Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Rừng và động thực vật ở Bạc Liêu (Trần Văn Chánh)
Rừng và động thực vật ở Bạc Liêu (Trần Văn Chánh) PDF In E-mail
Người viết: Trần Văn Chánh   
21/01/2012

RỪNG VÀ ĐỘNG THỰC VẬT RỪNG Ở BẠC LIÊU MỘT THẾ KỶ TRƯỚC

* Trần Văn Chánh

Năm ngoái, biết tôi là người Bạc Liêu, anh Nguyễn Duy Chính (một nhà dịch thuật và nghiên cứu cổ sử ở Hoa Kỳ) có sưu tầm và gởi tặng tôi bản chụp một tài liệu cũ về tỉnh Bạc Liêu mang tên Monographie de la Province de Baclieu (Bản chuyên khảo về tỉnh Bạc Liêu). Sách của tác giả Louis Girerd viết bằng tiếng Pháp, do nhà Imprimerie de l’Union Nguyên-Van-Cua ấn hành tại Sài Gòn năm 1925. Nội dung tuy còn sơ lược, vì chỉ để dùng cho học trò các trường như đã ghi ở trang bìa giả (“A l’usage des élèves”), nhưng cuốn sách này vẫn đáng chú ý ở chỗ nó là một trong những tài liệu thuộc loại quý hiếm, chứa đựng một số thông tin quan trọng tương đương với một địa phương chí về tỉnh Bạc Liêu cũ.

 Sách xuất bản năm 1925, nhưng các sự kiện và số liệu chắc chắn phải được điều tra, ghi nhận trước đó ít nhất cũng 5-10 năm, nên chúng ta có thể coi những gì được ghi chép trong đây là phản ảnh khá trung thực điều kiện địa lý tự nhiên cũng như tình hình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bạc Liêu cách nay khoảng 100 năm.

Cuốn sách nêu trên với tổng cộng 38 trang khổ lớn, kèm 3 bản đồ (hình thể, kinh tế, hành chính) đã lần lượt trình bày một số nội dung y như một địa phương chí, từ sơ lược lịch sử đến nguồn gốc, vị trí, thổ nhưỡng, khí hậu, bờ biển, sông ngòi, kênh đào, đường sá, tài nguyên (rừng rậm, động thực vật, tôm cá…), dân số, chợ búa, cơ quan hành chính, cho đến những mục thông thường khác như nông nghiệp (ruộng lúa, ruộng muối), công nghiệp, thương mại…

Ngày nay khi đọc lại cuốn sách nhỏ này, chúng ta có thể biết, chẳng hạn về dân số, Bạc Liêu lúc đó chỉ có 180.000 dân gồm 135.000 người Việt, 25.000 người Khmer, 11.000 người Minh Hương và 9.000 người Hoa (xem trang 31)…Ngoài ra, cũng qua sách này, chúng ta còn nhận thấy thêm chương trình giáo dục thời xưa là rất hợp lý, trong việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về địa phương và quê hương mình.

Tôi đã gởi tặng cuốn sách nêu trên cho Thư viện tỉnh Bạc Liêu một bản (chuyển qua email cho Trần Kim Bạ, nhân viên thư viện), và trong khi chờ cơ hội khai thác, dịch ra tiếng Việt để nhiều người sử dụng, trước mắt xin trích dịch mấy trang ghi chép về rừng và động thực vật rừng ở Bạc Liêu khoảng một thế kỷ trước, để ngày nay xem lại, đối chiếu với hiện tại, chúng ta có thể hiểu được thực trạng của việc phá rừng và bảo vệ rừng từ xưa tới nay đã diễn ra đại khái như thế nào.

Nên nhớ, địa giới của tỉnh Bạc Liêu ở giai đoạn 1925 là bao gồm cả tỉnh Cà Mau bây giờ, và theo chính tài liệu nêu trên ghi chép thì phía bắc nó giáp với tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Rạch Giá, phía tây giáp với Vịnh Thái Lan, phía nam và đông giáp với biển Trung Hoa (tức biển Đông). Diện tích toàn tỉnh bấy giờ khoảng 720.000 hecta, chia làm 2 phần: phần phía đông của tỉnh bao gồm hai vùng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng; phần còn lại là Cà Mau, được mô tả là một “vùng đầm lầy mênh mông” (un vaste marais)…

Phần dưới đây là đoạn trích dịch riêng về rừng và động thực vật rừng của tỉnh Bạc Liêu, từ trang 21 đến giữa trang 24 (lược bỏ bớt trang 22 nói về các gia súc). Trong sách gốc, chỗ nào tên một số loài động thực vật được ghi thẳng bằng tiếng Việt và viết nghiêng thì tôi vẫn giữ nguyên trong bản dịch.

***

Rừng trải dài trên một phần quan trọng của tỉnh Bạc Liêu, nhất là về hướng Tây và Nam các khu rừng chiếm diện tích hơn 475.000 hecta tức hơn phân nửa tổng diện tích của toàn tỉnh.

Để bảo vệ những rừng này, nhà cầm quyền Pháp đã tạo ra các khu bảo tồn không cho các tiều phu được chặt đốn một vài loài cây gỗ. Khắp những nơi khác còn lại là rừng tự do, và trong những khu rừng tự do này người ta có thể đốn tất cả những cây gỗ có những kích thước xác định.

