫn nhau giữa các thế lực trong nước: Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn diệt Trịnh và Nguyễn, đã tác động sâu sắc đến đời sống xã hội. Một thực tế xã hội đã gạt bỏ những ảnh hưởng của Nho giáo vốn đã không mấy mặn mà trên vùng đất mới. Đối với Phật giáo Đàng Trong, hai cuộc chiến tranh cũng đã chi phối mạnh mẽ, tạo nên những bước thăng trầm. 

Cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh đã thúc đẩy công cuộc Nam tiến của dân tộc, tạo ra một vùng lãnh thổ rộng lớn và cùng với nó là quá trình định cư của lưu dân Việt, quá trình cộng cư của các tộc người trên vùng đất Đàng Trong. Phật giáo đã theo chân lưu dân vào vùng đất mới và được các chúa Nguyễn ra sức hộ trì nên có điều kiện phát triển thăng hoa.

Cùng với Phật giáo của người Việt, người Hoa, Phật giáo của người Khmer cũng phát triển làm cơ sở cho sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người, tạo nên sắc thái mới của Phật giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVIII, trong những trận chiến nảy lửa giữa quân đội Tây Sơn với quan quân Nguyễn Ánh, nhiều chùa chiền đã bị đốt phá, triệt hạ, nhất là những ngôi chùa mang đậm những dấu ấn của các chúa Nguyễn. Phật giáo Đàng Trong thời gian này có sự suy giảm so với trước. 

Nguyễn Ánh thống nhất giang sơn, lập nên vương triều Nguyễn. Các vua Nguyễn, từ Gia Long, đã một lần nữa lấy đạo Nho làm nền tảng tư tưởng để xây dựng vương triều. Tuy nhiên, một số vua Nguyễn vẫn đến với Phật giáo với tinh thần cởi mở thân thiện, Phật giáo vẫn tồn tại một cách bền vững trong dân gian, và tất cả đã góp phần cho sự chấn hưng Phật giáo nước nhà vào đầu thế kỷ XX.

 

          Từ Nguyễn Hoàng – Chúa Tiên, “một Phật tử được thiên mệnh phó thác”, mở đầu cho một thời kỳ phát triển của Phật giáo trên vùng đất mới, phương Nam của nước Việt. Suốt hơn 200 năm tồn tại và phát triển, với lập trường dung hóa Phật Nho của các chúa Nguyễn, Phật giáo Đàng Trong đã đồng hành cùng quá trình mở cõi, khai phá đất đai, định hình môi sinh trù phú, góp phần ổn định chính sự, hình thành lẽ sống và niềm tin cho dân chúng, tạo nên nét đặc trưng văn hóa cho vùng đất phía Nam.

          Phật giáo Đàng Trong rõ ràng đã thể hiện sự kết hợp cao những yếu tố nội sinh và ngoại sinh, sự khoan hòa và thâu hóa sáng tạo, mang tinh thần thống nhất trong đa dạng và thực sự trở thành động lực phát triển cho mảnh đất Đàng Trong.

 

Chú thích:

(1) Bia chùa Thiên Mụ của chúa Nguyễn Phúc Chu, Thích Giới Hương dịch, Thích Trí Tựu cung cấp, 1994.

(2) Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế dịch.

(3) Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương Lịch sử văn hóa Việt Nam, tập II, Nxb. Giáo dục, tr. 156.

(4) Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tim hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb. Khoa học xã hội, tr.15.

(5) Bấy giờ có hàng ngàn quan dân binh lính và tôn thất họ Nguyễn đến thọ giáo với Thiền.

(6) Thời Tây Sơn, Thái sư Bùi Đắc Tuyên không ở trong đại nội mà cùng bộ lại lấy chùa làm căn cứ địa chống chúa Nguyễn. Tây Sơn đổ, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu – vợ vua Gia Long bỏ tiền của trùng tu chùa. Hiện trong chùa còn giữ một quả chuông đồng đúc vào thời Lê Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716).

(7) TS. Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 30.

(8) Cặp câu đối của nhà sư Thiện Chiếu đặt ở cổng chùa Linh Sơn.

(9) Dòng Thiền Tào Động cũng được truyền từ Trung Hoa sang. Sự xuất hiện của dòng Thiền Tào Động gắn liền với sự kiện Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Hòa thượng Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh các bậc cao tăng sang hoằng pháp tại xứ Đàng Trong. Trong số các Thiền sư được Nguyên Thiều đưa sang Đàng Trong, nổi bật nhất là Hòa thượng Thạch Liêm và Hòa thượng Minh Hoằng. Hòa thượng Minh Hoằng thuộc dòng Lâm Tế, còn Hòa thượng Thạch Liêm thuộc dòng Tào Động (đời 29 dòng Tào Động Trung Hoa)

(10) Chùa Diệu Giác còn là ngôi chùa duy nhất có sự hiện diện của các Thiền sư thuộc nhiều Thiền phái khác nhau: Thiền phái Trúc Lâm ở giai đoạn khai sơn chùa, Thiền phái Liễu Quán dòng Lâm Tế ở giai đoạn khởi phát và hưng thịnh và cuối cùng là sự hiện diện của các Thiền sư Lâm Tế của phái Minh Hải ở chùa Thiên Ấn trong giai đoạn về sau.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Trần Văn Bính (CB, 2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ – Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị quốc gia.

