Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow Đặc điểm nội dung (Trần Như Ý)
Đặc điểm nội dung (Trần Như Ý) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/01/2012

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG BÚT KÝ PHAN TRUNG NGHĨA

* Trần Như Ý

Trường Đại học Bạc Liêu

1. Dẫn nhập

Viết văn là công việc của trái tim. Viết văn xuất phát từ cảm xúc chân thành”. Đó là lời tâm sự chân tình của nhà văn Phan Trung Nghĩa khi chúng tôi được trực tiếp trò chuyện với ông. Phan Trung Nghĩa là nhà văn được biết đến với những bài bút kí đặc sắc khi viết về con người và cuộc sống của vùng đất Bạc Liêu – nơi ông đã được sinh ra, được trực tiếp chứng kiến những sự thật lịch sử, những vận động, đổi thay và phát triển. Thế nên không có gì lạ khi những dòng bút kí của ông cứ xô đẩy vào tâm thức ta một thứ ám ảnh nào đó về sự biến thiên của cõi đời này.

2. Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong bút ký Phan Trung Nghĩa

2.1. Đặc điểm nội dung

2.1.1. Mảng đề tài thiên nhiên và nông thôn

Hầu như mảng đề tài thiên nhiên và nông thôn đều được những cây bút của Đồng bằng sông Cửu Long đưa vào trang viết, như Phạm Trung Khâu, Ngô Khắc Tài, Phạm Thường Gia, Vũ Hồng, Lê Đình Trường, Nguyễn Lập Em, Võ Đắc Danh, Diệp Mai, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh,…Thế nhưng bút kí Phan Trung Nghĩa mang một dư vị riêng mà khó ai có thể nhầm lẫn với những ngòi bút khác. Cũng hiền hoà, mộc mạc, chân thực, sống động tự nhiên nhưng đâu đó đang hiện lên một tâm hồn đang ngày đêm bị giày xéo bởi sự mai một dần của nét hồn xưa dân tộc; ở đâu đó là một nỗi buồn về những kiếp người bé nhỏ, lênh đênh.

Bút ký của Phan Trung Nghĩa (trong hai tập Khách thương hồ Đạo gác cu miệt vườn) đều nhắc nhở cho ta một bài học mới về đạo làm người. Đạo làm người ở đây không chỉ là cách ứng xử giữa người với người mà còn là những bài học cho con người về lối hành xử với thiên nhiên, với những tài nguyên quý giá mà chỉ miền Tây sông nước mới có được. Có lẽ những lớp người như ông bị chiến tranh đói nghèo đày đọa và “khi lớn lên tất người ngợm chẳng ra gì. May mà có những thứ như chim sáo, giai điệu lý con sáo đưa cái ngọt mát của quê hương vào lòng nên tâm hồn chẳng đến nỗi nào.” (Đạo gác cu miệt vườn, tr.16). Chính thiên nhiên gội rửa được tâm hồn người ta, mang đến cho con người những tình cảm tốt lành và mời gọi con người hãy sống hòa mình với nó. Vì lẽ đó, Phan Trung Nghĩa nhắc nhở ta nên có một cách hành xử đúng đắn với thiên nhiên. Đó là một giá trị nhân văn sâu sắc.

Đọc bút kí Phan Trung Nghĩa ta thấy cái khí chất thật Nam Bộ, thật gần. Xét cho cùng, lời văn của ông cũng là giọng điệu tự nhiên của lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng sao khi thâm nhập vào các tác phẩm ấy thì nó trở nên khác lạ. Nó như một lời thì thầm của đất, của những giá trị xưa đang nằm trong quên lãng. Có những lúc tâm hồn ta như đang bị thả trôi theo miền kí ức “Nào có hay đâu, chính lúc ấy, cái hồn sông nước đã nhập vào hồn người, làm nên cái máu me lang bạt trên sông nước của con người…” (Khách thương hồ, tr.10). Cũng có khi giật mình bởi một lời kết luận, nhận xét sâu xa “Mỗi một vùng miền có riêng một sản vật, một tập quán đẹp, cá kèo mất đi thì cũng sẽ mất đi một trong những nét riêng của vùng đất này.” (Cá kèo nổi như mù u rụng, tr.66). Đâu đó là nỗi buồn day dứt trước những mất mát hữu hình và vô hình: “Bất giác, tôi ứa nước mắt, tôi xúc động về sự mồ côi của dân xóm mồ côi, về tài nguyên rừng biển quê hương đã dần cạn kiêt”. (Xóm mồ côi, tr.94).

