Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow VUI ĐÊM TRĂNG SÁNG (Nguyễn Hữu Hiệp)
VUI ĐÊM TRĂNG SÁNG (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
15/09/2008

VUI ĐÊM TRĂNG SÁNG

* Nguyễn Hữu Hiệp

Chiếc đèn lồng, trước tiên có lẽ không là sản phẩm của giới bình dân nhằm mục đích soi sáng cho sinh hoạt của người lao động, nhất là ở nông thôn. Vì trước khi có đèn, người ta đã biết dùng đuốc, ngay ở chốn cung đình cũng vẫn vậy (gọi đình liệu). Ngày trước có thể nói, muốn chắn gió cho đèn khỏi tắt, chỉ có giấy và vải là hai vật liệu chủ yếu, hạng dân nghèo làm gì có được những thứ ấy. Cho nên, cũng vẫn với mục đích soi sáng, chiếc đèn lồng xuất hiện đầu tiên có lẽ là sản phẩm của những nhà trâm anh thế phiệt, là vật để trang trí nội thất, trước hết nhằm làm đẹp mắt các tiểu thơ ở chốn kín cổng cao tường, nhưng cũng không nhiều, ngoại trừ ở những ngôi nhà mà chủ nhân của nó thuộc giới thượng lưu, hoặc quyền thế, ăn chơi phóng đảng theo kiểu Tây Môn Khánh (trong Kim Bình Mai) bên Tàu, mới dám giăng mắc đèn lồng cùng đường cuối ngõ.

Tây Môn Khánh chơi sang thật, nhưng chưa nhất. Vừa sang vừa nhất trong môn chơi này chắc Tàu phải thua ta, bởi vào thời Lê đã có chuyện kể rằng, trước tết Trung thu độ vài tháng, chúa Tĩnh vương truyền lấy gấm trong kho giao cho các cung nữ làm hàng trăm nghìn chiếc đèn lồng cực kỳ tinh xảo (mỗi chiếc đáng giá đến vài chục lạng bạc!) để kịp phục vụ đêm vui theo ý chúa – sẽ được tổ chức tại Bắc cung (quanh ao Long Trì) nơi mà chúa đã tung ra không biết bao nhiêu tiền của để huy động hàng nghìn nghệ nhân và dân phu làm việc cật lực thâu đêm suốt sáng trong ngót mấy tháng liền để bài trí một cảnh quan cực kỳ đẹp mắt với những lối mòn đi ngang về tắt, đá núi chất chồng, tạo khe vũng nối liền hàng chục hòn giả sơn. Khắp chốn đều được điểm xuyết bởi muôn nghìn đóa phù dung, nghiêng mình khoe sắc như cười cợt với hàng trăm nghìn chiếc đèn lồng giăng mắc đều khắp phía trên, ánh sáng soi xuống nước lấp lánh như muôn ngàn ngôi sao hớn hở đến với đêm hội Long Trì.

Để cuộc vui được trọn vẹn, số người dự phải là quan nội thị từ tam phẩm trở lên, số còn lại đều là cung nữ. Ai nấy cũng chít khăn, và đặc biệt là đều mặc áo đàn bà, giả làm kẻ mua người bán với đủ loại hàng hóa trong Nam ngoài Bắc, không thiếu thứ gì, chất cao như núi. Do đã được cho đi thâm nhập thực tế từ lâu, nên nay ai nấy phải dùng toàn ngôn ngữ của người bình dân để dựng thành một hoạt cảnh náo nhiệt chợ búa, vừa nhộn nhịp vừa hỗn độn của đời thường, nghĩa là phải biết mua giành bán giựt, cố tạo ra những vụ gây cãi, rượt đuổi, nhưng với tinh thần trêu cợt, nô đùa vui vẻ.

Khoảng nửa đêm chúa ngự kiệu đến nơi, xuống thuyền rồng, các quan hầu và phi tần bơi thuyền theo, lượn qua lượn lại, đàn hát và gõ nhịp khua từ ván thuyền, hòa cùng tiếng  sáo, tiếng hát vút cao, tưởng chừng như một khúc nhạc trời trên cung Quảng. Chúa ngắm cảnh, rất hài lòng, mãi vui cho đến gà gáy sáng mới trở về cung.

Trong vương phủ, những cuộc vui như vậy được tổ chức hàng năm, thì bên ngoài dân gian cũng không thể không hưởng ứng. Cho nên cứ đến trung thu, hầu như mọi người, mọi nhà đều thi nhau làm đèn treo ở cửa.

 

Nói đến chơi đèn người ta liên tưởng ngay đến đèn tiến sĩ, bởi đó là những chiếc đèn kéo quân rất đẹp, và cũng rất sinh động. Trẻ con thấy những chiếc đèn ấy chúng kéo nhau đến nhìn ngắm thỏa thích, bèn vòi vỉnh cha mẹ làm cho đèn lồng để mang đi khoe với chúng bạn. Nhưng đèn kéo quân không tiện mang đi, do đó họ đã sáng tạo nhiều kiểu dáng khác, phần lớn đều mang hình con vật quen thuộc như cá chép, sư tử, thỏ, voi, nai, ngựa …, dần dần các bậc phụ huynh sáng tạo thêm mẫu đèn tiến sĩ, cũng để vui chơi nhưng có thêm ý hướng giáo dục. Đó là những chiếc đèn tạo hình một ông tiến sĩ – người đỗ đạt học vị cao nhất, vinh hiển nhất – gương mặt thư sinh, vừa sáng sủa tinh anh, vừa trang nghiêm chễm chệ, với nào là áo, mão, tàn, lọng thật uy nghiêm… tạo cảm giác tác động ước mơ trở thành tiến sĩ, thật gần gũi như chỉ trong tầm tay mà các em đang cầm lấy! Chiếc đèn tiến sĩ được cả người lớn và trẻ con ham thích nên đã nhanh chóng lan truyền khắp từ kinh thành đến tận những miền thôn dã.

Cho đến khi “Cái học nhà nho đã hỏng rồi” thì những chiếc đèn tiến sĩ ấy trở thành đề tài nhức nhối của những người hằng lo nghĩ đến tiền đồ văn hóa – xã hội, mà trước hết, những nhà thơ châm biếm không thể không lấy đó để làm đề tài thi vịnh. Tiêu biểu là hai nhà thơ Trần Tế Xương (1870 – 1907), và Nguyễn Khuyến (1835 – 1909):

Ông đỗ khoa này ở xứ nao?

 Thế mà hoa hốt với trâm bào!

Mười năm, mỗi tết Trung thu thấy,

Chán mắt cho nên chẳng muốn chào!

 (Trần Tế Xương, Tiến sĩ giấy)

 

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh thế mới hời.

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi.

(Nguyễn Khuyến)

Đặc biệt, đèn Trung Thu của các em ở miền Nam tuy rất phong phú và đa dạng, nhưng không hề thấy có đèn tiến sĩ. Lý do khá dễ hiểu, bởi ngoài một số rất ít thầy đồ biết đến danh từ tiến sĩ qua sách vở, thì có thể nói không ai có vinh hạnh được thấy mặt mày ông tiến sĩ bao giờ (hình ảnh lúc vinh quy bái tổ). Không thấy thì làm sao tạo hình được! Và như chúng ta đều đã biết, cho đến năm Bính Tuất (1826) đời Minh Mạng, ông Phan Thanh Giản (1796 – 1867) mới là người đầu tiên của Nam Kỳ được chấm đậu tiến sĩ (đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân). Chuyện hi hữu, ít người biết (huống chi thấy!).

Chiếc đèn lồng hẳn đã có từ rất lâu đời, nhưng chuyện thiếu nhi xách đèn đi chơi thành từng đoàn, kết hợp với lời ca tiếng hát nhịp nhàng trong đêm Trung thu, chính là một cuộc sáng tạo được “trích ngang” từ những cuộc vui trong đêm hội Long Trì nói trên (thông qua sự hưởng ứng của nhiều thế hệ người lớn và “chuyển giao” lại). Rõ ràng, chính các em đã tự tạo sắc thái chơi tết riêng cho lứa tuổi mình – một cái tết mà trước đó chỉ có người lớn mới thấy lòng rộn rã, bày ra mâm trà, mâm rượu để chuyện trò, tận hưởng cái thú êm đềm thơ mộng đầy quyến rủ của cả một không gian trăng thanh gió mát.

Trăng thu sáng vằng vặc chan hòa khắp nẻo. Ánh trăng không phân địa giới, cũng chẳng luận sang hèn. Các em vui tết trung thu vô tư như trăng. Vì vậy, cho dù tác giả có quan tâm, soạn bài hát riêng cho “thiếu nhi chợ”, “thiếu nhi vườn” nhưng các em không hề phân biệt! Các em ở chợ cũng nghĩ con đường làng là chính quê hương của mình, nên vẫn hát:

Thùng thình thùng thình,

Trống rộn ràng ngoài đình,

Có con sư tử,

Vui múa quanh vòng quanh,

Trung thu liên hoan,

Trăng sáng ngập đường làng,

Đòan em cất tiếng hát vang…

Cũng vậy ở vườn các em vẫn hồn nhiên, nghĩ phố phường như chính là nơi chôn nhau cắt rún của mình, nên luôn miệng hát nghêu ngao:

Tết Trung thu em đốt đèn đi chơi,

Em đốt đèn đi khắp phố phường…

Xuân thu nhị kỳ. Nếu Tết Nguyên đán là tết của mùa hoa thì tết Trung thu chính là tết của mùa sai quả. “Đơm hoa kết trái” là lý sinh tồn của vạn vật, do vậy tết Trung thu vẫn mãi mãi là ngày hội truyền thống đầy bản sắc văn hóa của dân tộc, và cũng đầy tính sáng tạo của các em tuổi nhỏ Việt Nam./.                                                     

Cập nhật ( 30/11/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online