2.     Nguyễn Hiền Đức (1995), Phật giáo Đàng Trong, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.

3.     Nguyễn Khoa Chiêm (2003), Nam triều công nghiệp diễn chí, Nxb. Hội nhà văn.

4.           Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

5.           Nguyễn Hữu Hiếu (2002), Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất Phương Nam, Nxb. Trẻ.

6.     Vũ Ngọc Khánh (CB, 2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb. Thanh Niên.

7.     Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Văn học.

8.     Nguyễn Lang (1974), Việt Nam Phật giáo sử luận, Lá Bối.

9.     Ngô Cao Lãng (1975), Lịch triều tạp kỷ, tập I, Nxb. Khoa học xã hội.

10.             Trần Hồng Liên (1995), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam (từ thế kỷ XVII đến 1975), Nxb. Khoa học xã hội.

11.   Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb. Khoa học xã hội.

12.             Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổng tài Quốc sử quán Cao Xuân Dục (1998), Quốc triều chính biên toát yếu, Nxb. Thuận Hóa.

13.             Quốc sử quán triều Nguyễn (1973), Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, Tu Trai Nguyễn tạo dịch, tập Thượng, Trung, Hạ. Nha Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa tái bản, Sài Gòn.

14.             Thích Mật Thể (1960), Việt Nam Phật giáo sử lược, Minh Đức tái bản và phát hành, Sài Gòn.

15.             Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục.

16.             Thích Minh Tuệ (1993), Lược sử Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh ấn hành.

17.             Thích Thanh Từ (1999), Thiền sư Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.

18.             Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam – Viện Khoa học xã hội, Viện nghiên cứu tôn giáo, Kỷ yếu Hội thảo Chúa – Bồ Tát Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) và sự nghiệp mở mang bờ cõi, phát triển đất nước, Tp. Hồ Chí Minh, 8.2011.

 

 

 

 



[1] Bia chùa Thiên Mụ của chúa Nguyễn Phúc Chu”, Thích Giới Hương dịch, Thích Trí Tựu cung cấp, 1994.

[2] Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế dịch.

[3] (3) Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương Lịch sử văn hóa Việt Nam, tập II, Nxb. Giáo dục, tr. 156.

[4] (4) Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tim hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb. Khoa học xã hội, tr.15.

[5] (5) Bấy giờ có hàng ngàn quan dân binh lính và tôn thất họ Nguyễn đến thọ giáo với Thiền.

[6] (6) Thời Tây Sơn, Thái sư Bùi Đắc Tuyên không ở trong đại nội mà cùng bộ lại lấy chùa làm căn cứ địa chống chúa Nguyễn. Tây Sơn đổ, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu – vợ vua Gia Long bỏ tiền của trùng tu chùa. Hiện trong chùa còn giữ một quả chuông đồng đúc vào thời Lê Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716).

[7] (7) TS. Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 30.

[8] (8) Cặp câu đối của nhà sư Thiện Chiếu đặt ở cổng chùa Linh Sơn.

[9] (9) Dòng Thiền Tào Động cũng được truyền từ Trung Hoa sang. Sự xuất hiện của dòng Thiền Tào Động gắn liền với sự kiện Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Hòa thượng Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh các bậc cao tăng sang hoằng pháp tại xứ Đàng Trong. Trong số các Thiền sư được Nguyên Thiều đưa sang Đàng Trong, nổi bật nhất là Hòa thượng Thạch Liêm và Hòa thượng Minh Hoằng. Hòa thượng Minh Hoằng thuộc dòng Lâm Tế, còn Hòa thượng Thạch Liêm thuộc dòng Tào Động (đời 29 dòng Tào Động Trung Hoa)

[10] (10) Chùa Diệu Giác còn là ngôi chùa duy nhất có sự hiện diện của các Thiền sư thuộc nhiều Thiền phái khác nhau: Thiền phái Trúc Lâm ở giai đoạn khai sơn chùa, Thiền phái Liễu Quán dòng Lâm Tế ở giai đoạn khởi phát và hưng thịnh và cuối cùng là sự hiện diện của các Thiền sư Lâm Tế của phái Minh Hải ở chùa Thiên Ấn trong giai đoạn về sau.

Cập nhật ( 16/12/2011 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online