Nhìn chung, hiện thực trong bút kí Phan Trung Nghĩa là một bức tranh yên ả, thanh bình, sống động và gần gũi tự nhiên. Bạn đọc thấy được sự trù phú và giàu đẹp của thiên nhiên, cảm nhận niềm nuối tiếc của riêng ông và đối với cả chính ta về những giá trị xưa đang dần thôi ngự trị. Đồng thời ta cũng thấy được một bức tranh cuộc sống đa sắc màu, thân quen bởi sự miêu tả rất tự nhiên của nhà văn về nếp sinh hoạt, phong tục của của người quê đậm nét miền Tây Nam Bộ. Điều đáng trân trọng ở bút kí của ông là những kho tàng kiến thức về lịch sử, địa lí, văn hóa của một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi. Chúng nhẹ nhàng đi vào nhận thức của người đọc bằng lời văn ngọt ngào, truyền cảm và ấn tượng. Kí ức mục đồng là cả một mảng kiến thức về loài trâu, về nghề chăn trâu mà trong đó hiện lên là hình ảnh cơ cực và những niềm vui nhỏ nhoi của những chú mục đồng. Còn Đặt trúm ở rừng U Minh làm lòng người thích thú và “thèm khát” những sản vật nơi đây, rồi sau đó là cảm giác tiếc thương cho sự tàn phá chính cái nơi đã từng nuôi sống họ bằng sự ưu đãi của thiên nhiên: “Những người xưa khi khai mở đất U Minh – rừng thiêng nước độc, ngoài sự dũng cảm thì còn sự sáng tạo nữa. Đó là một thứ sáng tạo nương nhờ, luồn lách vào thiên nhiên mà sống. Như món canh chua trái giác đây, lươn dưới đất ruộng bắt lên, trái giác trong rừng hái ra, bông súng dưới đầm, bàu rừng nhổ lên…rồi kết hợp lại thành một thứ văn hóa ẩm thực tuyệt diệu.” (tr.74). Cuộc đời bình dị đơn sơ nhưng cũng rất yên lành ấy được sản vật của rừng U Minh nuôi dưỡng. Vâng “đời người đời cây là một sự cộng hưởng hài hòa chứ không mâu thuẫn” nhưng .... “U Minh bây giờ chỉ còn những rừng trồng mới. Đó là những cánh rừng cây cối khẳng khiu, thâm thấp.” (tr.77).

2.1.2. Mảng đề tài đạo đức, tính cách con người

Nội dung trong bút kí Phan Trung Nghĩa chỉ đơn thuần giống như những câu chuyện, lối sinh hoạt hằng ngày nhưng lại mang đến một giá trị vô cùng quý báu về sự nhận thức và tình cảm cho con người. Ta đau xót cho những con người khốn khó từ nỗi đày đọa của chiến tranh, từ một nền nông nghiệp lạc hậu. Nhưng ta yêu ngay những con người lao động hiền lành chất phác, gần gũi, tuy nghèo khổ, nhọc nhằn nhưng giàu nhân giàu nghĩa dù có những tình người sao…chua chát, giả dối. Phan Trung Nghĩa yêu những con người nông dân sống giữa những lam lũ khốn khó thường ngày nhưng tâm hồn vẫn thấm đượm nét hồn xưa của quê hương, dân tộc. Là một nhà văn Nam Bộ nên trong nội dung bút kí Phan Trung Nghĩa có những con người rất Nam Bộ. Đọc kĩ lại, con người trong bút kí của ông có thể phân ra từng “nhóm” như sau:

Nhóm thứ nhất là những con người trầm lắng, hoài niệm về quá khứ: một ông lão đầu tóc bạc phơ trong Chim sáo ngày xưa. Ông có những nếp sinh hoạt theo một thói quen đặc biệt, kì lạ so với người ở chợ. Nhưng thói quen của ông đối với chim sáo cũng chỉ đơn giản là “người xa quê khi nghe tiếng chim sáo thì thấy quê hương đâu đó quanh mình”. Đó là một ông Hai Cu, một ông Phiêu có đôi mắt bỗng trở nên sáng quắc, tay chân trở nên nhanh nhẹn khi ai đó nhắc đến thú gác cu. Là một Tư Bốn, Bảy Bi siêu đẳng với nghề soi ếch. Và một tay Chín Đẹt cừ khôi trong việc đặt trúm, đặt lờ. Một Hai Miêu tinh xảo, kiên nhẫn trong nghề bẫy chim,... nhưng giờ họ cũng chỉ còn sót lại một tâm trạng chung duy nhất: đau xót cho những mất mát từ sự ưu đãi của thiên nhiên cho vùng đất xanh tươi của họ.

Nhóm người thứ hai là những con người có tính cách Nam Bộ: thẳng thắn, thật thà, chân chất; hào sảng, rộng rãi; nghèo khó nhưng lại sống có nghĩa có tình, có ước mơ cháy bỏng. Đó là anh Năm Dữ – một ông sếp giản dị, đến với mọi người bằng tính cách chan hòa, dễ gần và tình cảm gần như không gì ngăn cách. Phục sức thì giản tiện, có gì mặc nấy với…một móng chân nạm phèn vì làm thêm nghề nông để….giúp đỡ, cưu mang người nghèo khổ. Đó là ông Minh Lý – một ông bụt sống ở Gành Hào. Đó là anh Sang thẳng thắn, hề hà, nóng tính nhưng hiền lành, chất phác và lắm nỗi đau. Đó là gã khố chuối Nguyễn Văn Tân – một sinh viên mồ côi cha mẹ với cuộc đời lao đao lận đận nhưng có ước mơ cháy bỏng, và một anh Bình nuôi vịt chạy đồng gặp nhiều sóng gió, bấp bênh trên con đường mưu cầu cuộc sống dù chỉ là một cuộc sống đủ ăn đủ mặc. Bút kí Rẫy Chệt làm người đọc ấn tượng về một ông Năm Ẹo cao lêu nghêu, nước da nâu bóng, quanh năm suốt tháng chỉ vận duy nhất một bộ đồ, vẫn cởi trần cho dù nắng như đổ lửa nhưng lại là một ông người “Chệt” tốt bụng giúp đỡ dân làng dù tính tình hơi lập dị, khó khăn, xa cách….Và đâu đó còn sót lại là những kiếp sống nhỏ bé lênh đênh như con người trong Khách thương hồ, Nỗi niềm Vàm Lẽo và dân Xóm mồ côi,…Nhưng họ đã sống và đang sống, họ đang cố gắng đấu tranh với hoàn cảnh để sinh tồn bằng sự gắn bó, đùm bọc thương yêu, bằng cả sự thủy chung với đồng quê máu thịt. Họ làm ta ấm lên bởi tình yêu, đỡ đần lẫn nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn. Khách thương hồTết tản cư,…tất cả đều làm ta khắc khoải về những nếp sống gắn bó đã qua, làm ta thấy hạnh phúc lây bởi những con người ấy đã sống với nhau bằng tình thương yêu, kính trọng.

Dù chỉ là phần nhỏ nhưng một số con người hám lợi, tắc trách, nịnh hót, sống vô tình, vong ơn trong Việt kiều về quê làm ta nhận ra thêm một mặt trái về tình cảm của con người trong xã hội để rồi ta nhận ra rằng: “Tình cảm cũng giống như thịt, mỡ, cho quá liều và giả tạo cũng sẽ làm cho người ta ngán đến rùng mình.”

2.1.3. Mảng đề tài về người phụ nữ

Một đặc điểm nữa trong bút kí Phan Trung Nghĩa là sự khắc họa hình ảnh người phụ nữ. Người phụ nữ Nam bộ trong bút kí của ông xuất hiện với những tính cách và tâm hồn riêng biệt. Tập bút kí Đạo gác cu miệt vườn gây ấn tượng cho ta về một “Nguyệt khùng” giàu đức hy sinh, giàu lòng hiếu thảo với người mẹ bất hạnh, giàu tình thương yêu che chở với con mình: “Đã nhiều lần người Bạc Liêu chứng kiến rồi cảm động, hễ xin được món nào ngon là chị Nguyệt dành phần cho mẹ mình trước, rồi đến chia cho con và sau chót là phần ít ỏi dành cho mình. Mỗi lần mẹ hoặc con bệnh thì người ta thấy chị Nguyệt bỗng biến thành một con người khác, chẳng biết có sức mạnh tiềm tàng nào giúp chị rũ sạch khùng điên, đi ra sáng rỡ một phụ nữ đảm đang và đầy thương yêu.” (tr.160). Hơn thế nữa, cô Tư trong bút kí Còn nhớ má chiến sĩ gây nỗi ám ảnh cho ta về một người má chiến sĩ già nua mang những vết thương trong tâm hồn đang bị ngày đêm cào xé. Người đọc cảm thấy xót xa vì quy luật đào thải nghiệt ngã của thời kì kinh tế, một người phụ nữ suốt cuộc đời chỉ biết cống hiến bản thân mình, gia đình mình cho chiến tranh nhưng đến hoà bình chỉ còn lại thân xác già nua và tinh thần lú lẫn, còn lại là một nỗi đau thanh khiết và dữ dội…nhưng năm tháng thì vẫn cứ trôi qua, liệu còn ai nhớ, ai quên những bà mẹ ấy? Người phụ nữ trong bút kí của ông còn là hình ảnh những người mẹ, người chị, người em trong Nếp nhà xưa, trong Chái bếp nhà quê,…tất cả đã làm tác giả “sớm” nhận ra vai trò và địa vị người phụ nữ. Ông ngộ ra một điều: cái chái bếp chính là không gian của nhiều thế hệ phụ nữ nối tiếp nhau thắp nên một ngọn lửa tình cảm gia đình, làm nên cái hồn gia đình trong mỗi cuộc đời con người.

Đọc bút kí Phan Trung Nghĩa, ta nhận thấy có điều rất mâu thuẫn trong tình cảm của ông. Lúc thì khắc khoải về quá khứ, tiếc nuối những tháng ngày qua. Lúc thì nhắc lại chuỗi ngày cơ cực với một tâm trạng giằng xé đớn đau không muốn nhìn lại vì chiến tranh, nghèo khổ. Nhưng đó lại là một sự mâu thuẫn thống nhất. Bởi lẽ do một quy luật chung của tình cảm tâm lí con người: khi nghèo khổ thì ước mơ đuợc một cuộc sống khá hơn, còn đến khi sung sướng thì luôn hoài niệm và khắc khoải về chuỗi ngày cơ cực. Như tác giả đã nói: “Những năm tháng lớn lên, giữa cuộc sống bon chen và xa xỉ, tôi chợt thèm con cá lóc nướng trui ngày cũ và thèm một giấc ngủ xưa yên lành có giấc mơ chú cuội.”

2.2. Đặc điểm nghệ thuật

2.2.1. Sử dụng chất liệu dân gian

Xét về nghệ thuật, bút kí Phan Trung Nghĩa mang những đặc điểm nghệ thuật ảnh hưởng từ tính cách của nhà văn Nam Bộ. Bút kí của ông thường hay lồng những câu hát dân gian, những câu ca dao tục ngữ thật gần và cuốn hút bởi nó thêm mùi vị mới, thêm màu sắc trữ tình đặc trưng. Người đọc hẳn sẽ thích hoặc tò mò với những câu như:

+ Bạc Liêu ăn cá bỏ đầu

Sài Gòn thấy vậy xỏ xâu đem về

Hay những lời ca về con trâu trong Kí ức mục đồng làm ta thêm trân trọng con vật cần cù ấy, ta chợt hiểu rằng:

+ Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

Trong ba việc ấy thật là khó khăn

+ Chăn trâu là chúa mục đồng

Con gái chưa chồng là vợ chăn trâu

+ Con trâu có một hàm răng,

Ăn cỏ đất bằng uống nước bờ ao.

Hồi nào mầy sống mày ở với tao,

Bây giờ mầy chết tao cầm dao tao xẻ thịt mày …

Tác giả dùng ca dao để minh chứng cho vùng Nam Bộ nổi tiếng là vùng đồng chua, nước mặn và sơn lam chướng khí:

+ Chèo ghe sợ sấu cắn chưn

Lên bưng sợ đỉa xuống rừng sợ ma

Hay

+ Xứ nào ghê cho bằng xứ Cạnh Đền

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lền như bánh canh

Và lòng người đọc cũng trải ra với không gian lãng mạn, tâm hồn lãng du của những con người tha phương trong Khách thương hồ:

+ Đạo nào vui cho bằng đạo đi buôn

Xuống bể lên nguồn, gạo chợ nước sông

+ Ngồi buồn vọc nước ngắm trăng

Nước xao, trăng dợn biết rằng về đâu

Khúc du ca của người chăn vịt sẽ là luận chứng cho câu tục ngữ “muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt”, để khi thưởng thức nó ta còn biết mùi vị ngon của vịt còn có cả mồ hôi và nước mắt của người nuôi vịt chạy đồng.

2.2.2. Sử dụng kết cấu theo mô tip

Hầu hết bút kí Phan Trung Nghĩa có một mô tip như sau: đầu tiên, tác giả giới thiệu đặc sản của vùng Nam Bộ, đặc biệt là vùng Bán đảo Cà Mau trong một ngữ cảnh hiện tại thật thú vị và tò mò. Sau đó, tác giả cung cấp cho ta những kiến thức về sản vật, hệ sinh thái bằng dòng hoài niệm, cảm xúc miên man. Cấu trúc đó có khi sẽ là ngược lại. Cuối cùng là…làm ta tiếc nuối, như vừa bừng tỉnh bởi những lời “tố cáo” về sự tàn phá tài nguyên bằng những câu triết lí mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Mô hình kết cấu:


Giới thiệu đặc sản, những giá trị văn hóa

(trong một tình huống, ngữ cảnh thú vị)



Mô tả, tái hiện một cách chi tiết, cụ thể

và giàu cảm xúc



Đề cập đến hiện tại – sự mất mát hữu hình

và vô hình của những giá trị xưa



Đúc kết bằng một lời nhận xét mang tính triết lí nhân sinh sâu sắc và mới mẻ



Và dạng mô hình này xuất hiện khá nhiều trong hai tập bút kí, cụ thể:


Các tập bút kí

Số lần xuất hiện

Tỉ lệ (%)

Đạo gác cu miệt vườn

12/18

66.6%

Khách thương hồ

10/24

41.6%


Mặc dù kết cấu trên đã tạo nên phong cách của nhà văn trong thể loại bút kí nhưng nó vẫn có một số hạn chế. Những bài viết của ông có những đoạn kết thúc bằng lời văn tiếc nuối khi ta đọc thì cảm nhận được dòng cảm xúc thật, nhưng có một số bài mang giọng văn gượng gạo, giống như ông phải viết nó chỉ vì sự chi phối do mục đích, chủ ý của mình trong cách thể hiện suy nghĩ riêng. Chẳng hạn,“Tôi ngồi mà hối tiếc một “nét văn hóa chim chóc” ở miền Tây vừa mất đi” (Chim sáo ngày xưa, tr.17) ; “Tôi từ giã U Minh trong một tâm trạng buồn, cứ thấy hoài nhớ về một vùng“cầm thủy” đặc biệt của Nam Bộ và quý hiếm của thế giới vừa mất đi”. (Nỗi niềm U Minh Hạ, tr.78) ; “Cá kèo mất đi thì cũng sẽ mất đi một trong những vùng đất riêng của vùng đất này”. (Cá kèo nổi như mù u rụng, tr.66).

Và đây, những dòng thật cảm xúc: “Giờ đây chỉ còn lại trong kí ức tôi một cánh đồng xa xăm, ở đó đời người và trâu cứ bện chặt, vật vã để tạo ra những vụ mùa lưa thưa bông trái, nuôi nấng tôi phổng phao thành người.” (Ký ức mục đồng; tr.55) ; “Rời khỏi xóm mồ côi, từ giã ông già săn chim, tôi chạy xe một đoạn chừng hai cây số thì dừng lại rồi dõi mắt nhìn về phía biển. Ở đó, hoàng hôn đang phủ xuống làm tím bầm mặt biển và xám xịt rừng chồi. Gió chiều ở biển cứ vi vu làm cho người ta buồn đến xốn xang. Trước mắt tôi, cái xóm mồ côi nằm lạc lõng trông thật cô đơn giữa biển”. (Xóm mồ côi, tr.94) ; “Năm tháng cứ trôi nhanh, càng lúc càng xa thẳm, nhưng trong góc lòng tôi vẫn còn tươi nguyên một chái bếp lừng lững khói cơm chiều...” (Nếp nhà xưa, tr.164) ; “Tôi ngước nhìn lên bầu trời xanh của sáng mùng 4 Tết, bắt gặp một cánh én lạc loài đang vút bay giữa một mùa xuân buồn tẻ…” (Việt kiều về quê, tr.59).

2.2.3. Ngôn từ phong phú, đa dạng

Ngôn từ trong bút kí Phan Trung Nghĩa là ngôn từ đa dạng, phong phú về phong cách sử dụng. Tác giả sử dụng nhiều phép so sánh, ẩn dụ. Và từ ngữ của ông mang màu sắc người dân Nam Bộ bình dị, nhưng còn là lời của trí tuệ, của triết lí. Thỉnh thoảng những câu nói, những câu suy nghĩ, độc thoại của tác giả làm ta phải bật cười vì sự hài hước trong đó. Người đọc mỉm cười vì những câu như: “Cái anh gác cu này quả là lớn chuyện rồi” ; “Tôi nhiều lần bị đòn vì “thằng quỷ nhỏ” này ; “Khách đến nhà biết tánh ý đâu mà lựa, thôi thì cứ “đẩy” nguyên con vừa đẹp lòng nhau, vừa “đã” miệng, vừa xứng với “tầm vóc” xứ cá kèo” ; “Quý nhơn của dòng họ chúng tôi có hình dạng tròn như cái lu nước, mặt chần vần như cái mâm, hai gò má chảy xệ xuống tận vai, miệng thì tu hú như cái bình vôi”; “Thằng này láo toét, mày lừa ông, ông sẽ lột mặt nạ mày”,… . Đặc biệt có những đoạn ông miêu tả cuộc sống, nếp sinh hoạt của người dân Nam Bộ cùng những món ăn dân dã như: mắm đồng, ba khía muối, cá kèo, lươn um rau ngổ nước cốt dừa, vịt nặn đất sét nướng bằng đống rơm,…được khắc hoạ, hiện lên trước mắt người đọc rất rõ bằng một loại ngôn ngữ tạo hình, tạo vị làm ta thích thú và ao ước được nếm thử, trải nghiệm một lần. “Ông ướp sả ớt, gia vị khác rồi đưa thịt cu lên vĩ nướng, mỡ của chúng chảy xèo xèo, vàng ngậy” (Đạo gác cu miệt vườn, tr.40) ; “Nó cho con vịt vào nước muối ngâm, sau đó lấy đất sét nắn con vịt tròn vo như quả bóng rồi chất rơm lên đốt. Lửa rơm tàn, Bình lấy “quả bóng vịt” ra, và trước mắt tôi là một khối đất sét trắng và nứt nẻ. Bình gỡ đất ra, gỡ đến đâu không còn lông vịt đến đó và cuối cùng thì lòi ra một con vịt quay vàng ánh, tươm mỡ.” (Khúc du ca của người nuôi vịt, tr.95). Hay “Khi ông Hai tách cá ra thì ruột cá đã khô queo, không còn một tí máu và lửa chỉ làm cháy hết phần vảy cá, da cá vàng nghệ như heo quay (….) Ông Hai chặt mấy tàu lá chuối xanh trải lên mặt phản, một tàu chuối thì đặt cá, một tàu khác lại đặt dăm cọng rau cần nước, mấy đọt tầm giuộc. Lại có một đĩa mắm tôm, trên mặt đĩa có mấy trái ớt xanh, mấy lát gừng tươi dùng làm nước chấm cá nướng.” (Anh đi giăng câu, tr.98).

Qua cách dùng từ của tác giả, ta thấy được một tình cảm trong ông. Vì mỗi khi nói về những con vật ông hay nhân hóa chúng : “nó cứ đeo bám chúng tôi trên vai” hay “để lại con sáo nơi quê nhà cứ đứng ngẩn ngơ”. (Chim sáo ngày xưa, tr.11). “Tuy nó chậm chạp nhưng hiền lành và nhẫn nại vô cùng (…) và dù có cày quá buổi nó vẫn dẻo dai “mang ách”, chẳng bao giờ “vặn nài bẻ ống”. Ngược lại với phong cách cha mẹ, con ngựa tơ thì lất khất và xạo xự (…) tôi nhiều lần bị đòn vì “thằng quỷ nhỏ” này (…). Thế nhưng nó hoàn toàn khuất phục trước cách xài trâu quyết liệt của anh Ba tôi”. (Kí ức mục đồng, tr.48).

Hoặc ta thường bắt gặp những từ ngữ dẫn dòng cảm xúc miên man : Ở quê tôi, ở làng tôi, ở xóm tôi,…. Những từ ngữ ấy như một chất “xúc tác” khiến người đọc thả trôi tâm hồn theo hồi ức của tác giả. Tuy nhiên, có những khuôn mẫu lại bộc lộ những nhược điểm của nó. Có lẽ do kỉ niệm vẫn vẹn nguyên nên có những từ, những chi tiết cứ lặp đi lặp lại trong nhiều bài viết. Bạn đọc hay bắt gặp hạn chế đó trong các tác phẩm của Phan Trung Nghĩa, như: thời đại tân kì, đồng chó ngáp, mất đi, mùa sa mưa; một cánh chim lạc loài, nuôi nấng tôi phổng phao thành người, giấc ngủ huyền hoặc, cánh đồng trái tính trái nết…. Mặt khác, đề tài Nam Bộ được Phan Trung Nghĩa khai thác khá nhiều nên khi xem liền mạch các tác phẩm trong cùng một tập bút kí, người đọc sẽ dễ bị nhàm chán mặc dù họ có thể xâu chuỗi được kí ức và cảm nhận được tình cảm của nhà văn; những kiến thức về đề tài Nam Bộ. Bên cạnh đó, dù ít hay nhiều thì ông cũng bị chi phối bởi những nhược điểm trong nghề báo: bút kí nặng tính chất thời sự mà ít tính cảm xúc, biến hoá, thăng hoa. Mặt khác, viết báo là viết cho nhiều đối tượng, nhiều tầng lớp tiếp nhận nên ít khi Phan Trung Nghĩa sử dụng những từ ngữ mang tính chất lí tính, có chiều sâu. Có những từ ngữ trong bút ký Phan Trung Nghĩa còn thô mộc, lấm láp bùn đất chân quê, ít được trau chuốt, gọt dũa để sắc sảo hơn. Nhưng cần phải nhận thấy rằng Phan Trung Nghĩa có những tìm tòi phát hiện, đào sâu tính cách, tâm lí nhân vật. Ông có cách nhìn nhận và đánh giá một con người thật khi viết thể loại bút kí. Đó là tâm lí, tính cách của chị Nguyệt (Tình “ Nguyệt khùng”), hình ảnh của cô Tư trong Còn nhớ má chiến sĩ, và chị Tư Hên của Một người chị ở quê,… Và tuy viết về người thật việc thật nhưng ông cũng có cách xây dựng hình tượng nhân vật mang chút hư cấu. Nghệ thuật miêu tả và kể chuyện trong bút ký Phan Trung Nghĩa gây sức hút cho tác phẩm. Đồng thời nghệ thuật xử lí chi tiết và chất liệu trong văn ông, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, đã tạo nên một sự gần gũi giữa văn và cuộc sống.

3. Kết luận

Với Phan Trung Nghĩa, văn và đời là một. Văn ông đến với bạn đọc bằng tình cảm chân thành, bằng sự trải nghiệm. Văn ông đã tạo nên niềm đồng cảm cho bạn đọc. Quê hương Bạc Liêu đã nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn Phan Trung Nghĩa và tạo cho con người cùng cuộc sống trong tác phẩm của ông có một cá tính và sức hút ngầm…


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, 1987. Lý luận văn học, tập II. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

2. Phan Trung Nghĩa,1999. Tập bút kí Đạo gác cu miệt vườn. Nhà xuất bản Hội văn học - nghệ thuật Bạc Liêu, 181 trang.

3. Phan Trung Nghĩa, 2009. Tập bút kí Khách thương hồ. Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam, 172 trang.

4. Huỳnh Thanh Diệu, 1997. Nhà văn Phan Trung Nghĩa - ngọn đuốc lá dừa miền cuối đất. Báo Thanh niên chủ nhật.

5. Nguyễn Đình Hiên, 1998. Vài nét phác thảo về một nhà báo trẻ. Tạp chí Dạ cổ hoài lang (Bạc Liêu) số Xuân 1998: 18.

6.Nguyễn Văn Khanh, 2010. Bài phỏng vấn nhà văn Phan Trung Nghĩa. Tạp chí Dạ cổ hoài lang (Bạc Liêu).

7. Nguyễn Hữu Hồng Minh, 2010. Giới thiệu: Khách thương hồ - bút kí Phan Trung Nghĩa. Báo Thanh niên Thể thao giải trí số 142 (447).

8. Đàm Thị Ngọc Thơ, 1995. Cái nhân cái nghĩa trong Hương cau - tập truyện ngắn của Phan Trung Nghĩa. Báo Văn nghệ Minh Hải.

9. Nguyễn Trọng Tín, 2003. Nhà văn Phan Trung Nghĩa trong cuộc tìm kiếm chính mình. Tạp chí Dạ cổ hoài lang (Bạc Liêu) số Xuân Quý Mùi 2003: 26 - 27.

Cập nhật ( 21/01/2012 )
 
< Trước   Tiếp >
TRANG WEB GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BẠC LIÊU Số 166 Bản ra thường kỳ năm 01/02/2017 - Phật lịch 2560

Các danh mục khác

Thăm dò ý kiến

Google đánh giá

Google Page Rank
Powered by: Viet IT

Alexa xếp hạng

Statistics

OS: Linux v
PHP: 5.4.45
MySQL: 5.5.47
Thời gian: 11:43
Caching: Enabled
GZIP: Disabled
Thành viên: 5
Tin tức: 4014
Liên kết web: 0

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online