Các khu bảo tồn rừng bao phủ một tổng diện tích vào khoảng 190.000 hecta. Gồm tất cả 9 khu, ở: Thới Bình, Cái Tàu, Khánh An, Tân Hưng, Hưng Mỹ, Cái Ngay, Tân Thuận, Tân An và Viễn An1.

Những loài cây chính gồm có: tràm, hầu như gặp ở khắp nơi và được dùng làm gỗ xây dựng và chất đốt; cây già2 ít phổ biến hơn, được dùng làm những cái cong3 còn vỏ của chúng được bán lên Chợ Lớn để thuộc da và nhuộm lưới giúp cho lưới không bị mục nát; cây cóc, cây vẹt dùng làm những cái cong và sườn nhà; cây đước có kích thước lớn hơn hai loài vừa kể, với gỗ cứng, chủ yếu dùng để làm than củi, và làm răng cho những cối xay, vỏ cũng dùng thuộc da; là loài cây có gỗ màu đỏ nhạt ít phổ biến, dùng làm cột nhà; cây mắm và cây gừa chủ yếu dùng làm củi đốt; cây giá có kích thước trung bình, gỗ mềm, hơi xốp nhưng không bị mục trong đất, người ta dùng để làm cọc cho những cái cong; sau cùng vài loài thuộc họ Cau dừa như chà là thân có gai dùng làm sườn nhà tranh (nhà lá) còn bắp của nó vào khoảng tháng sáu-tháng bảy trong năm cho ra những con đuông chà là (ver palmiste); loài cọ có kích thước cỡ lớn, thân dùng làm những bức hoành trên có khắc những chữ Hán.

Rừng ở tỉnh Bạc liêu rất thường bị ngập nước và khó khai thác; chúng biến mất dần do việc khẩn hoang để dành chỗ cho những ruộng lúa.

Tỉnh Bạc Liêu do có diện tích rừng rộng lớn nên cũng có nhiều động vật rừng. Người ta tìm gặp ở đây cọp (hổ), beo (báo), mèo đốm (chat tigré), lợn lòi (heo rừng), hươu nai, hầu như có khắp trong các khu rừng ở Cà Mau. Thời trước ở đây còn có cả voi nữa, nhưng nay (đầu thế kỷ 20 – TVC) thì hầu như đã biến mất hoàn toàn4.

Người ta còn gặp những giống khỉ như khỉ thường, con lọ nồi mà lông trắng nhạt hoặc xám nhạt của nó được điểm lốm đốm một phần màu đen; các giống chồn (cáo) thuộc nhiều loài khác nhau như chồn cáo cọc có bộ lông giống như lông báo (beo), chồn mướp hay chồn leo (renard grimpeur) tỏa ra mùi xạ hương, chồn đèn sống trong những bụi cây, những con sóc lông xám chủ yếu sống bằng nước dừa, dơi thân mình nhỏ nhắn với bộ lông đỏ nhạt, sống trong các bụi cây, ngoài ra còn có thỏ (lièvre) và nhông (iguane).

Người ta còn tìm thấy nhiều rắn như rắn hổ dài5 sống dưới đất; rắn hổ mây rất dài và rất đáng sợ, nhưng hiếm; rắn mái gầm mình dẹt bên, có sọc đen và vàng, cả ba loài nêu trên đều có nọc độc; rắn trung6 có dạng gần như hình trụ, với thân mình đầy những vạch đen, và người ta cho rằng nó cắn bằng đầu rồi phun nọc độc ra ở đằng đuôi; rắn lục hiền lành khi đang ở màu xanh, có nọc độc nếu đuôi màu đỏ; rắn nước vô hại, còn trăn thì bị người ta ăn thịt.

Ở đây, còn có những giống cá sấu (crocodiles), như con sấu sống trong những sông ngòi; sấu cá nhỏ hơn, sống trong các ao vũng; những con rái cá (loutres) sống trong vùng gần các sông ngòi…

Cuối cùng người ta còn tìm thấy nhiều giống chim như bồ nông (pélican), cò già (marabout), cò ngàng (aigrette), mòng két (sarcelle), vịt trời (canard sauvage), chim lặn (plongeon), chim dẽ giun (bécassine), chim bòng chanh (martin-pêcheur), chim xít (poule sultane), quạ (corbeau), diệc (héron) và nhiều loài chim sẻ.

Những bãi săn bắn tuyệt hảo được tìm thấy trong các vùng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng, và trong những vùng khác như Long Thủy, Quản Xuyên và Quản Long.

Bản đồ hình thể tỉnh Bạc Liêu theo Monographie de la Province de Baclieu (tr. 6)


Chú thích:

1. Có lẽ là Viên An.

2. Cũng viết . Theo Từ điển Thực vật Thông dụng (tập 1) của Võ Văn Chi thì cây có tên khoa học là Ceriops decandra, thuộc họ Đước. Đây là loài cây nhỡ cao 8-10 m hay hơn, phân bố ở Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, New Guinea, Campuchia và Việt Nam.

3. Cái cong, chưa nhận ra là cái gì. Có thể là cái cống chăng?

4. Hiện nay một số loài như cọp, beo đã không còn tồn tại trong các khu rừng ở Bạc Liêu và Cà Mau (có thể xem Vườn quốc gia U Minh Thượng- Sự phục hồi sau cháy rừng mùa khô 2002 của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ, NXB Nông Nghiệp TP. HCM, 2005).

5. Có lẽ là rắn hổ đất (do in nhầm).

6. Cũng viết rắn trun.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !